Chăn trâu: giấc mơ đời tôi.

Thân tặng hai bạn tôi: Huỳnh Văn Phú – Phan Nhật Nam,

một thời gông cùm trong chốn lao tù Cộng sản,

một thuở b́nh yên trên quê hương tạm dung nầy.

Nguyễn Phi Thọ

 

 

Ông Phán ngồi trầm ngâm trên nền patio được dựng phía sau căn nhà sang trọng của ông trị gía hơn 1 triệu Mỹ kim. Nh́n ra xa hơn, vịnh Galveston với những làn sóng li ti đang đùa cợt trên cát vàng. Không khí tịch mịch nơi đây khiến tâm hồn ông lắng xuống. Ông nhớ về qúa khứ.

Người ta nói đúng, tuổi trẻ hướng về tương lai, tuổi ǵa thích nh́n lại qúa khứ. Họ thích sống lại qúa khứ trong tiềm thức. Ông Phán cũng không thoát ra khỏi thông lệ nầy.

Ông nhớ lại 35 năm về trước khi tuổi đời chưa tới 30. Chọn binh nghiệp làm cuộc sống cho ḿnh trong một đất nước chiến tranh, ông không hối hận, tuổi trẻ sinh vào thời điểm như vậy th́ đành chịu vậy. Ông không oán trách chiến tranh nhưng ông buồn cho một quê hương xinh đẹp như quê hương của ông phải bị tàn phá tan nát v́ bom đạn, tuổi trẻ như ông càng ngày càng ra đi mà ít người trở về. Là một trung úy trong một binh chủng danh tiếng Thủy Quận Lục Chiến, hầu như trên bốn vùng chiến thuật không nơi nào ông không thiếu dấu chân ông. Những cuộc tiến quân từ vùng biển xanh miền trung lên đến trời đất hạ Lào nắng cháy, những trận đánh vào sinh ra tử trong các các hang động quân thù, không chỗ nào ông không có mặt. Những chiến thương bội tinh ông nhận được không thiếu trên ngực áo mỗi lần ông đứng trước ba quân. Thế nhưng may mắn làm sao, ông không nhận được “huy chương tử vong” như các bạn đồng trang lứa. Sống trong thời chiến, ông không  có mơ ước nào hơn là được sống c̣n, chờ ngày đất nước thanh b́nh, không chiến tranh để trở về sống với xóm làng như thuỡ trước khi đất nước bị phân chia.

Mặc dù chinh chiến đă làm cho cuộc sống của ông bất ổn, không ở được nơi đâu lâu hơn ba tháng, nhưng cuối cùng ông cũng lấy được một người vợ miền Trung xinh đẹp. Sau một tuần trăng mật trong căn pḥng trọ nghèo nàn, ông lại lên đường tiếp tục hành quân giết giặc. Cuộc sống cứ thế ngày nầy tới ngày khác, tháng nầy qua tháng kia.

Rồi một biến cố xảy ra cho đất nước: 30 tháng 4 năm 1975 đến. Ông cũng như nhiều người lính miền Nam phải buông súng khi chưa được đánh một ván bài lớn trên chiến trường. Nỗi đau nhất của người lính là chưa được chiến đấu mà bắt phải buông súng đầu hàng. Người lính hoàn toàn vô tội về cái nhục khôn lường nầy; nhưng chính là đám tướng lănh lănh đạo qúa tồi tệ được đào tạo từ thực dân Pháp. Nhiều báo chí người Việt thường dùng cụm từ “những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến”; ông không hài ḷng về lối dùng chữ như vậy. Trận chiến ngày 30 tháng tư đă đánh đấm lúc nào đâu, sao gọi là cuối cùng. Bắt đầu chưa có th́ không bao giờ có cuối cùng. Người lính miền Nam đă bị phản bội, bị bán đứng. Ông nghĩ ông cũng là một trong tập thể bị bán đứng nầy.

Ông c̣n nhớ ngày 30 tháng tư, ông tập họp anh em dưới quyền, bên một gốc cây trong công viên thành phố. Ông nói:

- Như anh em biết rồi, ông tướng Minh đă bắt chúng ta buông súng. Nếu tôi và anh em không muốn cũng không được. Vậy từ giờ phút nầy anh em có quyền t́m sự lựa chọn anh em muốn. Chúng ta chia tay. Cầu chúc anh em trở về với gia đ́nh bằng yên.

Ông bắt tay từng người một. Nước mắt ông chảy ra trên đôi mắt sâu hoắm sau nhiều đêm không có được một giấc ngủ b́nh an. Ông định quay trở về miền Trung gặp lại người vợ trẻ để t́m cách thoát ra khỏi nước như hàng trăm vạn người đang cố làm. Nhưng ư định đó không thể thực hiện được. Người dân miền Trung đang ùn ùn kéo nhau chạy vào Nam th́ có ai lại chạy ra Trung lúc nầy? Ông quyết định t́m đường ra khỏi nước. Ông hiểu đây là điều ô nhục cho một cấp chỉ huy như ông; nhưng không c̣n sự lựa chọn nào hơn. Hăy cứ tạm thoát thân trước rồi tương lại tới đâu sẽ tính sau. Trong cơn hấp hối nầy, ngồi đó để tính chuyện xa hơn là một ảo tưởng.

