|
DI
TẢN và VƯỢT BIÊN
Ngày 10-3-1975 Việt Cộng pháo kích và tấn công thành phố Ban Mê
Thuột. Kinh hoàng, đau thương.
Ngày 14-3-1975 TT Nguyễn văn Thiệu ra lịnh triệt thoái cao nguyên
gây kinh ngạc và uất hận trong quân dân vùng II.
Ngày 17-3-1975 địch chiếm Kontum & Pleiku. Hỗn lọan, tang thương.
Ngày 19-3-1975 Quảng Trị lọt vào tay địch. Ngỡ ngàng, hốt hoảng.
Ngày 23-3-1975 Quảng Ngăi bị chiếm. Đau thương, tang tóc.
Ngày 26-3-1975 Huế không c̣n nữa. Sụp đổ niềm tin.
Ngày 01-4-1975 Tuy Ḥa, Nha Trang đổi chủ. Bấn loạn cùng cực.
Ngày 03-4-1975 Đà Lạt, Cam Ranh bị bỏ ngỏ. Đớn đau, tủi hổ.
Ngày 10-4-1975 Xuân Lộc bị tấn công. Gương hy sinh của các anh hùng
Mũ Đỏ và Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Chiến thắng cuối cùng của QLVNCH.
Ngày 16-4-1975 mất Phan Rang
Ngày 19-4-1975 mất Phan Thiết
Ngày 20-4-1975 VC pháo kich Biên Ḥa. Bi thảm, rối loạn.
Ngày 21-4-1975 Hàm Tân, Xuân Lộc thất thủ
Ngày 27-4-1975 VC bắn hỏa tiễn vào Saigon
Ngày 28-4-1975 phi trường Tân Sơn Nhứt bị pháo kích. Saigon hỗn loạn,
hốt hoảng.
Ngày 30-4-1945 lính và xe tăng VC tràn vào Saigon. TT Dương Văn Minh
ra lịnh đầu hàng. Tủi nhục và uất hận.
Trong vỏn vẹn có hơn 50 ngày chúng ta đă mất miền Nam. Cả thế giới
sửng sốt. Ngay chính kẻ thù cũng không ngờ là chúng có thể đạt được
chiến thắng một cách nhanh chóng như vậy.
Cho đến hôm nay, 30 năm đă qua kể từ ngày mất nước không ai có thể
phủ nhận được những hậu quả của quyết định sai lầm ‘triệt thoái cao
nguyên’ bỏ dân bỏ đất. Sự kinh hoàng, sự chết chóc, sự suy sụp niềm
tin…. đă được kư giả lăo thành Nguyễn Tú, một nhân chứng sống có mặt
trong đoàn di tản tả lại như sau:
***
"Cuộc di
tản tiếp diễn sáng nay dưới ánh nắng như thiêu đốt vào ngày đầu tuần.
Hàng ngàn xe quân đội và thường dân nối đuôi nhau lăn bánh trên xa
lộ 14, nhắm về hướng Phú Bổn. Nhiều xe chở quá nặng phải đậu lại bên
vệ đường. Xe quân đội được lệnh của Thiếu Tướng Tất tiếp tục đi, …
và họ đă thi hành đúng lệnh của viên tướng này.
Thật thương tâm khi phải mục kích cảnh người dân không có khả năng
di tản bằng xe hơi, xe vận tải, hay bất kỳ phương tiện chuyên chở
nào có được. Họ thật cơ cực, phải di tản bằng đôi chân, và họ chiếm
đa số, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người lớn tuổi, đi tất tả như chạy,
không được dù chỉ một giọt nước để làm dịu cơn khát như cháy cổ. …
Không ai biết được liệu họ có thể đến được Phú Bổn tối nay hay không.
Có lẽ nhiều người sẽ quỵ ngă và chết trên đoạn đường dài gian khổ
này. Trên đường đến Phú Bổn, dọc theo xa lộ 14, làng mạc, thôn xóm
và các buôn người Thượng thảy đều hoang vắng. Cảnh tượng hoang tàn
dọc theo xa lộ này gây cho tôi một ấn tượng thật khó tả. …
Cuộc di tản thật sự bắt đầu lúc 8 giờ tối hôm qua.
Xe cộ chất đầy hành lư, đồ đạc, b́nh hoa, đồ cổ, hàng hóa đủ loại,
lăn bánh trên xa lộ 14, hướng về Hậu Bổn, thị xă tỉnh Phú Bổn, 60
dặm về hướng Đông Nam. Đoàn người và xe này gồm hàng ngàn xe nối
đuôi nhau, dài hàng mấy cây số. …
Có nhiều tiếng nổ lớn, chứng tỏ kho đạn ở Pleiku đang bị hủy. Từng
cột khói bốc lên trời theo h́nh xoắn ốc, báo hiệu các thùng chứa
xăng cũng đă bị phá hủy. Mọi thứ đều bị châm lửa đốt. Nhiều khu vực
ở Pleiku bị hủy hoại, nhất là nhà cửa của những người đă di tản. …
Không một bác sĩ nào, kể cả bác sĩ quân y, c̣n ở lại thành phố.
Nhiều bệnh nhân ở cả bệnh viện lẫn quân y viện đă bị bỏ mặc cho số
phận. Những người khốn khổ này dĩ nhiên không biết đối phó ra sao
trước t́nh cảnh này, ngoài việc nằm lại trên giường bệnh, chờ cái
chết chầm chậm đến với họ.
Tôi cũng thế, ba lô trên lưng, ḥa vào đoàn người di tản vào khoảng
10:30 tối chủ nhật. … Tối nay trời Pleiku thật đẹp, với hàng ngàn
tinh tú lấp lánh. …
Nếu có bạn bên cạnh, tôi sẽ tâm sự: Này bạn, bầu trời đêm nay thật
nhiều sao, nỗi buồn trong tôi cũng nhiều như thế đó.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết do đâu lại có lệnh bỏ ngỏ Pleiku
và Kontum. Không có bất kỳ lời giải thích nào về việc di tản người
dân. Không tổ chức nào được lập ra để lo cho lần tản cư đông đảo này.
Chẳng lẽ các tướng lănh quân đội lại được giao việc lập kế hoạch cho
một cuộc di tản như thế sao?
Không hề có bất kỳ sự hỗ trợ nào cho người dân, nhất là những người
phải đi bộ. Tôi đă chứng kiến nhiều cuộc tản cư lớn từ năm 1954.
Nhưng cuộc di tản từ Pleiku-Kontum này khiến tôi chán ghét đến độ
chút hy vọng mong manh c̣n lại trong thâm tâm tôi từ năm 1954 cũng
biến mất. …
Theo sát sau những người lánh nạn từ Pleiku và Kontum, người dân Hậu
Bổn cũng rời khỏi thành phố nơi ḿnh sinh sống.
Người dân tị nạn từ Pleiku và Kontum, sau hai ngày hành tŕnh gian
nan, đến được Hậu Bổn theo từng nhóm nhỏ. Phần lớn người di tản vẫn
c̣n xa măi phía sau, lê bước mỏi mệt trên lộ tŕnh đầy đất bụi, dưới
ánh mặt trời thiêu đốt vào ban ngày, và chịu đựng cơn giá lạnh của
núi rừng ban đêm.
