|
Thượng Đức Trận đánh đầu tiên
Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản mới đây mà đă 30 năm. Đối với
lịch sử, 30 năm không là ǵ cả, nhưng đối với một đời người,
30 năm là một quảng thời gia quan trọng, nó dài hơn một phần
ba cuộc đời, nhất là khi đó là một phần ba cuối đời!
Cách đây 10 hay 15 năm về trước, một số chính khách miền Nam
lưu vong vẫn c̣n nuôi mộng trở lại nắm một địa vị hay một
chức vụ nào đó trên quê hương, trong đó có cả cựu Quốc
Trưởng Nguyễn Khánh và cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Nhưng lịch sử chẳng chờ ai. Thay v́ quay trở lại quê hương,
họ đă lần lượt đi vào ḷng đất!
Cho đến hôm nay, nhiều người vẫn đang c̣n cố gắng t́m câu
trả lời cho câu hỏi:
Tại
sao miền Nam đă mất quá nhanh như thế?
Thời gian 30 năm cũng đủ để cho mọi xúc cảm lắng xuống và
quay nh́n lại lịch sử một cách khách quan và chính xác hơn,
từ đó rút ra những bài học cho các thế hệ đang tới, dù là
những bài học rất đau đớn.
Để góp phần trả lời câu hỏi nói trên, trước hết chúng tôi
xin tŕnh bày qua về trận đánh THƯỜNG ĐỨC, một trận đánh mở
màn cho cuộc xâm chiếm miền Nam của Hà Nội. Qua trận đánh
này, chúng ta sẽ thấy các chiến sĩ VNCH ngoài mặt trận đă
chiến đấu rất kiên cường và rất thiện chiến, sẵng sàng hy
sinh tất cả cho tổ quốc, trong khi đó các cấp lănh đạo lại
quá yếu kém về cả quân sự lẫn chính trị, lại c̣n độc đoán và
tham những, nên đă đưa miền Nam vào cảnh tang thương chưa
từng có trong lịch sử với những hậu quả c̣n kéo dài đến ngày
nay!
SƠ
LƯỢC KẾ HOẠCH CỦA HÀ NỘI
Tháng 10 năm 1973, nghĩa là mới 9 tháng sau khi Hiệp Định
Paris được kư kết, hội nghị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt
Nam lần thứ 21 họp tại Hà Nội đă đưa ra nghị quyết như sau:
“Con đường thắng lợi của cách mạng miền Nam là con đường bạo
lực cách mạng, bất cứ trong t́nh h́nh nào cũng phải giữ vững
đường lối chiến lược tiến công, phải nắm vững thời cơ và chỉ
đạo linh hoạt để đưa cách mạng tiến lên.” Nghị quyết nầy
mở màn cho những cuộc tấn công mới chiếm miền Nam sau Hiệp
Định Paris.
Để có thể kết thúc chiến trường một cách nhanh chóng, kế
hoạch của Cộng Quân là đánh thẳng vào đầu năo của miền Nam ở
Sài G̣n, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn vậy, phải đưa quân
vào Phước Long và B́nh Long. Muốn đưa quân vào hai tỉnh này,
công việc đầu tiên mà Bắc Việt phải làm là hoàn thành con
đường Đông Trường Sơn, khúc từ Đông Hà
(Quảng Trị)
đến Phước Long. Hà Nội cho biết nếu phải vận chuyển bằng con
đường Tây Trường Sơn trên đất Lào, từ Nghệ Tĩnh vào đến
Pleiku, quân đội Bắc Việt phải mất ít nhất 6 tháng. Trái lại,
nếu vận chuyển bằng đường Đông Trường Sơn trên lănh thổ miền
Nam, chỉ mất có một tháng. V́ thế, Hà Nội phải cho làm con
đường Đông Trường Sơn bằng mọi giá. Trong cuốn “Đại Thắng
Mùa Xuân” xuất bản năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đă viết:
”Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt.
Công tŕnh xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn bắt
đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với
nhịp độ hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9
(Quảng Trị)
vào
đến miền Đông Nam Bộ là công tŕnh lao động của hơn 30.000
bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường
chiến lược và chiến dịch, cũ và mới, làm trong suốt cuộc
chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét...
”Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000
kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới
Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000
mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra
trên đường...”
KHÁI LƯỢC VỀ ĐÔNG TRƯỜNG SƠN
Ngày xưa, sau khi chiếm Đông Dương, Pháp đă cho thiết lập
một quốc lộ đi nép chân phía đông dăy Trường Sơn trên lănh
thổ Việt Nam, gọi là Quốc lộ 14. Quốc lộ này có tổng chiều
dài là 1.380km và đi qua 10 tỉnh: Từ Nghệ An qua Hà Tĩnh,
Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Kon Tum,
Pleiku, Ban Mê Thuột và B́nh Phước. Khi lập con đường này,
Pháp nhắm các mục tiêu sau đây:
(1) Bảo vệ an ninh lănh thổ,
(2) Hành quân thanh toán các tổ chức buôn lậu,
(3) Khai thác lâm sản
(4) Khai triển và xử dụng các sắc tộc thiểu số.