Cuối cùng rồi ông cũng kiếm được một chỗ  trên con tàu HQ, thoát ra khỏi cửa sông Sàig̣n, trực chỉ hướng Đông để ra biển. Ông bỏ nước ra đi mà không biết đi về đâu, quốc gia nào. Đi đâu cũng được. Ông chỉ muốn ra khỏi Việt Nam trong lúc nầy để tránh bọn giặc Cộng sẽ trả thù người lính miền Nam khi chúng vào đây. Ông cảm thấy vô cùng ân hận v́ chuyến đi “bất đắc dĩ” khi c̣n để lại quê nhà một bà mẹ ǵa, một đứa em gái tuổi đôi mươi. Không biết đứa em gái của ông sẽ xoay xở làm sao để nuôi dưỡng mẹ trong lúc vắng ông, nhất là dưới chế độ khắc nghiệt mới. Ông để lại người vợ trẻ mới cưới chưa được bao ngày, nay không biết nàng trôi dạt nơi nào. Nhưng đă lỡ ra đi th́ không c̣n con đường trở lại.

Khi đến Guam, ông Phán c̣n một cơ hội để trở về. Chiếc tàu VN Thương Tín sẽ mang những ai muốn trở về Việt Nam . Ông thức trắng nhiều đêm để t́m một quyết định thật khó khăn. Về hay ở? Lúc nầy, mỗi người đều có một lối giải thích cho chính hoàn cảnh của ḿnh. Người trở về chưa chắc đă khôn và người ở lại lấy ǵ chứng minh là dại. Hoàn cảnh của ông thật khó giải quyết. Nhưng sau nhiều đêm mất ngủ để t́m một giải pháp thích hợp, ông quyết định ở lại. Ông nghĩ rằng một ngày nào đó ông sẽ được trở về trong b́nh yên hơn lúc nầy. Hoặc nếu không về, biết đâu có thể mang mẹ, vợ và đứa em gái của ông ra khỏi nước nay mai. Chuyện ngày mai ra sao, không ai biết, nhưng một điều ông nhất quyết khẳng định với bạn bè trong trại tỵ nạn: về lúc nầy là nhất định không ổn với bọn cộng sản. Lời tiên đoán của ông đă trở thành sự thực.

Khi ông đặt chân đến đất Mỹ, không phải chỉ có hai bàn tay trắng mà tất cả đều trắng. Trắng từ trong tâm hồn đến ngoài thể xác; trắng từ nghề nghiệp tới học hành. Ông không có một chút ǵ mang từ Việt Nam sang để có thể áp dụng được nuôi bản thân trên đất nước xa lạ nầy. Một nghề căn bản và nhiều kinh nghiệm của ông mang ra thi thố kiếm sống lúc nầy hoàn toàn không thích hợp: đánh giặc. Cho nên tự ông an ủi:“Ta bắt đầu làm lại từ đầu”. Ông làm lại từ đầu bằng những công việc mà khó ai có thể tưởng tượng nỗi: chăm sóc cho người điên. Thật là khủng khiếp! Khủng khiếp c̣n hơn ông đụng độ với cộng quân trên trên chiến trường ngày trước. Và chính v́ công việc khủng khiếp nầy nên đă đưa đẩy ông tới một khúc quanh khác trong nghề nghiệp. Ông bỏ job săn sóc cho người điên, quyết tâm đi học để kiếm một nghề nghiệp tương đối ổn định và nhẹ nhàng hơn.

Sau hai năm “dùi mài kinh sử” với mảnh bằng sửa điện lạnh, ông t́m được một công việc tương đối nhàn hạ trong một xưởng điện tử. Nhờ sự chuyên cần học hỏi để thăng tiến, cuối cùng ông cũng mua được một căn nhà như thiên hạ. Ông hănh diện từ nay ông làm chủ được một bất động sản, mặc dù phải kư giấy với nhà Bank trả ṛng ră 30 năm. Dần dà ông nghiên cứu và t́m ra một phương cách để tự làm chủ lấy ḿnh, ông nhận đồ điện tử ở hăng về nhà làm thêm. Căn nhà chứa xe (garage) nay đă trở thành một nơi làm việc điện tử. Càng ngày, nhờ tài chịu khó và được ḷng với chủ hăng, công việc nhận đồ về nhà làm càng phát triển mạnh. Ông bắt đầu thuê thêm người. V́ sự gia tăng công việc nhanh chóng nên căn nhà chứa xe không c̣n đủ chỗ cho nhân viên làm việc; hơn nữa ông sợ hàng xóm nghi ngờ xử dụng nhà ở làm chuyện buôn bán, ông quyết định mướn một địa điểm bề thế hơn để hoạt động.

Từ ngày di chuyển sang địa điểm mới, công việc trong hăng ông phát triển nhanh chóng và vững vàng. Nhờ những cố gắng vượt bậc đó, ông đă tạo được uy tính, công ty cung cấp cho ông công việc thêm tin tưởng. Bây giờ ông chính thức nghỉ việc ở hăng, tự ḿnh đứng ra làm chủ một công ty điện tử riêng mang tên “PVN Electronics Assembly Services”. Ba chữ PVN được ông ghép lại từ tên ông là Phán và Việt Nam.