Không thể nào đếm được bao nhiêu trẻ em đă ngă xuống trên đường đi,
bao nhiêu cụ già bơ vơ phải đứng lại dọc đường, không c̣n cất bước
đi được nữa, và c̣n bao nhiêu người khác phải chịu đựng đói khát
trên suốt chặng đường t́m đến Tự do và Dân chủ.
Một sĩ quan biệt động bảo tôi:
"Lần này,
tôi không thể nào c̣n nh́n thẳng vào mặt đồng bào ḿnh lần nữa."
Một anh binh nh́ nói:
"Thật khốn
kiếp, chúng ta rút lui không hề kháng cự. Tôi thà chiến đấu, rồi
chạy trốn nếu thua và tôi chấp nhận như vậy."
Một Đại Úy Không Quân than:
"Thật thảm
thương, nhất là khi nh́n lại Pleiku, giờ chỉ c̣n là một thành phố bỏ
hoang. Chỉ c̣n thấy lửa cháy khắp nơi. Tôi buồn quá.
"Tôi ngạc nhiên quá. Hăy nh́n những con người này, những trẻ em này.
Thật khốn khổ, đáng thương quá!",
một người lính khác nói thêm. …
Hôm nay, người dân Hậu Bổn đă ḥa vào ḍng người lánh nạn từ Pleiku
và Kontum.
Phụ nữ, trẻ em, thanh niên, và người lớn tuổi hối hả rời khỏi nhà
theo từng nhóm, đem theo của cải, đồ dùng trên lưng hoặc cầm trong
tay, khi thấy đoàn người và xe di tản đến gần. Những cảnh tượng cướp
bóc, hôi của và sục sạo lại tái diễn. …
Nhiều khu trong thị xă bị đốt cháy. … Phú Bổn đă tự đầu hàng, chứ
không phải trước kẻ thù.
Sau Kontum và Pleiku bị bỏ ngỏ hôm chủ nhật, ta mất Hậu Bổn thứ ba
sau đó.
Phần đầu của đoàn xe và người di tản đă qua được điểm phục kích, nhờ
được hỏa lực bắn yểm trợ. Nhưng đoạn sau của đoàn di tản phải rời
khỏi đường chính và băng rừng.
Tôi kẹt lại ở đoạn cuối của đoàn xe và đoàn người đi lánh nạn.
Nhóm phiến quân người bộ tộc miền núi, được vũ trang bằng vũ khí
(Hoa Kỳ)
của chúng ta và cả bằng tên lửa B-41 và súng trường AK-47 của Cộng
quân, đă bắn vào đoàn người di tản, trong khi trọng pháo của Bắc
quân bắn đến từ mọi hướng.
Nhiều xe vận tải chở đầy binh lính, trẻ em và người lớn tuổi bị
trúng đạn pháo, bùng cháy và nổ tung. Xác người tung văi khắp nơi.
Những người đi bộ th́ bị đạn súng máy, gục xuống; máu họ tuôn thành
ḍng.
Tiếng đạn pháo ầm ầm, tiếng nổ răng rắc của vũ khí cá nhân, tiếng
kêu la của người sắp chết cùng tiếng khóc của trẻ em, tất cả ḥa
thành một âm điệu duy nhất…vang lên từ hỏa ngục.
Biệt động quân chống trả quyết liệt suốt đêm, để đoạn cuối của đoàn
xe và người di tản thoát được vào rừng sâu.
Cuối cùng, đoàn 200 người chúng tôi cũng leo qua được đồi Chu Del,
cách Cheo Reo (Hậu
Bổn)
khoảng 6 dặm, cách Sài g̣n 210 dặm về hướng bắc.
Trực thăng bắt liên lạc được với chúng tôi và bay tới cấp cứu. Cuộc
giải cứu thật khó khăn, v́ Chu Del là một ngọn đồi vừa dốc vừa hẹp.
Sau cùng, cuộc giải cứu bằng trực thăng đêm đó và sáng hôm sau đă
cứu nguy được 200 người.
***
David
Butler -The fall of Saigon
Những h́nh ảnh cảm động nhưng đầy hăi hùng đó cũng thấy trong quyển
Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 mà Phạm Huấn viết để “Thành kính
tưởng niệm những người đă hy sinh, gục ngă trên đường rút quân
Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên, tháng 3 năm 1975” và cũng để “Kính
tặng các chiến sĩ anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa” .
Anh kể:
....
“ Liên Tỉnh
Lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên con đường máu dài 300 cây số đă là nơi
chôn vùi hàng ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội.
Thật kinh hoàng, khủng khiếp. Biển người và biển máu.
Sự chết chóc, đau thương, thống hận mà các chiến sĩ và đồng bào đă
khốn khổ trải qua từng giây, từng phút trên quăng đường dài Phú Bổn-
Phú Yên có thể suy ra được nếu người đọc có theo dơi những biến
chuyển của chiến trường.”
“Thành phố đất đỏ nhỏ bé miền núi Phú Bổn, sau những trận mưa pháo
của Bắc quân, buổi trưa và đêm 18-3-1975 đă biến thành ‘một chợ trời…
xác chết’. Khắp nơi nơi, chỗ nào cũng có xác người chồng chất lên
nhau.
Họ đă chết tức tưởi, oan nghiệt.”
Ở một
đoạn khác anh viết ……
“
Trái lại, c̣n làm cho mấy chục ngàn đồng bào và trẻ thơ vô tội, bị
chết oan trên ‘con đường của Tử Thần’ này. Gần 20 ngàn quân tinh
nhuệ bị thảm sát…”
“ Quang cảnh trên Dương Vận Hạm 404 lúc này thật náo nhiệt, ‘xô bồ’.
Hầu hết là anh em thuộc Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Quần áo trận
màu xanh rằn ri Cọp Biển. Họ đứng, nằm, ngồi chen chúc mọi nơi, mọi
chỗ. Tất cả đều mệt mỏi.
Không vũ khí, không c̣n phong độ”
Nhưng anh cũng đă ghi lại được sự quả cảm, hào hùng, anh dũng của
rất nhiều đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Anh viết:
“ Trên 30 cây
số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản
thương, ‘hậu phương’ ră ngũ, bỏ sung; các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ
Binh đă chiến đấu trong t́nh trạng tuyệt vọng nhưng dũng cảm, anh
hùng. Trước mặt, sau lưng đều là địch, họ đă bắn đến viên đạn cuối
cùng rồi gục xuống. Có những hành động thật hào hùng, thật phi
thường.
Một cấp chỉ huy Trung Đoàn 47 đă quỳ xuống ôm lấy người lính bị
thương rồi bật khóc. Người lính chỉ c̣n thoi thóp nhưng ngón tay vẫn
để trên c̣ súng. H́nh ảnh này làm ông đau đớn. Ông đứng dậy bỏ đi.
Nhưng rồi lại trở lại. Và thật b́nh tĩnh, ông rút súng…kết liễu đời
đứa em thân yêu, sau đó bắn vào đầu ḿnh!
Có một ‘người Anh lớn’ khác, đợi cho các chiến hữu của ḿnh lên tầu
hết rồi lững thững bỏ đi. Trời bừng sáng, nhưng Anh không đi về
hướng mặt trời. Anh trở lại con đường cũ. Trở lại phía có ‘những
ngọn đồi số 82 và 174 vô danh’. Nơi đó Anh sẽ gặp ‘Dũng sĩ Mai Hồng
Bướm - người Binh Nhất Trung Đội Trưởng anh hùng của Sư Đoàn 22 Bộ
Binh - người Binh Nhất Trung Đội Trưởng…thứ sáu của Trung Đội đă chỉ
huy đơn vị đánh bật kẻ thù khỏi đỉnh Du Tự, Hoài Ân trước khi gục
ngă. Và gặp lại rất nhiều những anh hùng vô danh khác của Sư Đoàn,
những người đă lấy máu ḿnh tô thắm cho màu cờ đơn vị trong những
năm sau cùng!!!”
