Người con gái của di tản:
 

T́m ra cô gái mang tên chiến thuyền USS Kirk
 


Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên lúc 4 tháng,
trong ṿng tay mẹ Nguyễn Thị Tường Lan. (H́nh gia đ́nh)

 

 

Em bé Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên được 10 ngày,
thấp thoáng phía sau là trại Guam. (H́nh gia đ́nh)

 

 

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên hôm nay.
 


Tấm h́nh trung sĩ Donald Cox trao cho bà Nguyễn Thị Lan
với tên và địa chỉ bạn gái ở Mỹ để liên lạc, tới nay bà Lan vẫn c̣n giữ.

 

 

Cô sinh viên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên trong ngày tốt nghiệp cử nhân
đại học California State University, Long Beach, với em trai James Trần. (H́nh gia đ́nh)

 


Vũ Quí Hạo Nhiên


WESTMINSTER, California - “Chuyến tàu rất là tốt với người tỵ nạn Việt Nam ḿnh,” bà Nguyễn Thị Tường Lan nhớ lại về chiến thuyền USS Kirk, đă đưa gia đ́nh bà, lúc đó chỉ là một thiếu nữ trẻ mang bầu, đến bến tự do.

Ba mươi năm sau, con gái của bà Lan đă là mục tiêu t́m kiếm suốt nhiều tháng của các cựu thủy thủ chiến thuyền USS Kirk. Họ biết rằng đă có một thiếu nữ sau khi được cứu trên đường di tản đă đặt tên “Kirk” trong tên con gái ḿnh. Sau khi báo Người Việt đăng bài phóng sự về các cựu thủy thủ Mỹ t́m cô gái mang tên “
Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên,” bà Lan đă nhận ra câu chuyện của chính ḿnh và bắt liên lạc được với những người ân nhân cũ.

Ông Jim Bongaard, một cựu thủy thủ đă về hưu với cấp bậc trung sĩ, vui mừng: “Chúng tôi t́m cô gái 'Kirk baby' cả mấy tháng trời, in tờ rơi, nhờ người dịch ra tiếng Việt, gửi email khắp nơi. Chúng tôi cũng định vào cả kho dữ liệu của Sở Di Trú. Nhưng nhờ bài phóng sự trên báo Người Việt, mẹ của 'Kirk baby' đă liên lạc với chúng tôi.”

Thoát vào phút chót

Đường di tản của cô thiếu nữ tên Lan đă không đơn giản. Mặc dù chồng cô, trong những tháng cuối cùng, là một phi công thuộc phi đoàn đưa đón các VIP và đóng trong Tân Sơn Nhứt, nhưng cô Lan đă không được dễ dàng lên máy bay rồi đi, mà cuộc di tản của cô Lan cũng gian truân không thua các cuộc di tản khác của người Việt Nam lúc bấy giờ.

Đến 9, 10 giờ đêm ngày 29 tháng Tư, 1975, cô Lan vẫn c̣n ở nhà. Trong phi trường bị pháo kích nhiều quá, cô đă dọn qua nhà một người họ hàng là một bác sĩ dân biểu. Người chồng gọi về giục gia đ́nh đi. Mẹ cô Lan cũng quyết định, “Thôi, đi!”

Gia đ́nh cô Lan lúc bấy giờ đă chung sẵn tàu ở Tân Thuận Đông, nhưng không có cách nào ra đó cả. Bấy giờ, Sài G̣n đă loạn. Các Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và sau đó là Trần Văn Hương đều đă từ chức. Tân tổng thống Dương Văn Minh mới nhậm chức được một ngày và không ai thấy có hy vọng ǵ cứu văn t́nh h́nh. Xuân Lộc đă thất thủ trước đó một tuần. Các tuyến pḥng thủ cuối cùng quanh Sài G̣n đă bị chọc thủng.

May thay, lúc bấy giờ, người tài xế của ông dân biểu chủ nhà, sau khi chở ông đi di tản, lại quay về nhà ḿnh, và không quên ghé qua nhà ông dân biểu trao ch́a khóa! Mẹ con cô Lan nhân dịp đó nhờ ông tài xế chở ra bến tàu. Ông chở ra thật.

Nhưng được chở ra bến tàu vẫn chưa có nghĩa là đi được. Khi mẹ con đến nơi, cổng bến tàu đă bị chặn lại. Hàng rào kẽm gai chặn không cho xe đi qua.

Đang nấn ná đứng chờ th́ một đoàn xe của một vị tướng nào đó cũng đến để lên tàu di tản, “người ta mở rào cho đoàn xe ông tướng, thế là tài xế xe ḿnh cũng lẻn vô luôn,” bà Lan nhớ lại.