Sau thời gian hoạt động gần ba năm, công ty PVN nay đă có tới hàng chục nhân viên làm việc. Hầu hết những nhân viên trong hăng là người Việt Nam mới sang Mỹ định cư. Ông muốn giúp đỡ họ trong giai đoạn chân ướt chân ráo nhập hội và đời sống Mỹ. Một điều mà những nhân viên Việt Nam của ông, thường sau một thời gian họ có kinh nghiệm, họ xin nghỉ việc t́m hăng xưởng khác lớn hơn để có thu nhập nhiều hơn cho gia đ́nh. Một số khác th́ tách rời để tự xây dựng một chỗ đứng cho chính ḿnh như ông đă làm trước đây. Thường thường những chuyện như vậy xảy ra sẽ làm cho một số ông chủ khó chịu; nhưng đối với ông, ông rất vui vẽ khuyến khích họ. Bất cứ nhân viên nào trước khí ra đi, ông cũng tặng cho họ một số tiền khá lớn. Ông quan niệm ḿnh có được ngày hôm nay cũng là nhờ công lao làm việc siêng năng chuyên cần của nhân viên.

Tuổi đời vừa mới 36 nhưng trong tay ông đă có bạc triệu. Suốt thời gian quần quật lo việc làm ăn, ông vẫn không quên nghĩ đến người vợ trẻ đă năm năm không liên lạc được. Ông vẫn cố gắng t́m kiếm nhưng tin nàng biệt vô âm tính. Thời gian nầy cũng chưa có một chương tŕnh nào về chuyện bảo lănh cha mẹ vợ con. Ông biết qua tin tức thập niên 75-85, đất nước đang trải qua một gia đoạn vô cùng kinh hoàng và khốn khổ dưới chế độ mới. Người ta phải bán hết tất cả những ǵ trong nhà c̣n lại để mà sống, mà vẫn sống không đủ. Cộng sản kiềm toả hết mọi chuyện, vậy th́ người trong và ngoài nước lúc bấy giờ ai dám mơ tới chuyện đoàn tụ gia đ́nh. Cuối cùng, ông nhận được tin bên quê nhà cho biết người vợ trẻ của ông đă lập gia đ́nh. Ông không buồn và c̣n thông cảm cho cô. Ông ra đi không một lời giă biệt; và cô cũng không biết ông đi đâu, tới đất nước nào. Cô cũng không bao giờ dám nghĩ chồng ḿnh sẽ trở về. Ngay cả những người lính Cộng Ḥa bước vào nhà tù sau ngày 30 tháng 4 cũng không mong chi ngày trở về, huống chi ông ra đi biền biệt đă gần năm năm. Cho nên, ông bắt đầu t́m kiếm người vợ mới để cùng nhau đi trọn quảng đời c̣n lại.

Lập gia đ́nh xong, nhờ có bàn tay trợ giúp của người đàn bà bên cạnh, công việc kinh doanh của ông càng ngày càng đi lên. Hai đứa con, một trai một gái nay đă trưởng thành và hoàn tất chương đại học bốn năm. Ông rất phóng khoáng trong việc con cái muốn t́m một hướng đi riêng cho chúng. Không như những bố mẹ khác bắt con cái phải đi học ngành bác sĩ, luật sư như ḿnh muốn. Ông có đủ khả năng tài chánh để lo cho hai con học hành tới nơi tới nếu chúng muốn mà không cần tới chuyện vay mượn chính phủ. Ông cho chúng tự do định đoạt lấy tương lai của ḿnh. Đứa nào muốn học tiếp, ông sẽ cung cấp tiền bạc, đứa nào muốn “take over” công ty điện tử của ông, ông giao cho.

Hai đứa con ông cũng thuộc loại biết đắn đo hơn thiệt. Chúng nghĩ rằng nếu tiếp tục đi học để ra ông bác sĩ, luật sư cũng không đến nổi vất vă v́ tiền học đă được bố mẹ chu cấp. Nhưng ra trường rồi th́ tương lai sẽ ra sao, về đâu. Dĩ nhiên với những bằng cấp bác sĩ, luật sư, tệ lắm cũng được vài trăm ngàn một năm; nhưng để xây dựng một cơ nghiệp lên tới hàng chục triệu Mỹ kim như bố mẹ, không phải là chuyện dễ. Sau cùng cả hai anh em quyết định “take over” công ty điện tử để tiếp tục mở rộng thêm lănh vực hoạt động. Nếu thu nhập cứ tiếp tục tốt đẹp như thế nầy, chẳng mấy chốc hai con ông sẽ nắm vài chục triệu Mỹ kim trong tương lai.

Ngay sau khi giao lại công ty cho hai con, ông bà Phán chấm dứt cuộc vật lộn với “miếng cơm manh áo” sau 32 năm làm việc không ngưng nghỉ. Bây giờ là lúc ông muốn cùng vợ đi chu du khắp thế giới, vui hưởng tuổi già.