Trong chiến tranh Việt - Pháp từ 1945 đền 1954, con đường
này bị bỏ phế v́ Pháp không đủ khả năng bảo vệ. Sau Hiệp
Định Genève 1954, khi vừa ổn định xong miền Nam, Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm đă nghĩ ngay đến việc làm lại Quốc lộ 14 để
bảo vệ lănh thổ. Công việc này được khởi sự từ năm 1958 và
giao cho Liên Đoàn 4 Công Binh phu trách. Liên đoàn này do
Trung Tá Trần Văn Kha chỉ huy. Có lần Tổng Thống đă đích
thân đến xem xét tại chỗ. Nhưng khi làm đoạn Kontum - Gia
Vực, công việc cứ cù nhầy hoài, Trung Tá Kha bị cất chức.
Chuyện xây dựng đường 14 chưa hoàn tất th́ Tổng Thống Diệm
đă bị Mỹ giết.
Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, quân đội Mỹ đă cho thiết lập
các đồn bót trên con đường 14, từ Khe Sanh ở Quảng Trị đến
Ban Mê Thuột, để ngăn chận sự di chuyển của Cộng quân. V́
không thể xử dụng con đường này, Cộng quân phải làm con
đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để chuyển quân. Tiếc thay,
sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam, các nhà lănh đạo
quân sự VNCH không nhận ra được tầm quan trọng của con đường
14 và cũng không có đủ phương tiện để bảo vệ, nên Cộng quân
đă biến con đường này thành con đường chiến lược xâm chiếm
miền Nam!
Đại khái, lộ tŕnh con đường Đông Trường Sơn do Cộng quân
làm lại như sau: Khởi đầu từ Khe Cát thuộc huyện Bố Trạch ở
Quảng B́nh, vượt sông Bến Hải phía trên nguồn đi qua chiến
khu Ba Ḷng ở Quảng Trị vào Thừa Thiên, qua A Lưới, A Shau
rồi đi nép theo biên giới Việt - Lào phía sau đèo Hải Vân
vào Quảng Nam, khi đến Khâm Đức th́ ṿng lên Ngọc Hồi thuộc
Kontum. Đến đây, v́ khúc đường 14 từ Kontum đến Ban Mê Thuột
đang do quân đội VNCH trến giữ nên Cộng quân phải làm con
đường thứ hai lấy tên là đường 14A đi sát biên giới Việt -
Lào qua các tỉnh Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột. Tại đây,
hai đường Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông gặp nhau rồi đổ
xuống Lộc Ninh, Chơn Thành, B́nh Long và Phước Thành.
Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy nhiều
khúc đường 14 từ Thừa Thiên đến Ban Mê Thuột đang được Cộng
quân sửa chửa hoặc chuyển quân. Cạnh con đường đó, có một hệ
thống ống dẫn dầu chằng chịt. Biệt kích đă được thả xuống
nhiều nơi để thám sát hoặc phá vỡ. Các phi cơ A.37 được gọi
đến để oanh tạc những đoàn xe đang chạy trên đường 14 hoặc
các toán nhân công đang làm đường, nhưng phá xong th́ chỉ ít
lâu sau, Cộng quân đă làm lại. Chỉ có B.52 mới có thể phá
sập những hệ thống đường và ống dẫn dầu rộng lớn. Nhưng lúc
đó B.52 không c̣n!
Tuy nhiên, trên con đường 14 có hai cái chốt do Quân lực
VNCH trấn giữ, Cộng quân không thể đi qua được, đó là THƯỜNG
ĐỨC ở phía tây Đà Nẵng và ĐỨC LẬP ở phía tây Ban Mê Thuột.
Vậy muốn thông con đường Đông Trường Sơn, Cộng quân phải
thanh toán THƯỜNG ĐỨC và ĐỨC LẬP bằng mọi giá. Điều đáng
tiếc và cả Tổng Thống Thiệu lẫn các Tướng Lănh VNCH đă không
nhận ra được chiến lược và chiến thuật của địch, nên không
có các biện pháp bảo vệ hữu hiệu.
KHÁI LƯỢC VỀ THƯỜNG ĐỨC
Thường Đức
(có sách viết là Thượng Đức, nhưng không đúng)
thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ở phía tây Đà Nẵng, cách Đà Nẵng
khoảng 60 cây số và cách biên giới Việt - Lào khoảng 50 cây
số. Để giúp độc giả dễ nắm vững hơn những trận đánh được mô
tả trong bài này, trước tiên chúng tôi xin mô tả qua về địa
thế tỉnh Quảng Nam và vị trí quận Thường Đức trong tỉnh này.