Đó là mới vào được cổng, c̣n tàu lớn th́ đă rời khỏi bến, tuy chưa đi. V́ một lư do ǵ đó, tàu c̣n đứng lững lờ bên kia kênh. Thấy tàu đó, mà không lên được.

Trong lúc đang tuyệt vọng, hai mẹ con gặp một nhóm Nhân Dân Tự Vệ. Họ đồng ư cho mướn tàu nhỏ để ra tới tàu lớn, “bao nhiêu cũng được.” Nói là thế, nhưng họ giựt lấy túi đồ trên tay ông tài xế, cướp hết tiền bạc và nữ trang. Tàu lúc đó bỗng dưng tự tiến sang bên này sông, và người nhà trên tàu nhận ra hai mẹ con đón lên. Bước lên tàu, bà Lan kể với Người Việt, “lúc đó không c̣n dép đi chân.”

Lên tàu lớn, lúc đó mới biết v́ sao tàu c̣n vẩn vơ tại chỗ: Từ hôm 28 tháng Tư, tàu bị thủy triều dâng cao, nên chui không lọt gầm Cầu Chữ Y. Lúc mẹ con cô Lan lên tàu, bỗng dưng thủy triều xuống, tàu mới khởi hành. “Lúc đó ḿnh c̣n trẻ lắm, mà lại có bầu sắp sanh, cả tàu đều nói Lan hên quá, chắc tàu chờ cô này,” bà Lan kể. Và thế, con tàu ra khơi, chính người di tản tự lo cho con tàu đi, v́ thủy thủ, hạm trưởng, hạm phó đă đi đâu hết rồi.

Gặp tàu Kirk

Trong khi Sài G̣n đang náo loạn, ở ngoài khơi Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ đang có nhiều tàu chiến neo sẵn. Trong số đó, có chiếc khu trục hạm USS Kirk FF1087
(chữ “FF” viết tắt “fast frigate”). Thuyền trưởng USS Kirk khi đó là trung tá Paul H. Jacobs, sau này về hưu với cấp bậc đại tá. Ông kể với Người Việt:

“Thời gian cuối tháng Tư, bắt đầu từ khoảng ngày 25, chúng tôi thả neo ngay cửa sông, cách Sài G̣n có 5000 mét. Nhiệm vụ của chúng tôi là hỗ trợ hỏa lực cho Ṭa Đại sứ Mỹ nếu cần.”

Chiếc tàu chở mẹ con cô Lan, ra tới cửa sông, gặp ngay tàu USS Kirk. Cùng lúc đó, trực thăng chở người di tản cũng tấp nập bay ra khơi, khá nhiều chiếc đậu xuống tàu USS Kirk. Thuyền trưởng Jacobs: “
Có người bay ra trên một trực thăng, đến chiếc trực thăng sau đó tới th́ lại muốn trở về. Tâm trạng người ta lúc đó cũng hoang mang lắm. Trên chiếc trực thăng đầu tiên là một ông Thiếu Tướng. Tôi nhường giường tôi cho ông ấy, ông ta mệt lử ngủ 3 ngày sau mới dậy.”

Chiếc USS Kirk th́ lớn quá, mà tàu di tản th́ nhỏ, không đến gần được. Thay v́ chuyển thẳng lên tàu USS Kirk, đoàn người chuyển qua chiếc Lư Thường Kiệt, một tàu chiến của Hải Quân Việt Nam.

Cô Lan được đưa vào pḥng bệnh. Một người thông dịch cho biết tàu Mỹ muốn đón người bệnh và các sản phụ trên 7 tháng, nhưng cô Lan không chịu đi.
“Lúc đó tôi chỉ có mẹ, tôi không chịu đi một ḿnh. Sau cùng người ta đồng ư cho mẹ theo, hai mẹ con mới đi,” bà Lan kể.

Trời tối đen như mực, Lan nằm vào giỏ lớn của U.S. Navy rồi người ta cột dây tḥng cô xuống canô. Qua tàu Mỹ, ṛng rọc bốc cô lên. Lúc đó đă qua ngày 30 tháng Tư.

Donald Cox

Lên tàu Kirk, cô Lan lại vô bệnh xá. Mỗi ngày, cô lên boong cho thoáng. Cũng mỗi ngày, thuyền trưởng Jacobs vào thăm các sản phụ và giục đùa họ sanh cho mau, cho chiến hạm USS Kirk có một đứa con. Nằm bệnh xá một vài giờ, v́ chưa sanh Lan được chuyển vào pḥng VIP cùng với các gia đ́nh sản phụ Việt Nam khác.

Trên chiếc Kirk, cô Lan gặp một quân nhân tên Donald Cox. Cox là một thành viên phi đoàn trực thăng, chẳng may trực thăng hỏng, không nhận nhiệm vụ bay nữa, nên được giao việc giúp người tỵ nạn.