Ông Phán đă làm một chuyến đi xa đầu tiên kể từ khi nghỉ hưu: về Việt Nam. Sự thực ông không mấy ham về Việt Nam để du hí như những người bạn của ông, nhưng ông muốn về lại nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông được sinh ra và lớn lên trước năm 1954. Xa quê từ năm lên 10 để vào Nam, nhưng h́nh ảnh quê ông không làm sao phai mờ. Con sông bé, cây đa đầu làng, ngôi miếu cổ, con đê dài với những bụi tre cao vút, cánh đồng xanh với đàn trâu nghỉ ngơi giữa trưa hè nắng chói .v..v. c̣n như in măi trong tâm trí óc ông suốt hơn năm thập niên qua. Được nh́n và sống lại những ngày thơ ấu chính trên mănh đất cha mẹ đă sinh ra ḿnh, thở được không khí trong lành của miền quê mà ông đă không tận hưởng được hơn 60 năm qua, thật tuyệt vời. Chỉ có một điều ông đang đứng trước mảnh đất nhà ông thuỡ thiếu thời, nhưng tất cả như xa lạ. Tất cả đă đổi thay, đổi thay kinh khủng. Phải đi xa khỏi làng hai ba cây số mới thấy lại được cảnh cũ nhưng không c̣n người xưa. Ở đây mới chính là là h́nh ảnh yên tỉnh và b́nh yên như làng ông cách đây hơn nữa thế kỷ trước. Mỗi buổi sáng bước ra khỏi giường không như ở Mỹ, mệt mơi, uễ oải, thân thể đau nhức... nhưng nơi chốn nầy ông rất thoải mái sau khi thức dậy, không một chút mệt mơi, bần thần.

Ông chán ngấy cảnh sống tấp nập, ồn ào, bụi bặm và rất vô trật tự của thành phố Sài g̣n bây giờ. Người ta đang sống ở đây vội vàng, chán năn, bất cần ngày mai và hầu như họ muốn sống nhanh kẻo sợ chết vội.  Sau hơn một tuần lễ sống trên quê ông, ông Phán trở về Mỹ mang theo một hoài bảo nhưng không biết vợ và con ông có đồng ư cho ông thực hiện hay không: trở về quê cũ sống hết cuộc đời c̣n lại. Ông đưa ư nguyện nầy ra trước bà vợ. Ông thuyết phục:

- Bây giờ tôi đă hơn 65 rồi. Công việc làm ăn sau gần 35 năm nay đă yên ổn, giao cho con cái. Chúng nó đă lớn khôn và điều hành thay tôi một cách tốt đẹp. Tiền hưu của Mỹ hưởng không bao nhiêu nhưng cũng xác nhận rằng tôi đă chính thức được về nhà hưởng thú điền viên, làm việc ǵ ḿnh thích, hưởng những ǵ ḿnh muốn. Tôi đă có đủ mọi thứ ḿnh muốn mặc dù không được xa hoa lộng lẫy như người khác, tôi đă hưởng đủ những thứ tôi thích và tôi hài ḷng về những thụ hưởng đó. Trời cũng cho tôi một sức khỏe khá tốt hơn những bạn bè bất hạnh khác, chưa tới 60 mà đủ thứ bệnh tật trong người. Khổ nhất là những người bạn bị “trock” bất ngờ. Không ai dám nói ḿnh biết trước biến cố đau thương đó. Bây giờ, tôi muốn tôi với bà về Việt Nam sinh sống cho những ngày cuối của cuộc đời. Tôi biết bà với hai con cho là điên khùng? Nhưng điên hay khùng, tôi vẫn mơ ước một cuộc sống b́nh yên ở chính nơi chôn nhau cắt rốn của ḿnh.

Bà Phán ngạc nhiên trước lời đề nghị của chồng. Bà nói:

- Tôi không dám cản những ǵ ông vừa nói. Nhưng theo tôi, con cái ḿnh ở đây, nhà cửa cũng ở đây, vậy về Việt Nam làm sao mà an tâm sống?

- Bà lại cứ phải lo. Con ḿnh lớn hết rồi. Nhà cửa cũng đă giao có nó, bây giờ tôi với bà thuộc thành phần “vô sản” 100%. C̣n ǵ nữa đâu mà lo. Về bên đó, tôi muốn mua miếng đất nhỏ gần làng cũ. Dựng một căn nhà vừa đủ cho tôi với bà sống. Mua  vài con trâu, ngày dẫn nó đi ăn, tối mang nó về chuồng ngủ. Sống cuộc đời chăn trâu nơi đồng áng, coi vậy mà vui.

Bà Phán thấy ư kiến ông cũng có lư. Nhưng bà không chắc các con có đồng ư không. Chúng sợ những lúc mưa nắng đổi thay, tuổi ông đă lớn; rủi có chuyện ǵ, ai lo cho ông? Bà cũng khuyên ông nên nói ư định nầy cho các con, xem chúng nghĩ sao.