“Đạn hết, lương thực hết. Không c̣n cấp chỉ huy, không c̣n được yểm
trợ, không c̣n máy móc liên lạc để… kêu cứu; những chiến sĩ Trung
Đoàn 53 Bộ Binh đă gục ngă từng người, từng tổ, từng Tiểu Đội…trong
những chiến hào cho đến người cuối cùng! Những ‘dũng sĩ’ Trung Đoàn
53 Bộ Binh không c̣n chiến đấu nữa. Họ đă ‘tan ra, đă nát ra….từng
mảnh vụn’ và lẫn trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng vĩ”
“ 10 phi tuần phản lực A 37 đánh bom CBU và Napalm yểm trợ cho đoàn
quân triệt thoái ngày 24-3-1975 sau đó đă được thực hiện đúng như
Đại Tá Thảo, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Không Quân Phan Rang ‘hứa’ với
Tướng Phú. Những phi công anh hùng đă khắc phục, chế ngự mọi hiểm
nguy, mọi trở ngại kỹ thuật, thời tiết và sự an toàn cho chính bản
thân ḿnh; để cứu đồng bào và các chiến hữu anh em. Những phi công
cảm tử anh hùng của QLVNCH đă bay xuất trận hôm ấy trong tinh thần
của những hiệp sĩ. Trên vùng trời Phú Yên lúc 17 giờ ngày 24-3-1975,
khi những cánh đại bàng xuất hiện ‘họ’ thật sự là những cứu tinh, là
những người đă mang theo sự sống cho Đoàn người, Đoàn quân phía dưới.
Như hàng trăm ngàn đồng bào và các chiến hữu khác có mặt hôm đó tại
‘Liên Tỉnh Lộ 7’, tôi muốn được bày tỏ sự kính phục đặc biệt và ca
ngợi những phi công anh hùng này.”
“Nh́n về phía Khánh Dương, tôi thấy mịt mù, xa tắp. Tự nhiên tôi
nhắm mắt lại. Tôi theo đạo Công Giáo nhưng đă hơn 10 năm rồi, chưa
một lần bước đến nhà thờ. Và đêm nay tôi đă nguyện cầu. Tôi cầu xin
cho những người anh em tôi qua được một đêm.”
“ Ngày mà đất nước rơi vào tay giặc, miền Nam Việt Nam bị xóa bỏ.
Người dân Saigon và khắp nơi đă chứng kiến những cảnh đau thương khi
từng nhóm anh em quân nhân Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, Lôi Hổ, Cảnh Sát
Dă Chiến đă ‘tự sát tập thể’ khi họ dung súng cá nhân bắn vào xe
tăng Cộng Sản Bắc Việt, để rồi gục ngă dài theo đường phố, từ trại
Hoàng Hoa Thám, Ngă Tư Bẩy Hiền, Phú Lâm, Tân Cảng về tới đại lộ
Trần Quốc Toản. Và của các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến, Thám Kích,
Quân Vận, Công Binh Chiến Đấu, Địa Phương Quân……tại Đà Nẵng, Pleiku,
Vũng Tàu, Cần Thơ, Chương Thiện.
Họ là những anh hùng, không đầu hàng giặc. Họ đă chọn cái chết để
bảo vệ danh dự cho Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.”
Phạm Huấn - CUỘC TRIỆT
THOÁI CAO NGUYÊN 1975
Những đoạn trường trên ‘Tử lộ 7’ cũng đă được vẽ lại qua ng̣i bút
của Phan Nhật Nam, thật đau đớn cho quân dân ta.
“ Cuộc di tản
lớn quá, mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi với
hai trăm ngàn người dân thường đi từ Kontum, Pleiku… Trời cao nguyên
buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng
khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, ṇng pháo, khí cụ,
tóc và da mặt người, vạn tṛng mắt đỏ rực. Những tṛng mắt mệt mỏi,
lo âu, tuyệt vọng.
Đoàn di tản qua được ngày đầu b́nh an. B́nh an sống sót qua đói,
khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi sung, đàn bà, con trẻ
nằm rũ trên hành lư, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh
phúc quá lớn hở trời? C̣n biết kêu vào đâu? Với ai?
Đoàn di tản bị chận ở phía đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc,
bị đuổi đập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, GMC
hất xe đ̣ chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những chiếc
xe Jeep chở các sĩ quan thuộc các đơn vị yểm trợ, chuyên môn của
quân đoàn, tiểu khu Pleiku, cán qua những chiếc Dodge 4 của Địa
Phương Quân chở những người già và trẻ em tan tác. Chiếc Vespa của
một gia đ́nh chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người
vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ
toang trên mỏm đá.
Và súng nổ…. 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của phía cộng
ḥa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản cùng ḥa vào nhau
thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ ánh nắng.
Mặt trời bị ch́m khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất
bên lề đường, người khô quắt không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ
được nhận biết nơi ổ mắt, mũi miệng…đám kiến rừng ḅ lúc nhúc quay
quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nh́n đoạn đường hỗn loạn
không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt.
Có tiếng bắn đi của sơn pháo thật gần. Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn
thẳng xuống đoàn di tản. Lính c̣n rơ phản ứng trú ẩn, chống cự;
người dân chỉ biết đưa mắt nh́n lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng
nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo
đất bay bay.
Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết c̣n bị nhận
ch́m từ từ trong ḷng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu
cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh, không thể nào
chứa nổi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe…Chiếc xe tăng M48 như
khối đá ấn mạnh xuống ḷng chén nứt vỡ. Trong ḷng xe có tiếng người
hét nghẹn, trên pháo tháp có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu,
lưng, vai người để được thở, được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe
ch́m xuống im lặng kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác.
Xích sắt điên cuồng đào xoáy gịng sông máu sẫm làm quậy lên, tung
tóe những chân tay người kẹp dính đâu dưới lườn xe.
Nhưng dù thế nào đi nữa, cuối cùng, đoàn di tản cũng về đến Tuy Ḥa
ngày 25-3-1975 do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân dẫn đầu. Hai trăm ngàn
dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay c̣n khoảng sáu chục
ngàn người! Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng.
Người chỉ biết và đau với trường hợp từng người thân, của mỗi gia
đ́nh, của chính da thịt ḿnh.
Phan Nhật Nam - NHỮNG
CHUYỆN CẦN ĐƯỢC KỂ LẠI
“ Ngày
14-4-1975 đồng bào từ Đà Lạt, Lâm Đồng, B́nh Tuy, Long Khánh… khắp
nơi đổ tới Ngă Ba Dầu Giây để t́m đường về Saigon. Việt Cộng nă pháo
vào khắp các vị trí của quân ta từ sáng sớm. Đồng bào chiến nạn trở
thành nạn nhân sau những trận mưa pháo của địch. Tiếng kêu khóc thảm
thiết. Cảnh chết chóc, hỗn loạn dài hàng cây số trên Quốc lộ 20 và
Quốc lộ 1 thật khủng khiếp đau thương.”
