Tiếng Anh, Ôi Tiếng Anh !

Trần Quốc Sỹ

***

Sống trên đất nước Hoa Kỳ, khả năng nói, viết và hiểu tiếng Anh đối với tập thể người Việt tị nạn là một điều tối cần thiết cho công việc làm ăn sinh sống hàng ngày.  Đối với những người định cư lâu năm hay những bạn trẻ sanh đẻ tại đây, nói tiếng Anh là điều thật dễ dàng.   Nhưng đối với những người mới đến hoặc những vị lớn tuổi, việc phải dùng tiếng Anh để giao dịch quả là một cực h́nh. 

 

Riêng tôi, câu Anh ngữ đầu tiên tôi được học trong đời là What's this? This is a book trong quyển Let's Learn English.  Năm đó tôi 10 tuổi và đang học lớp Nhất.  Vậy mà, sau 7 năm Trung học, 4 giờ một tuần cho môn Anh Văn, thêm 11 tháng thụ huấn tại trường Sinh Ngữ Quân Đội, rồi 9 tháng du học tại Lackland Airforce Base và Keesler Airforce Base, và gần 27 năm định cư tại Quận Cam, các bạn biết không? Anh Ngữ, đối với tôi, vẫn là thứ ngôn ngữ được liệt vào loại khó học, rắc rối và phức tạp v́ cách cấu trúc văn phạm của nó hoàn toàn khác với tiếng Việt của chúng ta. 

 

Bạn không tin ư? Mời bạn cùng tôi điểm qua một vài vấn đề.

 

Thứ nhất, vấn đề chia động từ.

Trong tiếng Việt, chúng ta không phải đổi động từ khi nói về quá khứ hoặc tương lai.  Để diễn tả một hành động, sự việc trong quá khứ, thí dụ như ngày hôm qua, chúng ta chỉ cần thêm từ “hôm qua” vào đầu câu.  Thí dụ như chúng ta nói “Hôm qua tôi đi chợ”.  “Hôm qua” tự nó đă nói lên hành động “đi chợ” trong quá khứ rồi, cần ǵ phải đổi động từ “đi” làm ǵ cho mệt.  Hay là chúng ta thêm vào trợ động tự “đă” như trong câu “Thuư đă đi rồi”, hoặc đôi khi, cho gọn lẹ, chúng ta bỏ luôn chữ “đă”, như trong câu “Tôi ăn rồi”.  Thật dễ dàng phải không bạn ?

 

Nhưng tiếng Anh không giản dị như vậy.  Chúng ta không được nói “Yesterday, I go to the supermarket” mà phải nói “Yesterday, I went to the supermarket”.  Đă dùng chữ “yesterday” để chỉ ngày hôm qua mà lại c̣n phải đổi động từ “go” thành “went” nữa.  Vô ích.

 

Đây là lỗi thông thường nhất mà người Việt chúng ta thường vấp phải khi mới học tiếng Anh.

Tôi nghe nói trong tiếng Pháp, tiếng Spanish, tiếng Đức, việc chia động từ  c̣n phức tạp hơn nhiều, nhưng đối với tôi, chia động từ tiếng Anh cũng đủ nhức óc rồi.

 

Động từ trong tiếng Anh có ba thể.  Thể hiện tại, thể quá khứ và thể quá khứ phân từ.  Mặc dầu, hầu hết, chúng ta chỉ cần thêm hai mẫu tự “ed” vào cuối động từ để đổi chúng ra thể quá khứ hay quá khứ phân từ, như trường hợp của động từ “to look”, khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân từ thành “looked”.  Nhưng tiếng Anh lại có một danh sách dài, gồm 154 động từ cả thảy,  được coi như những động từ bất thường, không theo quy luật “ed”.   Thí dụ như động từ “to go” khi đổi sang quá khứ, không thể thêm “ed” để trở thành “goed” mà phải dùng “went” (chẳng thấy dính dáng ǵ đến “go” cả), cho thể quá khứ và “gone” cho thể quá khứ phân từ.  Trong khi đó động từ “to do” (viết gần giống động từ “to go”) khi đổi sang quá khứ lại là “did” chứ không là “dent”.  Động từ  “to learn” (học) có thể quá khứ được viết là “learned” or “learnt”cũng được.