Ông Phán biết nghe lời vợ, ông cho các con biết ư định của ông. Mặc dù chúng không đồng ư nhưng chúng rất tôn trọng ư kiến của ông, đứa con cả góp ư:

- Chúng con không nghĩ ba về Việt Nam ở sẽ có cuộc sống b́nh yên và thoải mái hơn ở Mỹ. Như ba thấy trước mắt, người Việt ùn ùn kéo nhau qua Mỹ sống. Người ta về Việt Nam lấy vợ lấy chồng, xong tiệc cưới đưa nhau về Mỹ làm ăn. Các sinh viên học sinh du học, học xong chúng cũng t́m cách ở lại Mỹ, không trở về. Biết bao nhiêu gia đ́nh đă và đang bảo lănh cho gia đ́nh qua Mỹ đoàn tụ... Và c̣n biết bao nhiêu người đang muốn qua Mỹ mà không được v́ không có cơ hội. Ba không nghe người ta nói: “nếu cột đèn đi Mỹ được th́ chúng cũng đi”. Nếu người ta không thích qua Mỹ, muốn sống ở Việt Nam th́ tại sao lại có những nghịch cảnh đó xảy ra hàng ngày hàng tháng. Hơn nữa, trong những lúc đau ốm ai sẽ là người săn sóc cho ba? Một ḿnh mẹ làm sao lo nổi cho ba khi ở một đất nước mà hầu như không c̣n t́nh người, kể cả bà con, nhưng chỉ có tiền. Mặc dù đồng tiền ở Việt Nam so nới đồng đô la th́ xài mệt nghĩ. Nhưng ở Việt Nam, nếu đồng đô la rơi vào tay những người nhận nó vô tội vạ th́ họ cũng xài mệt nghĩ, chẳng mấy chốc sẽ cạn. Nhưng chúng con tôn trọng ư định của ba, tùy ba thôi.

Nghe qua lối giải thích của các con, ông Phán thấy cũng có lư. Nhưng với tuổi ǵa như ông, ông có cái lư của ông. Tuổi ǵa  thích sống với qúa khứ. Ông trân trọng qúa khứ v́ chính nó sẽ làm cho quảng cuối đời của ông dài ra. Ông c̣n biết về bên đó, ông sẽ không c̣n bạn bè nữa. Những bạn cùng trang lứa, trong quân đội th́ nay đă sinh sống tại Mỹ hay các quốc gia khác. Những người bạn mới có thể không thích hợp với ông v́ họ đă sống quen cuộc sống kham khổ ở quê nhà. Nhưng nói cho cùng, cái qúa khứ ông muốn không phải là bạn bè mà là những h́nh ảnh quen thuộc trên quê hương, nơi ông đă sống qua thời niên thiếu.

Ông Phán đă đề ra một chương tŕnh trở về sống nơi ông đă sinh ra và đầy ắp kỷ niệm ở đó. Nhưng trước khi ổn định một nơi ông lựa chọn, ông sẽ đi một ṿng quanh quê hương. Từ Mũi Cà Mâu đến Nam Quan. Nhưng bây giờ Nam Quan không c̣n nữa, ông sẽ đến mảnh đất tận cùng của miền Bắc đất nước. Ông sẽ thực sự chiêm ngắm những cảnh đẹp của quê hương. Dĩ nhiên đó không phải là Sàig̣n, Hà nội, Huế hay Nha Trang, Đà nẵng; nhưng là những vùng đất ghi dấu địa danh ông từng bước qua trong đời chinh chiến. Hay những vùng đất mà ông chưa bao giờ được thấy v́ chiến tranh nên không đến được. T́m về những vùng thôn dă với trưa hè oi bức, những vùng sông núi bao la, biển hồ xanh ngắt... đó mới chính là những ǵ ông muốn được ngắm nh́n tận mắt, lúc tuổi về ǵa.

Sau khi thực hiện xong một ṿng chu du đất nước, ông Phán mua một mảnh đất cách làng cũ của ông không xa. Vị trí thật hữu t́nh. Nằm bên cạnh bờ sông với những hàng phượng vỹ đỏ thắm khi hè về. Từ đây ra tới cánh đồng cỏ gần chân một khu rừng không xa, và là một địa điểm thích hợp cho trâu ăn, v́ có một đầm nước khá rộng với nhiều tôm cá.

Ông mua hai con trâu, một đực một cái, v́ ông đă tính đến chuyện cho chúng sinh đẻ. Hàng ngày ông dẫn chúng ra đồng ăn cỏ. C̣n ông, ông treo chiếc vơng dưới tàn cây cổ thụ lớn ngồi đọc báo. Đến giữa trưa, ông mở mo cơm mang theo, một vài con cá nhỏ kho mặn được ông vớt lên từ gịng sông bên cạnh nhà. Cơm nước xong, ông Phán đánh một giấc ngủ thật b́nh yên. Những tháng ngày đầu chưa quen nên ông cảm thấy mệt mỏi và khá vất vă. Nhưng dần dà, công việc chăn trâu của ông làm ông thích thú. Mặc dù thu nhập chưa có mấy tháng đầu, nên ông phải nhờ vào số tiền nhỏ do các con bên Mỹ gởi về. Ông từng hứa với chúng, khi nào có lợi tức từ nghề chăn trâu, ông sẽ không c̣n nhờ tới chúng. Ông cũng không muốn chúng gởi về nhiều, chỉ cần đủ cho hai vợ chồng ông sống thanh đạm là vừa. Chỉ trừ khi ngă bệnh cần phải lo tới chuyện thuốc thang, nhà thương, bác sĩ... th́ ông sẽ cho chúng biết.