“ Ngày 14-3-1975, ông Thiệu bay đi Cam Ranh ra lệnh rút bỏ Cao
nguyên.
Ngày 17-3-1975, cuộc rút quân từ Pleiku bắt đầu và hai ngày sau đoàn
quân, đoàn xe kẹt lại tại Phú Bổn. Đă có biết bao nhiêu đau thương,
kinh hoàng xẩy ra và c̣n đang tiếp tục xảy ra trên Liên Tỉnh Lộ 7,
con đường của tử thần nối liền Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên.
Ngày 20-3-1975, ông Thiệu lại ra lịnh bỏ Huế.
Cuộc rút quân từ Huế bắt đầu ngày 23-3-1975 và cũng hai ngày sau đó,
đoàn quân, đoàn xe, đoàn người lại kẹt cứng, chết chồng chất lên
nhau. Nhưng ‘điểm hẹn’ của Tử Thần trong cuộc rút quân này là hai
cửa biển Thuận An và Tư Hiền. Từ chiều tối 25-3-1975, những băi cát
phẳng mịn gần Thuận An và Tư Hiền biến thành ‘ băi chết’ và những
vùng biển kể trên là ‘biển máu’.”
“ Trận chiến Xuân Lộc với những thiên ‘ anh hùng ca ’ của những
người lính Nhẩy Dù trước khi ‘giă từ vũ khí ‘ và sau đó những ngày
cuối cùng trên khắp các mặt trận Quân Đoàn III và Quân Đoàn IV, c̣n
có biết bao nhiêu gương anh hùng sáng chói khác nữa. Những chiếc
phản lực cơ chiến đấu A37, F5 bị bắn rớt vào ‘giờ thứ 25’ trên các
chjến trường Long Khánh, Biên Ḥa, hay chiếc Hỏa Long thả hỏa châu
bị bắn đứt cánh sáng 30-4-1975 ngay tại vùng trời Saigon, đủ chứng
minh, giải thích về tinh thần chiến đấu phi thường của những người
anh hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong mọi Quân Binh chủng.”
“ Trận chiến mất nước 52 ngày sau cùng của Việt Nam được khởi đầu
bằng hai cuộc rút quân Cao Nguyên và Huế thật hỗn loạn, bi thảm.
Những vị Tướng mặt trận trong ngày cuối cùng 30-4-1975 đă chọn cái
chết không để lọt vào tay giặc, sau lệnh đầu hàng của tướng Dương
Văn Minh, là những hy sinh, những quyết định anh hùng, để cho những
người lính chiến đấu dưới quyền họ kính phục, hănh diện. Đó là các
Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II, Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư
Lệnh Quân Đoàn IV các Tướng Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai và Lê Nguyên
Vỹ.
Nhưng nói về những người anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
trong trận chiến mất nước và suốt 21 năm chiến đấu chống cộng sản
của toàn thể Quân Dân miền Nam, chúng ta phải ngả đầu ngưỡng phục và
dành ngôi vị anh hùng này cho những người lính, những cán bộ cấp nhỏ
trong chính quyền, và những sĩ quan từ cấp Trung Đoàn Trưỏng, Lữ
Đoàn Trưởng trở xuống.”
Phạm Huấn - NHỮNG UẤT HẬN
TRONG TRẬN CHIẾN MẤT NƯỚC 1975
"Khi đoàn xe
tăng ‘cách mạng’ vào thành phố, ḿnh thấy có nhiều người lính chế độ
cũ chạy vào mấy đường hẻm tự sát. Có khi một người, có khi hai người,
có khi mấy người chụm đầu vào nhau rồi mở chốt lựu đạn.
Trần Văn Thủy - NẾU ĐI HẾT
BIỂN
30 năm đă qua kể từ ngày những đồng bào vô tội, những quân nhân đă
chiến đấu và đă nằm xuống trong trận chiến cuối cùng. Chúng ta hăy
kính trọng sự hy sinh của họ và nên để cho họ được yên nghỉ. Trong
suốt 21 năm chiến đấu để bảo vệ tự do cho miền Nam đă có biết bao
nhiêu gương hy sinh anh hùng của các chiến sĩ các cấp trong tất cả
các Quân Binh chủng.
Tôi muốn nhắc đến Binh Nh́ Nguyễn Văn Bẩy xạ thủ súng cối 81 ly
Trung Đoàn 53 Bộ Binh, Binh Nhất Mai Hồng Bướm Trung Đội Trưởng thứ
sáu của Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Binh Nhất Lê Hoàng, Hạ Sĩ Sơn E và
Binh
Nhất Cao Xuân Tùng của Đại Đội 14 Trinh Sát,
Chuẩn Úy Dương Minh Đức,
Chuẩn Úy Lương Đức Hậu Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 Đại Đội 2 Tiểu
Đoàn 1 Chiến Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Hạ sĩ Lê Sen, Binh Nhất Ḥa,
Trung Sĩ Hoan của Trung Đội 3 cũng của Chiến Đoàn này….
Tôi cũng muốn kể đến gương hy sinh của
Đại Tá Nguyễn Đ́nh Bảo người
ở lại Charlie, Đại Tá Nguyễn Hữu Thông Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn
42 Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Lê Cầu tại mặt trận B́nh Định,
Bùi Quyền Lữ
Đoàn 3 Nhẩy Dù, Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù,
Trung Tá
Lê Quang Đ́nh, Đại Tá Phạm Văn Phúc hai người đứng đầu tiểu khu Long
Khánh, Thiếu Tá Châu Ngọc Sanh Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Trung
Đoàn 14 Sư Đoàn 9 Bộ Binh, các Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và
Đỗ Hữu
Tùng hai vị chỉ huy của Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến,
Đại Úy Hiền,
Đại Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Tá Nguyễn Cao Vực của Trung Đoàn 8 Sư
Đoàn 5 Bộ Binh….
Rồi c̣n những chiến sĩ anh hùng trong những binh chủng khác
Trung Úy
Phi Công Nguyễn Hoàng Dự và các người bạn của anh, các phi công phản
lực A37, F5, các quân y sĩ Đoàn Mạch Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh,
Nguyễn Văn Nhứt, Trần Ngọc Minh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Tô Phạm Liệu, Trần
Thái, Đoàn Trung Bửu, Nguyễn Đăng Chương Dương, Vũ Đức Giang và thật
nhiều, nhiều nữa các chiến sĩ, các hạ sĩ quan, sĩ quan anh hùng
trong đoàn quân Mũ Đỏ, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thiết
Giáp, Pháo Binh, Lôi Hổ, Công Binh, Địa Phương Quân…đă hy sinh trong
suốt cuộc chiến.
Chúng ta hăy thắp một nén hương ḷng cho những người đă khuất. Cùng
với bao nhiêu chiến sĩ vô danh khác các anh vinh dự đi vào lịch sử,
v́ đă một đời hy sinh cho Tổ Quốc và lư tưởng Tự Do.
Sau ngày 30-4-1975, công tác đầu tiên mà Cộng Sản đă cố gắng thực
hiện là phá vỡ hệ thống hành chánh của Việt Nam Cộng Ḥa cũng như
tiêu diệt các giai cấp cũ trong xă hội miền Nam. Song song là việc
cải biến miền Nam Tự Do thành Xă Hội Chủ Nghĩa qua h́nh thức cải
cách kinh tế, cải cách văn hóa và hủy bỏ những quyền tự do căn bản
của con người.