 

Có lẽ rắc rối nhất là trường hợp của các động từ “to lie” (nói dối), “to lie” (nằm), và “to lay” (đặt xuống).  Động từ “to lie” (nói dối) khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân từ sẽ trở thành “lied”, trong khi đó động từ “to lie” (nằm) tuy viết giống nhưng khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân từ lại trở thành “lay”, “lain”,  và động từ “to lay” (đặt xuống) khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân từ sẽ là “laid”.

Ba động từ này rất dễ lẫn lộn trong cách dùng.

 

Một trường hợp nữa cũng khá rắc rối đó là trường hợp của động từ  “to rise” (đi lên) và “to raise” (giơ lên, nâng lên).   “To rise” chỉ hành động đi lên, như “quả bóng bay lên cao”, trong khi đó, động từ “to raise” chỉ hành động giơ lên, như “giơ tay lên”.   “To rise” khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân sẽ trở thành “rose và risen”, trong khi đó động từ  “to raise” khi đổi sang quá khứ và quá khứ phân từ lại trở thành “raised”.  Khổ thật.

 

Thứ hai, vấn đề số nhiều.

Trong tiếng Việt, chúng ta nói “Hai con vịt”, chứ không nói “vịt-sờ”, v́ đă là “hai” đương nhiên phải là số nhiều rồi, tại sao lại phải thêm “s”, thêm phiền phức.  Nhưng trong tiếng Anh, chúng ta buộc phải dùng số nhiều khi đặt câu.  Thông thường, chúng ta thêm chữ “s” vào cuối danh tự để biến chúng thành số nhiều.  Nhưng, lại chữ nhưng quái ác, tiếng Anh cũng có một danh sách dài của những danh tự bất thường, khi đổi sang số nhiều không theo quy luật thêm “s” này.

 

Những trường hợp điển h́nh được ghi lại dưới đây.

Danh từ “foot” (bàn chân) khi đổi sang số nhiều trở thành “feet”, không giống như  danh từ “booth” (quầy, hay ghế đệm) khi đổi sang số nhiều ta chỉ cần thêm “s” để trở thành “booths”.  Thông thường, những danh từ tận cùng bằng chữ “o”, như “potato” (khoai tây) hay “hero” (vị anh hùng) khi đổi sang số nhiều phải thêm “es” để thành “potatoes” và “heroes”.   Nhưng danh từ “auto” (một chiếc xe), và nhiều danh từ tương tự, khi đổi sang số nhiều, không theo quy luật này nên chúng ta chỉ cần thêm “s” để trở thành “autos”.   Vậy th́,  bạn hỏi, danh từ “mosquito” (con muỗi) khi đổi sang số nhiều th́ sao ? “mosquitos” hay “mosquitoes” ?  Dạ thưa, cả hai đều đúng, cũng giống như trong trường hợp của danh từ “volcano” (núi lửa), số nhiều có thể dùng “volcanos” hay “volcanoes” và danh từ “buffalo” (con trâu) cũng có thể dùng  “buffalos” và “buffaloes” cho số nhiều.   

 

Những trường hợp bất thường khác như : “One child” (một đứa bé) nhưng lại “two children” (hai đứa bé) và “one goose” (một con ngỗng) và số nhiều là “two geese” (hai con ngỗng).  Trong khi đó, “one moose” (một con hươu) số nhiều là “two mooses” (hai con hươu), không phải “two meese”.  Nếu vậy, một con trừu là “one sheep” th́ hai con trừu th́ viết làm sao ?  Dạ thưa, hai con trừu cũng giống như một con trừu: “one sheep” hay “two sheep”, cũng thế.  Tương tự như trường hợp của một con cá, được viết là “one fish” và hai con cá là “two fish”, chỉ khác ở chỗ, khi được viết “fishes”, danh từ này dùng để chỉ tất cả loài cá.  Tương tự, “one person” (một người) và “two people” (hai người) nhưng danh từ “peoples” dùng để chỉ loài người (chữ này ít dùng, thường người ta dùng “man-kind” hay “human”).