Ở nhà, bà Phán thường rảnh rỗi hơn nhiều. So với cuộc sống ở Mỹ vật chất rất đầy đủ, nhưng cũng chính v́ thế nên bà rất bận rộn suốt ngày. Chỉ lo việc dọn dẹp nhà, làm vệ sinh các pḥng tắm, xếp mền gối, giặt, sấy áo quần... cũng đă hết ngày. Ngược lại ở đây, bà chẳng làm ǵ cả v́ không có ǵ để làm. Cho nên bà phải tạo việc bằng cách làm một khu vườn trồng cây ăn trái. Vùng đất nầy qủa thực là tốt. Những loại cây như xoài, mít, ổi.. nó vươn lên nhanh chóng như đứa trẻ lên mười. Nó chẳng cần phân bón đắt tiền như ở Mỹ. Vườn rau của bà mới là đáng nói. Đủ mọi thứ rau, không có rau ǵ thiếu nếu bữa ăn đó cần có một dĩa rau đầy đủ chất lượng, ngon lành. Ngoài ra bà c̣n nuôi một bầy gà. Chúng đúng là gà đi bộ v́ chỉ biết ăn quẩn suốt ngày trong khu vườn của bà. Mặc dù hơi chậm lớn nhưng sức khỏe cường tráng, thịt rắn chắc thấy rơ, hơn xa gà ở Mỹ.

Ngoài giờ chăm sóc vườn rau và cây ăn trái, bà Phán biết mang cần câu xuống bờ sông câu cá. Con sông cạnh nhà bà không có cá lớn, nhưng cá nhỏ rất nhiều. Mỗi ngày bà ra câu cá khoảng 1 tiếng đồng hồ, đủ để cho bà và chồng dùng hai bữa cơm trưa chiều. Bà có thể câu cá nhiều hơn mỗi ngày, nhưng điều đó không cần thiết. V́ không có tủ lạnh như ở Mỹ nên bà chỉ câu vừa đủ ăn ngày đó. Hôm sau lại câu đợt khác. V́ vậy, bà luôn được ăn cá tươi hàng ngày. Nếu so sánh cách dinh dưỡng ở Mỹ với đời sống của bà hiện tại, cách xa một trời một vực. Bên Mỹ ăn uống thịt mỡ ê chề, rau ráng không thiếu, nhưng hầu hết toàn là đồ đông lạnh. Rau tươi mặc dù không đông lạnh nhưng lại được trồng bằng nhiều loại phân bón hóa học, chúng lên rất nhanh nhưng không tốt lắm cho sức khỏe. C̣n ở đây, làm sao mua được phân hóa học. Nếu có cũng không phải là rẻ. Gia đ́nh bà chẳng bao giờ ăn thịt ḅ mà chỉ có ăn gà nuôi, cá bắt dưới sông, rau cải trồng trong vườn, vậy th́ cần ǵ phải lo cao máu, cholesterol, tai biến mạch máu năo .. v.v..

Cuộc sống ông bà Phán cứ thế vẫn trôi êm đềm như gịng nước chảy trên con sông cạnh nhà ông. Những người hàng xóm gần nhà, họ cũng có trâu nhà nhưng v́ bận rộn công việc khác, họ đến nhờ ông trông hộ dùm họ. Ông vui vẻ nhận lời. Số trâu dẫn ra đồng mỗi buổi sáng càng ngày càng nhiều thêm. Thu nhập của ông bắt đầu gia tăng thấy rơ. Ông có thể kiếm thêm từ 600,000 đến 800,000 một tháng. Nếu đổi 800,000 bạc Việt Nam ra tiền Mỹ cũng chỉ tương đương khoảng 45 đôla. Bốn mươi lăm đôla ở Mỹ có ăn thua ǵ đối với ông. Hai vợ chồng dẫn nhau ra tiệm loại xoàng cũng chi hết số tiền đó. Nhưng ở Việt Nam, ông đi trông coi thêm mấy con trâu cả tháng mới được số tiền như vậy. Nhưng ông vẫn vui và bằng ḷng với những ǵ ḿnh muốn, ḿnh làm.

Các con ông thường về Việt Nam thăm ba mẹ vào những dịp lễ nghĩ dài hạn như Lễ Tạ Ơn hay Giáng Sinh. Mặc dù không dài, chỉ vài hôm, nhưng những ngày đoàn tụ như thế rất có ư nghĩa đối với ông. Các con mang rất nhiều qùa kiếc về cho hai ông bà. Tiền bạc th́ khỏi nói, ông bà muốn bao nhiêu nó cho bấy nhiêu. Nhưng để giữ vững “lập trường và chủ trương” của ông trước khi trở lại sống ở Việt Nam, ông không nhận tiền bạc từ các con. Ông cho biết, trừ khi bệnh tật phải vào nhà thương tốn kém, ông mới nhờ tới sự giúp đỡ của chúng. C̣n bây giờ, ngoài tiền chăn trâu cộng thêm tiền hưu bỗng do chính phủ Mỹ cấp, ông sống rất thoải mái.

Nhưng cuộc của ông về nghề chăn trâu đă làm cho các chú công an trong thôn xóm để ư. Chúng nghĩ rằng với lợi tức chăn trâu của một ông cụ gần 70 th́ không thể nào đủ tiền để sống thoải mái, tiện nghi như vậy. Hơn nữa, chúng biết hai ông bà từ nước ngoài về Việt Nam ở. Bắt đầu là những buổi tới thăm viếng vấn an ông thật thâm t́nh. Chúng mua bia rượu mang đến nhậu với ông. Khổ thay ông không ham muốn những thứ đó. Hơn nữa lối chuyện tṛ nhố nhăng của bọn công an cóc nhái nầy hoàn toàn không thích hợp với ông. Nhưng “ở thế, thời phải thế” buộc ḷng ông phải cùng vui với chúng.