Cải cách kinh tế đă được thực hiện qua h́nh thức phủ nhận quyền tư
hữu để tiến tới tập thể hóa, tấn công giới tư sản, cải tổ, phá giá
tiền tệ. Cải cách văn hóa bằng cách phủ nhận mọi giá trị tự do, nhân
bản và dân tộc của nền văn hóa cũ như đốt sách kể cả sách giáo khoa,
băi bỏ chiếc áo dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam, phá hủy các
nghĩa trang cũng như các ngôi mộ của những người đă khuất, thiết lập
hệ thống giáo dục mới để đào tạo con người xă hội chủ nghĩa. Bên
cạnh đó là việc hủy bỏ nhân quyền và dân quyền như tự do báo chí,
lập hội, thiết lập sổ hộ khẩu, an ninh phường xă, công an khu vực để
kiểm soát từng người dân cùng gia đ́nh của họ. Đối với tôn giáo, tài
sản của giáo hội bị tịch thu, cơ sở của nhà thờ, chùa chiền được xử
dụng cho mục đích khác, thêm vào đó là việc thành lập những giáo hội
quốc doanh cũng như qui định lại việc huấn luyện các tu sĩ.
Để phá vỡ hệ thống hành chánh của miền Nam, Cộng Sản loại bỏ ngay
các cơ quan: quân đội, cảnh sát, ṭa án và hệ thống cải huấn với tất
cả các viên chức của các cơ quan ấy. Cộng Sản đă áp dụng nhiều
phương pháp để tiêu diệt cá giai cấp cũ như hạ sát tập thể, ṭa án
nhân dân, trại tập trung mà với mỹ từ ‘trại cải tạo’ chúng đă lường
gạt cả thế giới, vùng kinh tế mới, đấu tố và sau cùng là cô lập hay
quản thúc tại gia.
Với phương cách hạ sát tập thể như họ đă từng làm trong dịp chiếm
được Huế vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, theo Giáo sư Karl Jackson
của Đại Học Berkeley và Giáo Sư Jacqueline Desbarats của North
Western University Illinois, Cộng Sản đă thanh toán tối thiểu là
65,000 người từ 1975 đến 1983. Trong mục đích khủng bố, uy hiếp tinh
thần làm dân chúng phải sống trong lo âu, hối hộp, nghi ngờ phương
cách này là hữu hiệu nhất.
Trại tập trung là phương cách thành công thứ hai của Cộng Sản trong
mục tiêu loại bỏ những giai cấp cũ. Thật là khó mà ước lượng được
bao nhiêu người đă bị đưa vào trại tập trung sau ngày 30-4-1975.
Ta hăy thử nh́n vào vài con số:
• Hơn
1,000,000 người đươc thả ra khỏi trại – Vơ văn Sung Đại Sứ tại Pháp,
tháng 2 năm 1977
• Chỉ c̣n giam 50,000 người – Vơ Văn Sung, tháng 11 năm 1977
• Chỉ c̣n giam 40,000 tù nhân - Tuyên bố với Hội Ân Xá Quốc Tế,
tháng 12 năm 1979
• 20,000 đến 200,000 người bị giam – Tiziano Terzani, tháng 5 năm
1981
• 343,000 tù nhân năm 1975 giảm xuống c̣n 229,000 năm 1981 – Phù Yên,
1981
• 126,000 người bị giam trong từ 50 đến 100 trại tập trung - Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ, tháng 12 năm 1981
• 100,000 tù nhân c̣n bị giam - Nguyễn Cơ Thạch, tháng 6 năm 1982
• 7000 người c̣n bị giam - Nguyển Cơ Thạch, tháng 3 năm 1985
• Thả 6865 người, giảm án cho hơn 5000 người khác - Cộng Sản tuyên
bố, tháng 9 năm 1985
Sự bất nhất của những con số trên một lần nữa đă cho thấy sự nhận
xét của những nhà chính trị Tây Phương về Cộng Sản quả rất đúng,
‘Le communisme ne vit que par le mensonge et la terreur - cộng
sản chỉ sống được là nhờ nói dối và khủng bố’ .
Sử gia Stéphane Courtois trong quyển Livre noir du Communisme
(Hắc Thư của Chủ
Nghĩa Cộng Sản)
sau khi làm thống kê đă chứng minh là tội ác của các chế độ Cộng Sản
đă vượt xa chủ nghĩa Nazisme. Sự manh tâm xoá bỏ hẳn một giai cấp
trong xă hội đâu có khác ǵ tiêu diệt một chủng tộc. Nạn nhân của
các chế độ Cộng Sản đă lên tới tổng số 100 triệu người bị giết trên
khắp thế giới mà thành tích của **** cũng được xếp hạng cao, không
thua kém các tên đồ tể Staline, Mao Trạch Đông,Pol Pot...
Thực vậy, chưa một nước nào trên thế giới phải gánh chịu một thảm
họa như nước ta. Chỉ trong ṿng có 20 năm, v́ Cộng Sản Việt Nam mà
đă có hai thảm kịch di cư tị nạn khổng lồ đă xảy ra trên đất nước
Việt Nam. Năm 54-55 một triệu người phải đau thương rời bỏ Miền Bắc
vào Miền Nam. Đến năm 1975, gần ba triệu người phải từ bỏ quê hương
để lưu đày khắp thế giới, với hàng trăm ngàn thuyền nhân bỏ ḿnh
trên biển cả. Những thảm họa này chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử
Việt Nam ngay cả trong suốt một ngàn năm dưới sự đô hộ cuả phương
Bắc hay dưới thời Pháp thuộc.
Như đă nêu ở trên trong cuộc triệt thoái cao nguyên và miền Trung số
lượng đồng bào quyết định bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả tổ
tiên để chạy theo quân đội về miền Nam rất đông, có thể lên đến cả
triệu người.
Đă đành là họ sợ sự tàn sát tập thể như đă từng xảy ra tại Huế vào
dịp Tết Mậu Thân 1968, nhưng một trong những lư do chính của quyết
định đó phải là ‘sự chối bỏ chế độ cộng sản’. Trong suốt cuộc chiến
kéo dài mấy chục năm họ đă chịu đựng tất cả những sự tàn nhẫn của
chiến tranh nhưng đă có ai và đâu có lần nào phải tháo chạy như lần
này? Họ không muốn hy sinh nốt chút Tự Do mà họ đang được hưởng cho
đến tháng 4 năm 75 để ở lại với cộng sản. Sau khi cả miền Nam đă lọt
vào tay cộng sản, họ lại phải một lần nữa quyết định ra đi nhưng lần
này phải bỏ lại cả quê hương Việt Nam yêu dấu.
Sự chối bỏ chế độ cộng sản c̣n thấy rơ hơn nếu ta đem so sánh số
người quyết định đi di cư vào miền Nam vào năm 1955 với con số người
vượt biển vượt biên sau ngày 30-4-1975.
Theo tác giả Đoàn Thêm từ ngày 20-7-1954 đến ngày 31-5-1955 có
776,525 đồng bào đi di cư, nếu tính đến ngày 30-10-1955 là ngày
chính thức chấm dứt cuộc di cư th́ con số tăng lên đến 887,890 người.
Đây là những con số chính thức nhưng thực tế ở ngoài c̣n cao hơn
nhiều.