 

Ngoài ra, Anh ngữ c̣n có những danh từ số ít hay số nhiều viết cũng giống nhau nhưng với chữ “s” theo sau.  Thí dụ như danh từ “barracks” (trại lính), danh từ “series” (một chuỗi), vân…vân?  V́ vậy, khi chúng ta viết “one barracks” hay “one series” th́ chúng hoàn toàn đúng theo văn phạm.

 

Thứ ba là vấn đề phát âm. 

Có lẽ đây là vấn đề nhức đầu nhất của những người mà Anh ngữ là sinh ngữ phụ.  Nhất là đối với người Việt Nam chúng ta.

 

Trong tiếng Việt, chữ viết giống nhau, đọc giống nhau.  Thí dụ như “ông”, “thông”, “công”, “bông”, “đông”, “sông” vân…vân…Nhưng trong Anh ngữ, điều này không hẳn như vậy.

 

Những chữ viết giống nhau, không đọc giống nhau, như trong trường hợp của liên tự “though”(mặc dầu) đọc là “thzầu”, trong khi đó trạng tự “through”(xuyên qua) đọc là “thru” và danh từ “thought” (ư nghĩ) lại đọc là “thót-tờ”, viết và đọc giống như quá khứ của động từ  “to think” (suy nghĩ).   Danh từ  “poor” (người nghèo) được đọc là “pua-rờ”, trong khi đó danh từ “door” (cánh cửa), viết cũng thế, lại được đọc là “đo-rờ”.  Tĩnh từ “hurry” (vội vă) đọc là “hơ-ry” trong khi đó, động từ “to bury” (chôn cất), có thể quá khứ là “burried”, lại đọc là “be-ry”, cùng âm với danh từ “berry” (trái dâu).   Động từ “iron” (ủi), viết giống danh từ “iron” (thanh sắt) đọc là “ai- ân” v́ chữ “r” câm, và danh từ “island” (quần đảo) đọc là “ai-lân-đờ” v́ chữ “s” câm, tương tự như danh từ “hour” (giờ) đọc là “ao-ờ-rờ” v́ chữ “h” câm.  Nhưng danh từ “house”(cái nhà) hay “hound”(con chó săn) th́ chữ “h” phải được phát âm. Danh từ “chaos”(sự hỗn loạn) đọc là “cây-ó-sờ” chứ không đọc là “chao-sờ”.

 

Tôi nhớ lại vào năm 1975, khi thấy chiếc xe hơi hiệu “Plymouth”, tôi đọc là “plai-mao-thờ”, th́ liền bị bà bảo trợ tôi chỉnh liền.  Bà nói, “Plymouth” đọc là “plí-mụt-thờ”.  Tôi liền hỏi, thế tại sao “ply” (một xấp) đọc là “plai” và “mouth” (cái miệng) đọc là “mao-thờ”?  Bà ta chịu, không giải thích được.

 

Tiếng Việt chúng ta có dấu, có âm.  Tiếng Anh cũng thế.  Nếu một người Mỹ nói tiếng Việt không dấu hay bỏ dấu không đúng, th́ nghe cũng giống như một người Việt Nam nói tiếng Anh mà nhấn không đúng chỗ.  Thí dụ danh từ “apartment” (chung cư) phát âm là “a-pát-tơ-mần” chứ không phải “át-pạt-tơ-mân” như nhiều người Việt thường nói.

 

Nhiều chữ tiếng Anh viết giống nhau nhưng phát âm khác nhau.  Thí dụ như động từ “to produce” (sản xuất), phát âm là “pro-đíu-sờ” trong khi đó danh từ “produce”(sản phẩm) được phát âm là “pró-điu-sờ”.  Động tự “read” (đọc) được phát âm là “rí-đờ”, trong khi đó quá khứ và quá khứ phân từ của nó, tuy cũng viết là “read”, nhưng phải phát âm là “rét-đờ”, cùng âm với tĩnh tự “red”(màu đỏ). 