Cuộc sống ông từ đó, bắt đầu hết những ngày vui thú điền viên như những năm tháng lúc mới về sinh sống nơi đây. Cả bọn chúng, lúc đầu chỉ đến chuyện tṛ ăn nhậu cuối tuần, nhưng càng lâu chúng càng đến nhiều hơn. Đôi khi ba bốn lần một tuần. Có những lần ông phải bỏ trâu ở nhà để ngồi với chúng. Chúng biết ông Phán không thích chúng, nhưng mặt  vẫn chai lỳ như không biết. Cuối cùng ông phải x́a tiền cho chúng để mua bia rượu ăn nhậu nơi khác. Ông năn nỉ gần đứt cuống họng mới được chúng chấp nhận giải pháp của ông. Nếu không làm như vậy, chắc chắn trâu ông sẽ chết đói, cũng không c̣n ai muốn mang trâu tới cho ông canh giữ. Phần bà Phán, cứ lo tiếp và nấu nướng cho chúng ăn nhậu cũng làm phiền hà bà qúa nhiều. Bà không c̣n th́ giờ lo vườn tược rau ráng hay vác cần câu xuống sông câu cá như trước đây. Tệ hại hơn nữa, lâu lâu lại có thằng mở miếng “vay” tiền. Biết rằng cho chúng vay th́ chẳng khi nào có ngày trả, nhưng ông phải cắn răng chịu. Nếu không, chúng sẽ gây ra nhiều phiền phức cho ông. Cái phiền phức đơn giản nhất là lên xă “làm việc” mặc dùng giữa ông và chúng chẳng có việc ǵ để làm. Chúng chỉ muốn làm cho ông mất th́ giờ, bực ḿnh để phải nghe theo lời những ǵ chúng muốn.

Chúng c̣n quấy nhiễu ông cả ban đêm. Đôi khi trời đă tối thui, ông sửa sọan lên giường ngủ, chúng đến kêu cửa để mướn cái nầy, mượn cái kia. Ông biết đây chỉ là cái cớ, mục đích chính là chúng muốn ông chi tiền cho chúng ăn nhậu. Nếu có tiền th́ hết quấy nhiễu, nếu không có tiền, chuyện xảy ra hầu như hàng đêm. Ông bà Phán thấy tŕnh trạng nầy không thể kéo dài, phải giải quyết chứ không th́ ... không thể sống nổi với bọn nầy. Ông gọi điện thoại về Mỹ cho các con biết. Chúng khuyên ông nên trở về Mỹ. Chúng cho ông biết không thể gởi tiền về giúp thêm cho ông nhưng lại đem nuôi bọn “công an gian ác” nầy. Ông tự nhủ thầm: Ta phải quay về Mỹ!

Rồi một buổi chiều khi mùa đông sắp tới, ông t́m cách liên lạc âm thầm với hàng xóm thân quen để nói ư định bán nhà, bán trâu. Nhưng khổ thay, hàng xóm lại cũng toàn là đám gia đ́nh bọn chúng. Nên khi chúng biết ư định đó, chúng tới nói chuyện với ông trước:

-Thưa bác. Nghe hai bác định bán nhà bán trâu; vậy chắc hai bác muốn trở về Mỹ, không sống với chúng tôi nữa. Dân trong làng nầy nghèo xơ nghèo xác, làm ǵ có tiền để mua nhà mua trâu. Vậy hai bác cứ để cho chúng tôi lo chăm sóc trâu, nhà hộ hai bác. Hai bác cứ yên chí về Mỹ đi. Khi nào chúng tôi bán được, sẽ gởi tiền đủ qua cho hai bác.

Ông Phán nghe chúng nói là biết ngay chúng muốn “ăn cướp tài sản nhân dân” rồi. Nhưng ông cũng rán t́m người bán tháo bán đổ, được đồng nào hay đồng ấy. Ông t́m hoài không có người mua. Sau nầy ông mới biết: bọn gian ác đă đi rỉ tai đồng bào, không được mua bất cứ thứ ǵ của ông bán, v́ chúng cho họ biết ông Phán đă dâng tặng tài sản cho nhân dân xă ông cư ngụ, tức là bọn công an đầu trâu mặt ngựa đó. Chúng c̣n hù dọa đồng bào tài sản của ông Phán đă thuộc về nhân dân và chúng làm chủ, không ai được mua bán ǵ cả. Cuối cùng, ông Phán t́m một lối thoát may ra c̣n lấy được chút tiền mang về Mỹ,  hơn là trắng tay. Ông đề nghị với chúng:

- Vơ chồng tôi bây giờ cũng đă già, trở về Mỹ lần nay chắc không có ngày quay về quê hương. Cho nên tôi xin đề nghị với các anh khỏi c̣n giữ nhà tôi làm ǵ cho phiền phức. Các anh cứ bán nhà cho tôi, tôi sẽ để lại các anh một  nữa, tôi lấy một nữa.