Khi đó, Donald Cox là một thanh niên 20 tuổi. Ông kể lại với Người Việt,
“Nhiệm vụ của tôi lúc đó là tháp tùng người tỵ nạn khi người ta cần đi đây đi đó trên tàu. Một phần là vấn đề an ninh, tàu chiến có rất nhiều thứ nguy hiểm trên đó, không để thường dân đi lại tự nhiên được.

Trường hợp mẹ con cô Lan, ông Cox mỗi ngày đưa lên boong “
v́ họ muốn lên cho thoáng. Lúc đó cô Lan rất trẻ, bụng bầu cũng lớn lắm rồi. Chồng cô là phi công, tôi cũng là dân máy bay, nên chúng tôi nói chuyện rất hợp dù cô ta tiếng Anh không rành.

Bà Lan cũng kể lại gần như hệt: “
Tôi gặp ông Cox, không biết tại sao mà ḿnh th́ không biết tiếng Anh, chỉ lơm bơm vài chữ, mà nói chuyện với nhau hiểu hết. Chắc tại ông Cox bay trực thăng, mà chồng tôi là phi công, nên hai bên hiểu nhau, chứ tiếng Anh tiếng U lúc đó có biết ǵ.

Cho đến lúc đó, chồng cô Lan vẫn chưa biết sống chết, đi hay ở thế nào. Ông Cox làm mọi cách để t́m cho ra tung tích, nhưng vẫn không có ǵ.
“Tôi ḍ hết các danh sách tôi có được. Tôi điện qua các tàu khác, cũng không trả lời. Có lẽ lư do tôi giúp cô Lan mọi cách, v́ ở nhà tôi có một cô em gái, và Lan làm tôi nhớ đến em gái tôi. Lan lúc đó trông rất trẻ, chắc khoảng 16, 17 tuổi ǵ đó.”

Cox chụp một tấm h́nh của ḿnh đưa cho Lan.
“Ông ghi tên, địa chỉ người bạn gái ở Mỹ để giữ liên lạc. Tấm h́nh tôi c̣n giữ,” bà Lan cho biết.

Nhưng người bạn gái đó, ít lâu sau chia tay ông Cox. Sáu tháng sau, ông gặp người vợ tương lai của ḿnh. Hai vợ chồng lấy nhau đă 29 năm nay. Gia đ́nh vợ ông Cox cũng đă từng sống tại Việt Nam vào năm 1967, 1968, sau Tết Mậu Thân sợ bỏ đi nhưng sau đó cũng trở lại năm 1969. Gia đ́nh vợ ông Cox có một cô con gái nuôi là người Việt Nam.

Tháng Mười năm 1975, Donald Cox chuyển về San Diego.
“Tôi cố gắng t́m mẹ con Lan nhưng không ra. Nay liên lạc được, cứ như là t́m thấy một người em mất tích.”

Donald Cox đă giải ngũ từ năm 1978. Hiện nay, ông là Kỹ Sư Chính cho hăng Raytheon tại Tucson, Arizona. Đồng thời ông đang học thêm để lấy Tiến Sĩ tại đại học University of Arizona.

Ba mươi năm sau biến cố 30 tháng Tư, Donald Cox vẫn c̣n lo giúp người tỵ nạn.
“Tôi có một dàn phát thanh tại gia, gọi là 'ham radio,' nên tôi tham gia đội Nội An tại Tucson. Hiện giờ, tôi dùng dàn ham radio để yểm trợ cho việc giúp đỡ người chạy tránh băo Katrina lạc qua Arizona.”

Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên

Từ trên tàu Kirk, đoàn người di tản được đưa vào Subic Bay ở Philippines. Cô Lan lại được đưa vào bệnh viện, nhưng chẳng bao lâu cô xin ra ngoài.
“Lúc đó trong căn cứ Subic Bay người ta dựng lều ngoài băi biển cho người Việt Nam tỵ nạn. Tôi ở trong bệnh viện, cô đơn quá, xin ra ngoài băi biển với mọi người.”

Sau đó, đoàn người được chuyển đi Guam. Hai mẹ con cô Lan đi trên chiếc tàu buôn Mỹ.

Đến Guam, cô Lan được đưa vào thẳng Navy Hospital. Tại đây, hôm 22 tháng Năm, cô Lan trở dạ và sanh một em bé gái. Giấy khai sinh của em bé ghi địa chỉ của mẹ là “Tent City” trong căn cứ Guam.

Để đáp ơn chiếc tàu đă giúp cứu vớt và giúp đỡ ḿnh quá nhiều, cô Lan dùng tên Kirk để đặt cho em bé. Nhưng Kirk là tên con trai, làm sao đặt cho con gái? Thôi th́ không dùng làm tên được, th́ dùng làm tên đệm. Em bé được mang tên Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên.