 

Ngày c̣n trong trại Pendleton, tôi đă được chứng kiến một chuyện “bất đồng ngôn ngữ” cười ra nước mắt.  Hôm đó, chúng tôi đang đứng sắp hàng lấy thức ăn điểm tâm.  Đến chỗ lấy hog-dog, trên khay chỉ c̣n một cái.  Một anh tị nạn đi trước tôi, chỉ vào cái hot-dog, hỏi người lính Mỹ phụ trách việc phát thức ăn:

-Pi-ní-sờ ? (ư anh muốn hỏi là “finish”, phát âm “phí-ni-shờ” - hết rồi, phải không ?) nhưng anh lại phát âm thành “penis” (dương vật của đàn ông, phải không ?) thế mới chết.

 

Báo hại người lính Mỹ xua tay lia lịa, phân bua:

- No, no, it's not penis.  My god, we don't serve it here.  (Không, không, không phải “nó”.  Ở đây không có “nó”).

 

Nhiều người đứng trong hàng biết Anh ngữ ôm bụng cười nắc nẻ.  Riêng anh chàng Việt Nam tị nạn mặt cứ đờ ra không hiểu tại sao.   

 

Ngoài ra, so với tiếng Việt, tiếng Anh c̣n có nhiều điều ngược ngạo và vô lư.

Này nhé, trong tiếng Việt, chúng ta đặt tĩnh tự sau danh tự.  Thí dụ như “cái xe đỏ” hoặc “ngôi nhà trắng”.   Nghe xuôi tai.  Nếu viết “cái đỏ xe” hay “ngôi trắng nhà” nghe kỳ làm sao.

 

Trong khi đó, trong tiếng Anh, họ lại viết “A red car”, “A white house”.  Thế có giận không chứ ?

 

Trong tiếng Việt, chúng ta theo thứ tự ngày, tháng, rồi mới tới năm, rất hợp lư.  Trong khi đó, trong tiếng Anh họ lại đặt tháng trước, rồi ngày, rồi mới đến năm. Rất nhiều người Việt mới định cư vẫn c̣n lẫn lộn về vấn đề này.

 

Trong tiếng Việt, chúng ta để dấu đồng sau số tiền.  Thí dụ như 5$ (năm đồng, rất xuôi).  Trong khi đó, trong tiếng Anh họ để dấu đồng đi trước số tiền, $5 (đôla năm).

 

Tiếng Việt dùng dấu phẩy cho số thập phân và dấu chấm cho hàng ngàn, th́ trong tiếng Anh họ lại dùng dấu chấm cho số thập phân và dấu phẩy cho hàng ngàn.

 

Trong tiếng Việt, chúng ta viết tên họ, rồi tên đệm, rồi mới đến tên gọi (theo thứ tự trọng-khinh, rất hợp lư). Trong khi đó, tiếng Anh, họ lại đặt tên gọi đi trước, rồi đến tên họ.  Nếu một chị tên là Công Tằng Tôn Nữ Thị Hạnh Phúc ngày đầu tiên đi xin thẻ I-94, không biết nhân viên sở di trú phải viết tên chị như thế nào nhỉ ?  Phiền thiệt. 

 

Các bạn đă lẫn lộn chưa ?  Nếu chưa, xin mời bạn tiếp tục.

 

Anh ngữ quả là một ngôn ngữ kỳ quặc.  Chúng ta hăy xem những trường hợp dưới đây.

(Phần này có thể khó hiểu với một vài đọc giả)

- Trong trái “eggplan” (quả cà tím) làm ǵ có “egg” (trứng). 

- Trong cái “hamburger” của McDonald làm ǵ có “ham” (thịt heo), mà chỉ có miếng thịt ḅ.  Đáng lẽ phải gọi là “beefburger”.

- Tại sao gọi cái tṛn tṛn, dài dài, cặp giữa miếng bánh ḿ là “hot-dog”?  Nó chẳng nóng, chẳng cay mà ăn cũng chẳng giống “nai đồng quê” tí nào. 

- Trong “pineapple” (trái thơm), làm ǵ có “pine” (cây thông) hay “apple”( trái táo).

- “Flydragon”(con chuồn chuồn) đâu có giống con rồng (dragon) chút nào.