Nhưng bọn công an phường xóm “được đàng chân lươn đàng đầu”. Chúng trả lời rất có “t́nh nghĩa” với ông Phán:

- Chúng tôi không dám. Nhà của bác th́ bác lấy tiền. Nhưng bác không muốn bán th́ chúng tôi giữ hộ cho bác. Khi nào bán được sẽ gởi hết tiền qua Mỹ để bác dùng, chúng tôi giữ làm ǵ.

Nghe chúng nói vậy, ông Phán hết ư kiến. Biết làm sao giờ. Thôi th́ đành phải giao cho chúng “giữ nhà”. Cứ coi như là thí cô hồn. Bất cứ thứ ǵ ở Việt Nam đă vào tay bọn công an th́ chỉ có cách lên hỏi ông trời, mà cũng không chắc ǵ lấy lại.

Ông Phán tức giận lắm. Ông tự nhủ ḷng: Ḿnh đă bị bọn nhóc con nầy lừa nhiều lần. Ta là một người ở Mỹ về không thể bị chúng “xỏ mũi” như vậy được. Ông t́m cách phải làm một việc ǵ đó trước khi giă từ cái bọn khốn nạn nầy. Đem nhà cho nó giữ là coi như cho không. Tại sao ḿnh không t́m cách tặng cho một hội  từ thiện nào đó? Biết rằng cho hội từ thiện phải lên cấp cao hơn và bọn cán bộ cấp đó cũng không cho hết hội tư thiện dễ dàng. Chúng sẽ t́m cách ḅn rút không nhiều cũng ít. nhưng thà vậy, hội tự thiện được chút cháo, hơn là bọn nhóc con lấy hết.

Ông âm thầm lên tỉnh và tŕnh bày việc tặng lại nhà ông cho một hội từ thiện Công giáo. Bọn lănh đạo tỉnh nghe được việc nầy như mèo thấy mỡ. Chúng cảm ơn ông rối rít. Chúng ca ngợi ông là một người Việt kiều phúc hậu, thương dân. Ông cũng nghe nhưng chỉ để ngoài tai. Chúng đề nghị ông mời hội từ thiện nào đó đến gặp chúng; cùng với ông, làm giấy tờ chuyển nhượng ngôi nhà cho hội từ thiện. Thủ tục giấy tờ đă làm xong trong một vài tiếng đồng hồ. Ông yên trí là đă giải quyết xong căn nhà. Không biết sau đó chúng bàn luận với hội từ thiện ra sao, ông không rơ. Nhưng ông biết chắc bọn chúng vui mừng hoan hỷ làm việc nầy cũng phải có lợi nhuận cho chúng. Không phải v́ ḷng thương xót ai cả. Nh́n thấy cách săn đón tiếp đăi ông, ông biết ngay là chúng sẽ có chút tiền trong căn nhà nầy. Riêng với bọn công an nhóc con ở xă, ông biết chắc chúng sẽ giận lắm, nhưng không làm ǵ được. Có thể chúng sẽ t́m cách trả thù vặt. nhưng ông không quan tâm.

Trở về nhà, ông nói lại chuyện tặng căn nhà cho hội từ thiện, bọn chúng giận tím người. Thằng công an đầu đảng chỉ biết lắc đầu với câu nói ngắn gọn: “Ông không tin tụi tôi”. Mặc dù không có thái độ nào chứng tỏ chúng trả thù, nhưng ông muốn được yên chuyện trước khi ra đi, ông nói:

Riêng đàn trâu của tôi, xin tặng lại cho các anh như là món quà , tuỳ các anh xử dụng. Đây cũng là sự đền đáp của tôi dành cho các anh trong những năm tháng vợ chồng tôi ở đây, được sự giúp đỡ nhiệt t́nh của các anh.

Bọn chúng cũng mừng trong bụng, “thua me gỡ bài cào” cũng không sao. Thà có chút ít c̣n hơn không. Ông sắp xếp ngày giờ để chúng tới nhận trâu về. Ông không thấy những “quan chức” trong xă đến  những loe ngoe mấy thằng công an du côn thường hay đến quấy phá ông mà thôi. Chúng dẫn đàn trâu qua khỏi ngơ. Đàn trâu mệt mỏi chậm bước đi theo chúng. Ông nh́n theo mà nước mắt lưng tṛng. Ông thương cho những con trâu đă sống hiền hoà, an phận với ông thời gian qua. Nay chúng phải trở về sống với đám công an không có t́nh người mà cũng không có luôn t́nh vật. Ông nh́n đám trâu lần cuối rồi nói thầm trong bụng:

Trâu ơi! Mi ở lại, ta đi nhé. Không biết rồi đây thân phận mi ra sao; có được thư thả nhàn hạ ra đồng gặm cỏ hay lại tiếp tục làm thân trâu ngựa. Ta biết nơi đây, con người như ta cũng c̣n bị chúng coi giống mi, vậy không biết chúng sẽ coi mi là hạng nào nữa. Thôi th́ cũng đành.

Trâu ơi! Chào mi!/.

Nghĩ tới đây, nước mắt ông lại tuôn ra. Ông thương cho thân phận con trâu th́ ít, nhưng thương cho thân phận cả một dân tộc ông sắp ĺa xa họ th́ nhiều./.