Theo ông Trần Gia Phụng, cuộc vượt biên, vượt biển của người Việt từ
năm 1975 có thể chia thành 4 giai đoạn:
(những con số dưới đây chỉ phỏng chừng,
không chính xác, lấy tin qua các báo)
1- Ngay vào
thời điểm 30-4-1975 và vài tháng tiếp sau đó đă có khoảng 100,000
đến 150,000 người bỏ nước ra đi. Đại đa số đă định cư tại Hoa Kỳ.
2- Trước làn sóng người ồ ạt bỏ nước ra đi tỵ nạn, Tổng Thống Hoa Kỳ
Gerald Ford đă ban hành đạo luật Indochina Migration and Refugee Act
vào năm 1975, theo đó “Tổng Thống Hoa Kỳ sẽ yêu cầu những viên chức
đặc trách vấn đề tỵ nạn ở cấp cao nhất được hành xử những ưu tiên
tối cao nhằm giảm nhẹ nỗi thống khổ kinh hoàng của người tỵ nạn Đông
Nam Á Châu”
Sau khi bị Cộng Sản đánh tư sản, từ 1978-1980 đă có khoảng 400,000
đến 500,000 người thoát đi, đa số là người Việt gốc Hoa theo diện
‘bán chính thức’. Khoảng một nửa số này đă đến Trung Cộng. Số c̣n
lại chạy sang Hồng Kông và các quốc gia Đông Nam Á. Trước t́nh thế
này, chính phủ Hoa Kỳ lại ban hành thêm đạo luật Refugee Act vào
ngày 17-3-1980 để “cung cấp quy chế có tính cách hệ thống và vĩnh
viễn để tiếp nhận và tái định cư một cách hiệu quả người tỵ nạn dựa
trên những nhu cầu nhân đạo đặc biệt”
3- Từ 1981-1989, trước khi Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ra
lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận thêm người vượt biên, đă có
khoảng 500,000 thuyền nhân Việt Nam đến được Hồng Kông, Palawan (Phi
Luật Tân), Bidong (Mă Lai), Galang (Indonesia), Thái Lan….rồi từ đó
được đi định cư khắp thế giới.
4- Từ 1989 đến 1996, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ vào năm 1989
cho đến khi giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn vào năm 1996, đă có
khoảng 200,000 người đến được các trại tỵ nạn kể trên nhưng họ đă
phải qua một cuộc thanh lọc rất gắt gao trước khi được hưởng quy chế
tỵ nạn chính trị và sau đó mới được đi định cư. Những người bị ‘rớt’
thanh lọc dă bị cưỡng bách hồi hương vào năm 1996.
“Dựa
theo các thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người tỵ nạn
Việt Nam theo đường bộ và đường biển đến được các trại tỵ nạn từ năm
1977 đến 1982 là:
• Năm
1977 46,871 người
• Năm 1978 150,398 người
• Năm 1979 270,882 người
• Năm 1980 119,402 người
• Năm 1981 103,168 người
• Năm 1982 18,849 người”
Nguyễn Văn Canh – VIETNAM
UNDER COMMUNISM, 1977-1982
Cũng dựa
theo thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc th́ từ năm 1975 đến
1995 số lượng thuyền nhân và bộ nhân người Việt đến được các trại tỵ
nạn là:
| |
1975-79 |
1980-84 |
1985-89 |
1990-95
|
| |
|
|
|
|
|
* Thuyền nhân |
311,426 |
241,995 |
186,498 |
56,391 |
|
* Bộ nhân |
14,666 |
11,117 |
10,467 |
6,668 |
|
Tổng Cộng |
326,092 |
253,112 |
196,965 |
63,059 |
The State
of the World’s Refugees 2000: 50 years of Humanitarian Action –
Chapter 4: FLIGHT FROM INDOCHINA
Sau ngày 30-4-1975, một kư giả Tây phương đă viết là
‘Dưới
chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc
nó cũng…vượt biên’.
H́nh như câu này của Ginetta Sagan.
Quả thật là như vậy, nhưng những thuyền nhân và bộ nhân đó là ai?
Họ là những người mà đă ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ
mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 54, họ là những người đă
có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đă
may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái cao nguyên và miền
Trung, họ là thân nhân của những đồng bào không may mắn đă bỏ ḿnh
trên đường di tản, họ là ông bà, cha mẹ, vợ con, anh em, thân nhân
của những chiến sĩ đă hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam. Họ
là những người đă bị cộng sản giam cầm trong những trại tập trung,
họ là gia đ́nh của những nạn nhân đă bị cộng sản giết chết trong
những nhà tù mà chúng đă dùng mỹ từ ‘trại cải tạo’ để đánh lừa cả
thế giới.
Họ cũng là những quân nhân, công chức đủ mọi ngành nghề, cán bộ xây
dựng nông thôn, những công nhân, những nông dân, những thương gia,
những ngư phủ, những người dân thuộc mọi thành phần trong xă hội của
miên Nam, tóm lại họ là những người muốn ‘chối bỏ chế độ cộng sản’.
Đó là lư do mà làn sóng người bỏ nước ra đi tỵ nạn đă không chấm dứt
trong một hay vài ba năm mà đă kéo dài cho đến hơn hai mươi năm.
Họ ra đi mà không biết ḿnh đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết ǵ
về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như
không biết ǵ về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Đó là lư do mà
có lúc người ta đă nói
“nếu có ba
người vượt biên th́ chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết
trên biển v́ bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại
và đi tù”.
Sau đây là vài trích đoạn các tác phẩm của một số tác giả viết về
kiếp sống tỵ nạn.
"Người Việt
Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không c̣n cách nào có thể sinh sống
tại quê hương của ḿnh. Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại
chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của ḿnh. Trong số nầy,
rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê
hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê
chính xác được. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400.000 đến
500.000 thuyền nhân bỏ ḿnh trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.
Các điểm sau đây cần lưu ư: Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất
ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam từ khi lập quốc cho đến
nay. Đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt,
Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được
phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Thời gian
phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời
gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước
bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt
biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt
Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng
3,000,000). Sự vượt biên vĩ đại của dân chúng Việt chứng tỏ dân
chúng không muốn hợp tác với nhà cầm quyền CSVN và nêu cao tinh thần
yêu chuộng tự do của người Việt. Sự vượt biên ào ạt bất chấp mạng
sống của người Việt đă làm rúng động lương tâm nhân loại, và đă phơi
trần bản chất độc tài chế độ CSVN trước công luận thế giới. Sự kiện
nầy làm hoen ố h́nh ảnh CSVN, và luôn cả h́nh ảnh cộng sản quốc tế.
Phải chăng chính v́ sự kiện nầy mà nhân dân thế giới thêm chán ghét
cộng sản và từ đó đă giúp đỡ thúc đẩy các nước Đông Âu gấp rút ly
khai với chủ trương cộng sản, đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng của khối
cộng sản Đông Âu và Liên Xô vào các năm 1990,1991?"
Trần Gia Phụng
‘‘Bước
vào đầu thế kỷ 21, nước ta vẫn là một trong các nước chậm tiến trên
thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng chỉ v́ những người giữ trọng
trách đă phạm nhiều lầm lỗi. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa
thế kỷ vứa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó hai sự kiện gần nhất
là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải
tạo và việc người dân vượt biên trốn thoát ra ngoại quốc trong những
điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Cưỡng bức giam người trong trại tù
tập trung, tập đoàn cộng sản đă vi phạm tội ác, phung phí năng lực
quốc gia để phục vụ cho mục tiêu đảng phái. Không chịu thú nhận rằng
chính sách cộng sản tàn bạo là nguyên nhân việc người dân trốn thoát
bỏ nước ra đi, họ c̣n lợi dụng cơ hội cướp đoạt tài sản, thu vàng
bán băi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và sinh mạng
chết oan trong ḷng biển cả.