- “English muffins” (một loại bánh ḿ điểm tâm) chẳng được phát minh tại Anh và “French fries” (khoai tây chiên) cũng chẳng được phát minh tại Pháp.

- “Quicksands” (băi đầm lầy) thực ra giết người rất chậm.

- “Boxing ring” (ṿng đấu quyền Anh) không tṛn mà lại h́nh vuông.

- “Guinea pig” (một loại chuột hay được dùng trong pḥng thí nghiệm) chẳng phải từ Guinea mà cũng chẳng phải là giống pig (heo).

- Chúng ta “Ship by truck (car)” nhưng lại “send cargo by ship”?

- Chúng ta nói “running nose” nhưng lại nói “smelling feet”?

- Chúng ta “park on driveways” nhưng lại “drive on parkways”?

- Tại sao “slim chance” lại có thể đồng nghĩa với “fat chance”?

- Tại sao “wise man” lại có thể phản nghĩa với “wise guy”?

- Tại sao “overlook” lại có thể phản nghĩa với “oversee”?

- Tại sao “quite-a-lot” có thể đồng nghĩa với “quite-a-few”?

- Tại sao gọi là “pair of pants” khi chỉ có “một cái quần”.  Nếu lư luận rằng v́ nó có “hai” ống quần th́ tại sao không gọi là “pair of shirts” ?

- Tại sao khi “stars are out” ta thấy sao, nhưng khi “lights are out” ta chẳng thấy ánh sáng?

 

Rắc rối quá phải không các bạn ?

 

Đến đây, tôi xin kể cùng các bạn một chuyện thật đă xảy ra cho chính tôi, mà cho đến bây giờ, mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy buồn cười.

 

Chuyện xảy ra khoảng năm 1983.  Một buổi sáng, tôi nói với một cô bạn, người Mỹ trắng, cùng sở:

- Barbara, last night I went to see “Tootsie” and it was very good ?  (Barbara, tối hôm qua tôi đi xem “Tootsie”, phim hay lắm.  (“Tootsie”, là một phim nổi tiếng thời bấy giờ, được thủ diễn bởi Dustin Hofman))

 

Babara, sau khi nghe xong, bỗng ném cho tôi một cái nh́n khó hiểu.  Tôi cảm thấy hơi kỳ, cắt đứt câu chuyện và quay gót trở về pḥng làm việc.  Cả ngày tôi vẫn thắc mắc về chuyện đó nhưng không tiện hỏi cô ta.

 

Vài ngày sau, Barbara đến nói với tôi:

- Steve, I went to see “Toosie” last night and you're right, it was good. (Steve, tôi cũng đi xem phim “Tootsie” tối hôm qua, anh nói đúng, phim rất hay).

 

 Tôi bỗng nhớ đến cái nh́n khó hiểu của cô ta mấy hôm trước nên hỏi:

- How come, the other day, when I told you I went to see “Toosie”, you gave me a strange look.  Did I say something wrong? (Tại sao hôm nọ khi tôi nói tôi đi xem phim “Tootsie”, cô nh́n tôi với ánh mắt lạ kỳ như là tôi nói một câu ǵ không phải ?)

 

Barbara mỉm cười nói:

- Cause, when you said “Tootsie” you did not sound like “Tootsie”, you sounded like “something” else, and you don't discuss that “thing” with women (Bởi v́ khi anh nói “Tootsie” anh phát âm không giống “Tootsie”, mà lại nghe giống như cái “ấy”, và anh không bao giờ nên nói về cái “ấy” với phụ nữ).

 

Tôi chợt hiểu và nghe tai nóng bừng.  Thật là tai hại cho sự lầm lẫn vô t́nh của tôi. Cũng may ngày ấy, chưa có vấn đề sexual harrassement (sách nhiễu t́nh dục) nơi sở làm, nếu không, tôi đă có thể bị xếp gọi lên “dũa” cho một trận.

 

Cũng v́ thế, trong cái ngôn ngữ kỳ quặc này, khi tôi “wind up” cái đồng hồ đeo tay, tôi bắt đầu cho nó chạy, nhưng khi tôi “wind up” bài viết này, th́ tôi lại chấm dứt nó.  Thật lạ.

 

Trần Quốc Sỹ