Thuyền trưởng Jacobs và ông Donald Cox có đến thăm cô Lan tại Guam một lần. Thuyền trưởng Jacobs rất mừng khi biết em bé mang tên thuyền Kirk. Ông Cox, sau khi từ giă mẹ con cô Lan, có quay trở lại Việt Nam để hộ tống một đoàn tàu Hải Quân Việt Nam. Sau khi hoàn thành công tác đó, cũng đến Guam thăm em bé mang tên Kirk.

Gia đ́nh cô Lan, từ hai mẹ con nay thành ba người, ở lại Guam 10 ngày. Em bé Tiên được rửa tội tại đây. Sau đó gia đ́nh chuyển qua trại Pendleton ở California.

Khi bé Tiên được 3 tháng, Hồng Thập Tự liên lạc được với chồng cô Lan. Vào phút chót, ông đă bay qua Thái Lan và từ đó được chuyển qua trại Fort Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Hồng Thập Tự đưa ông qua Pendleton, gia đ́nh xuất trại đi Baltimore. Ở đây chỉ được 9 tháng, lại về California - ở Baltimore “lạnh quá,” bà Lan kể.

Giáng Tiên nay đă 30 tuổi, tốt nghiệp đại học California State University, Long Beach, hiện chuyên tổ chức các hội nghị, các hội chợ kinh doanh. Giáng Tiên nói rành tiếng Việt, đang học thêm đọc và viết. Giáng Tiên có một người em trai, James Trần, cũng tốt nghiệp Long Beach, làm hoạt h́nh. Bố của hai chị em, người phi công phi đoàn Hỏa Long xưa bay vi vút ở Nha Trang, đă qua đời cách đây 5 năm.

Trong một ngày t́nh cờ đến khu Bolsa đi chợ, người thiếu nữ ngày xưa nay đă có hai con tốt nghiệp đại học, mua một tờ báo Người Việt. Về nhà, mở ra, bà Nguyễn Thị Tường Lan, từ khi qua Mỹ mang tên Lan Trần, thấy hàng chữ “
T́m đâu, cô gái mang tên chiến thuyền USS Kirk?” Bà biết ngay là chuyện của ḿnh. Đọc bài phóng sự, bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa tràn về. Bà liên lạc ngay với Jim Bongaard.

USS Kirk hội ngộ

Ba mươi năm trôi qua, hầu hết các thủy thủ trên tàu đều đă giải ngũ, không c̣n trong quân đội. Chiếc tàu chiến USS Kirk oai phong ngày nào cũng đă giải giới, không c̣n phục vụ nữa từ năm 1993.

C̣n lại, là một cô gái sinh trong lúc chạy loạn, là biểu tượng của công tác nhân đạo trên một chiếc tàu chiến. Thuyền trưởng Jacobs nói,
“Quư vị không thể tưởng tượng được, một chiếc tàu chiến và một nhóm thủy thủ chuyên nghề đánh giết, trong nháy mắt trở thành một chiếc tàu cứu trợ làm công tác nhân đạo, đó là điều tôi thấy cảm động nhất. Tôi thật sự xúc động khi thấy nhóm thủy thủ trẻ tuổi của tôi an ủi những người di tản, chia sẻ từng phần ăn uống, chỉ dẫn giúp đỡ những người bỡ ngỡ và buồn bă trên chiến hạm.”

Nhóm cựu thủy thủ đoàn chiếc USS Kirk sắp tới đây sẽ hội ngộ tại Orlando, Florida từ ngày 5-8 tháng Mười. Họ đă mời cả gia đ́nh Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên đến dự. Jim Bongaard, Donald Cox, thuyền trưởng Paul Jacobs đều về. Cũng sẽ có mặt là ông Richard Armitage, vào năm 1975 là tùy viên quân sự ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n được giao trách nhiệm điều khiển cuộc di tản. Ông Armitage nói rành tiếng Việt, có tên Việt Nam là “Phú,” và sau này là Thứ Trưởng Ngoại Giao, sẽ đến cuộc hội ngộ này như một lần gặp lại công tác của ḿnh 30 năm trước.

Đối với những cựu quân nhân này, Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên tượng trưng cho cái đẹp của cả thời gian tham gia cuộc chiến tại Việt Nam. Ông Jim Bongaard nói với Người Việt, “
Đối với chiến tranh Việt Nam, nhiều người nh́n người lính Mỹ không mấy thiện cảm. Em bé 'Kirk baby' là bằng chứng và là biểu tượng cho kết cuộc tốt đẹp với người lính Mỹ ngày đó.”