’’
Phạm Hữu Trác – VÀNG MÁU
và NƯỚC MẮT
Trong 2 năm
qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng
ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam mới được thống nhất gần đây, tràn ngập
các trại tị nạn Đông Nam Á. Hàng trăm ngàn người Việt Nam khác, đă
bị các viên chức chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những chiếc
tàu không thể đi biển được, và đă biến mất trên Biển Đông đầy bất
trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đă phải quay tàu về đất
liền khi kinh hoàng chứng kiến một phần thi thể của người vượt biển
vướng vào lưới.
V́ sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể
t́m thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đă
được áp dụng mà một cựu đảng viên cộng sản Bắc Việt tóm tắt như sau:
"tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nh́n, đánh
bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa."
Dưới đây, dựa vào những cuộc phỏng vấn người tỵ nạn, là những dữ
kiện đầy kinh hoàng về tội ác của Hà nội 'liquid Auschwitz' có thể
sánh được với sự khủng khiếp của Hitler trong việc diệt chủng dân Do
Thái.
Anthony Paul - Why they
flee their homeland - Reader's Digest December 1979
Hiện tượng
thuyền nhân đă phản ảnh được những sự đau khổ của những người phải
trốn chạy khỏi quê hương ḿnh v́ lư do này hay lư do khác. Họ không
phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ
hội quay về khi mọi chuyện đă trở lại b́nh thường hay theo ư họ mong
muốn. Họ ra đi, không hề biết trước ḿnh sẽ đi đâu, đến đâu, không
có viễn ảnh hồi hương, và chịu rủi ro bị chết đuối, hay chết v́ tật
bệnh, v́ hải tặc ngoài khơi. Họ hầu như không biết số phận ḿnh sẽ
ra sao. Bất kể ra đi v́ ư định riêng, v́ là nạn nhân của những biến
cố lịch sử, hay v́ sự hà khắc do bất đồng trong những quan điểm
chính trị, những thuyền nhân này đang phải đang tâm cắt bỏ những
ràng buộc với quê hương và đồng bào nơi chôn nhau cắt rốn của họ.
Bruce Grant - The boat
people: An 'Age' Investigation
Những
thuyền nhân đơn thuần chỉ có ác cảm với những biện pháp kiểm soát áp
đặt của chính quyền, mối ác cảm đă mănh liệt đến độ họ phải đi đến
một quyết định thật khác thường. Họ là những người, ngay cả trong
những giấc mơ hoang đường nhất trước năm 1975, cũng không bao giờ
muốn rời bỏ Việt Nam. Trớ trêu thay, lịch sử đă đảo lộn, đă thay đổi
cuộc đời ho, vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định
bỏ lại sau lưng tất cả những người và những ǵ yêu quư, chấp nhận
liều mạng sống của ḿnh cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của
một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam.
Điều ǵ đă xui khiến một người quyết định tương lai của đời ḿnh mà
lại không theo những lề lối thông thường? Để hiểu rơ lư do tại sao
những thuyền nhân bỏ quê hương ra đi, chúng ta cần biết về những ǵ
họ cảm thấy đă mất, những thứ họ đă thiết tha yêu quư. Để hiểu được
những đau thương hôm nay, ta cần biết những ǵ đă xẩy ra trước đó.
Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience
Những 'thuyền
nhân', danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro
lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố
gắng t́m cách để thoát được công an và lính biên pḥng, họ đă chấp
nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai
may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh
đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ
nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mă Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó
giữa Hồng Kông và Úc Đại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà
không ai biết được là bao nhiêu.
Tuy vậy, cuối cùng th́ câu chuyện về những người tị nạn Đông Dương
là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất,
họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị
cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ
chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản,
những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm ḷng cứu vớt thuyền nhân.
Barry Wain - The refused: The
Agony of The Indochina Refugees
"Chúng tôi
cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền
để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm .
Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi
có rất ít nước uống, v́ đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện
không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết."
Refugee: Thailand, 1978
"Trong
bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu
họ đă đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đă chết
đuối."
Delegates of 'Society of
Friends': Malaysia, 1979
"Các
lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tṛn trên mặt nước.
Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, th́ khám phá ra rằng, các bao
nhựa này đă được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ
nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đă
không may chết đuối trước đó."
Report: Mekong River
Crossing, 1978
Người
mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu
cào của Thái Lan nhảy sang. "Tôi biết bọn chúng sẽ làm ǵ", cô vừa
kể vừa khóc nức nở. "Tôi van xin chúng đừng làm ǵ trước mặt con
trai tôi. V́ thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp
tôi trong đó."
Refugee
: Malaysia, 1979
Anh
Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn
Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của
ḿnh lần thứ ba.
Anh ra đi
trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may
mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối ǵ với máy
tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mă lực lớn dài 15 mét
đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều
trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong
số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh
Văn Trân. Cô này bị gh́ chặt xuống, súng trường kê sát thái dương,
và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc
sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một
người đàn ông c̣n do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ
phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng th́nh ĺnh quay ngoắt
lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn
và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đă lập đi lập lại hành động này trong
khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn
cướp biển cố ư lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ
v́ không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân c̣n đang
chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ
mẹ, cả hai đă bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống
sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla.
Toàn thể thính giả đều nín lặng. Đó là một câu chuyện thương tâm hơn
những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có.
Có rất nhiều tàu tị nạn đă bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần."
UNHCR: 1979
Bao nhiêu
thuyền nhân đă chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều
người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đă bị mất
tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được
bờ.
Delegates of 'Society of Friends': - Pulau Bidong, 1979***
Georgina
Ashworth - The boat people and the road people
Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn c̣n được tiếp đón tử tế bởi
dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng v́ làn sóng tỵ nạn
ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đă bị giảm xuống hoặc tệ
hơn đă bị thay bằng thái độ xua đuổi như đă từng xẩy ra ở Thái Lan,
Mă Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mă kéo trở ra hải
phận quốc tế có một số đă bị ch́m và làm chết oan một số người. Do
đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió băo, không hư
máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ
đến được các trại tạm cư. Đó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi
phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm…nơi các trại tỵ
nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời
điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người
chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có
quốc gia nào đă có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng
người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đă là những kho
xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi,
những ḥn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương.
Đặt được chân trên đất là phải đi t́m cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm
trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm….C̣n nhiều nhiều nữa,
kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Đến năm 1988 v́ quá
mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy
tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đă quyết định áp dụng hệ thống
thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân
nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đă gây ra khá
nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.
Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.
“0 giờ ngày
16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt
biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người
nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định
tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở
nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ư nghĩa ban đầu sự ra đi của người
vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về
quyền đi t́m chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con
người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước
nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng
ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những
trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm
cảnh thời đại.”
Lê Đại Lăng - NƯỚC MẮT
TRONG TIM
"Ngày
20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng ḿnh và tự thiêu. Anh
sau đó đă chết v́ phỏng nặng.
Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở trại tị nạn
Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày sau th́ anh qua đời.
Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không
vận của Nam Việt Nam, đă treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau
khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh
cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha c̣n
nhỏ dại.
Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28
tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.
Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt
biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lănh tụ của một chính đảng chống cộng
và đă chết trong 'trại cải tạo' của cộng sản. Gia đ́nh cô bị trục
xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bách. Bản thân Cúc cũng
bị đuổi khỏi trường v́ 'lư lịch gia đ́nh xấu'. Bất kể những sự kiện
trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn
kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đă treo cổ tự tử, để lại bốn anh
em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.
Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đă gây nên một cuộc biểu t́nh
phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mă Lai. Anh đă lao ḿnh từ vách
đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng
giêng năm 1991.
Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được
cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Tr?n Minh Khôi,
18 tuổi, đă bị rớt 'thanh lọc'. V́ Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà
các viên chức duyệt xét đ̣i hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng
bị bác.
Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao
ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất
trong trại tị nạn.
Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân
thích, đă tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn
của em.
"Chị thương, hôm nay em đă bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng
sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em
cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.
(Thư tuyệt mệnh của
anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự
tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)
"Bản
tường tŕnh của luật sư đă khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đă
dần dần đẩy tôi vào chỗ chết."
(Trịnh Anh Huy, 20
tuổi, tự thiêu ngay trước văn pḥng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang,
Nam Dương, ngày 27/8/1992.)
"Tôi
chết đi không phải v́ tuyệt vọng, mà v́ tôi muốn đem lại niềm hy
vọng và sự sống cho nhiều người khác."
(Vài hàng tuyệt
mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đă tự đâm vào
tim và chết tức khắc trước văn pḥng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại
Sungei Besi, Mă Lai.)
Vietnamese Boat
People - A cry to humanity
KHÓC NGƯỜI ĐÁY BIỂN
(Viết để khóc cho
ḿnh và cho những thuyền nhân kém may mắn
trên đường vượt biển t́m
Tự Do sau 1975)
Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về.
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Đứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan ḥa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nh́n sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô t́nh khói sương
Mà ḷng đ̣i đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tha'ng Tư!
Đau t́nh sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
C̣n tôi sống kiếp dân Hời v́ ai?
Ngô
Minh Hằng
Dù sao
đi nữa chúng ta vẫn c̣n phải mang ơn dân chúng và chính phủ của các
quốc gia đă giúp chúng ta chỗ tạm cư, cho phép chúng ta được định cư
hoặc đă cứu vớt chúng ta khi chúng ta đă tuyệt vọng v́ lạc lối, v́
hết lương thực hay v́ máy tầu đă hỏng mà không c̣n cách ǵ để sửa
chữa.
Không có ḷng nhân đạo và sự đối xử đầy t́nh người của đại đa số dân
chúng các quốc gia ấy, chúng ta không được như thế này ngày hôm nay.
Sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Đồng Người Việt Tự Do
Hải Ngoại ngày hôm nay chắc chắn sẽ không thể có được nếu không có
sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giớ Tự Do.
Ngày hôm nay sau 30 năm ly hương viết lại một phần nhỏ trong những
nỗi khổ đau của dân tộc không phải để đào sâu hận thù mà để cho
chúng ta hiểu và ghi nhớ những bài học lịch sử đó. Đó là bổn phận
của chúng ta những chứng nhân của giai đọan đau buồn này.
30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày
trở về để góp phần xây dựng cho quê hương bớt lạc hậu, giúp cho dân
tộc có được những bước đi căn bản dẫn đến một nền Tự Do, Dân Chủ
đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.
Điều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật
tâm muốn xây dựng quê hương, đặt Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi, từ
bỏ được chủ thuyết cộng sản ngoại lai đă du nhập và thoát được sự
chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.
Bùi
Trọng Cường
Viết cho tháng Tư
đen 2005
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People –
Quartemaine House 1979
Bich Huyền – The Trail I Will Never Forget - Lối Cũ Chẳng Sao Quên –
2000
Butler David – The Fall Of Saigon – Simon and Schuster New York 1985
Cao Văn Viên - Những Ngày Cuối Của Việt nam Cộng Ḥa – Vietnam
Bibliography 2003
Clark Marcus – Exit Visa – William Heinemann Australia 1989
Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản - Vụ Kiện WJC/UMAS Boston -
Nắng Mới Miền Nam 2004
Dawson Alan – 55 DAYS The Fall Of South Vietnam – Prentice Hall
International 1977
Diễn Đàn Sự Thật – Red File, 1945-1995 50 Years Of Violations Of
Human Rights in Communist Vietnam – 2005
Đào Văn B́nh - Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ - 1987
Đoàn Thêm – Nhà Quê Ra Tỉnh – Cơ Sở Xuất Bản Phạm Quang Khai và Tổ
Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1996
Dương Hiếu Nghĩa - Nước Việt Nam Cộng Ḥa Bị Bức Tử - Vanuxem - La
Mort Du Vietnam - Đại Nam 1997
Frankum B. Ronald Jr. & Maxner F. Stephen – The Vietnam War for
Dummies – Wiley Publishing, Inc 2003
Grant Bruce – The BOAT PEOPLE: An ‘AGE’ Investigation – Penguin
Books 1979
Hà Sĩ Phu – Đôi Điều Suy Nghĩ Của Một Công Dân – TIN Paris 1993
Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford
University Press 1982
Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về
Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000
Karnow Stanley – Vietnam A History – Century Publishing London 1983
Lê Đại Lăng – Bút Kư Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990
MJS Keys Young Planners P/L – Survey of Vietnamese Refugees –
Department of Immigration & Ethnic Affairs – 1983
Maga P. Timothy – The Complete Idiot’s Guide to The Vietnam War –
Alpha Books 2000
National Refugee Week 1989 – REFUGEES: Who do you think we are? –
Queensland Office of Ethnic Affairs 1989
NSW Refugee Fund Committeee – Hard Evidences of Corruption In
Screening Under The Comprehensive Plan Of Action – 1994
Nguyễn Bá Cẩn - Đất Nước Tôi – Ḥa Hảo Press 2003
Nguyễn Văn Canh – Vietnam Under Communism, 1975-1982 – Hoover
Institution Press Stanford University 1983
Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Đất Việt - Kiến Quốc 2003
Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest
December 1979
Phạm Huấn - Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 - 1987
Phạm Huấn - Những Uất Hận Trong Cuộc Chiến Mất Nước - 1988
Phạm Kim Vinh – Chính Nghĩa Lưu Vong C̣n Một Chút Này - 1991
Phan Nhật Nam - Những Chuyện Cần Được Kể Lại – 1995
Phùng Hy - Cuốn Theo Cơn Lốc – 1997
Refugee Council Of Australia – Vietnamese Boat People In Hong Kong –
September 1988
State of the World’s Refugees 2000: 50 Years of Humanitarian Action-
Chapter 4: FLIGHT FROM INDOCHINA
Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat
People: A CRY TO HUMANITY - 1994
Tucker C. Spencer – The Encyclopedia of the Vietnam War – Oxford
University Press 1998
Trần Nhật Kim - Cuộc Chiến Chưa Tàn – 1998
Trương Như Tảng – A VIETCONG MEMOIR: An Inside Account Of The
Vietnam War And Its Aftermath – Vintage Books 1986
Viviani Nancy – The Long Journey – Melbourne University Press 1984
Wain Barry – THE REFUSED: The Agony Of The Indochina Refugees –
Simon & Schuster 1981
http://www.art2all.net/thanquen/banHQ/thang4thuongnho/ditan-vuotbien.html
|