Lănh thổ miền Trung khi đi qua ba tỉnh Quảng B́nh, Quảng Trị
và Thừa Thiên th́ thu nhỏ lại, có nơi bề ngang chỉ 50 cây số,
nhưng khi qua khỏi đèo Hải Vân đi vào tỉnh Quảng Nam, lănh
thổ bung rộng ra. V́ thế, tỉnh Quảng Nam rất lớn, có diện
tích đến 11.043 cây số vuông. Tuy nhiên, 72% lănh thổ tỉnh
này là núi rừng, trong đó có rất nhiều đỉnh núi rất cao như
đỉnh Lam Heo 2.045m, đỉnh Tion 2.032m, v.v. Có nhiều khu
rừng nguyên sinh chưa khai phá như rừng Phước Sơn. Chỉ
khoảng 25% lănh thổ là đồng bằng. V́ thế, việc bảo vệ Quảng
Nam gặp rất nhiều khó khăn.
Năm 1962, để bảo vệ an ninh lănh thổ và phát triển, chính
phủ Ngộ Đ́nh Diệm đă ban hành sắc lệnh chia tỉnh Quảng Nam
ra thành hai tỉnh: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Tín. Tỉnh
Quảng Nam từ đèo Hải Vân đến sông Rù Ŕ và tỉnh Quảng Tín là
phần đất c̣n lại.
*
Quảng Tín gồm 6 quận: Thăng B́nh, Tam Kỳ, Tiên Phước, Hiệp
Đức, Hậu Đức và Lư Tín.
*
Quảng Nam được chia ra 9 quận: Đức Dục, Quế Sơn, Thường Đức,
Hiếu Đức, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Ḥa Vang và Hiếu
Nhơn.
Thường Đức là một quận mới được thành lập năm 1962, tách ra
khỏi quận Đức Dục cũ, nằm sâu vào trong núi. Từ quận Điện
Bàn nằm trên Quốc lộ 1 có Liên tỉnh lộ 4 chạy nép theo sông
Vu Gia dẫn vào Thường Đức dài khoảng 40 cây số, nhưng đường
sá rất hiểm trở. Thường Đức nằm ở ngă tư Liên tỉnh lộ 4 và
Quốc lộ 14. Sở dĩ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cho thành lập quận
này là để cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân di
chuyển vào Nam. Vùng chung quanh đường 14 có bộ lạc Katu
sinh sống.
Con đường 14, khi qua khỏi phía sau đèo Hải Văn th́ gặp Hiên,
người Pháp gọi là Prao, nằm cách Đà Nẵng khoảng 90 cây số,
sau đó đi xuống thung lũng sông Vu Gia, nơi có bến Giằng nằm
trên nhánh sông Cái và quốc lộ 14. Thung lũng này không rộng
lắm. Tại đây có một đồn biên giới của Pháp ngày xưa và có
một số làng Việt Nam sống bên ngoài thung lũng. Chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm đă dùng nơi đây làm quận lỵ Thường Đức.
Qua khỏi Thường Đức, đường 14 đi vào mật khu Hiệp Đức của
Cộng quân, chạy dọc phía trên các quận Đức Dục, Tiên Phước,
Hiệp Đức và Hậu Đức, vào đến Khâm Đức thuộc Phước Sơn rồi
quẹo lên Kontum.
DỨT ĐIỂM THƯỜNG ĐỨC
Tỉnh Quảng Nam là vùng xôi đậu. Dựa trên tài liệu “Việtnam
from Cease-Fire to Capitulation”
(Từ Đ́nh Chiến đến
Đầu Hàng)
của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ do Đại Tá William E. Le Gro biên
soạn, và dựa trên sự tường thuật của nhiều nhân chứng, chúng
tôi xin tóm lược về trận Thường Đức như sau:
Trong
thời gian 1973 và 1974, phía Việt Nam Cộng Ḥa có Sư Đoàn 3
Bộ Binh trấn giữ tỉnh Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Tín.
Sư đoàn này có ba trung đoàn cơ hữu là Trung Đoàn 2, Trung
Đoàn 56 và Trung Đoàn 57. Trung Đoàn 2 phụ trách khu vực G̣
Nồi và quận Đức Dục. Trung Đoàn 56 chịu trách nhiệm về hai
quận Quế Sơn và Thăng B́nh. Trung Đoàn 57 là trung đoàn trừ
bị.
Hai nơi hiểm yếu và chịu áp lực nặng nhất là Nông Sơn và
Thường Đức, được giao cho Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân. Liên
đoàn này có 3 tiểu đoàn là 77, 78 và 79. Tiểu Đoàn 78 đóng ở
Nông Sơn và Tiểu Đoàn 79 đóng ở Thường Đức. Quận lỵ Thường
Đức vốn do một tiểu đoàn Địa Phương Quân bảo vệ. Vào giữa
tháng 6 năm 1974, khi được tin Cộng quân có thể tấn công
Thường Đức, Tiểu Đoàn 79 mới được đưa từ Quảng Ngăi về trấn
giữ vị trí này.
Phía Cộng quân có Sư đoàn 711 và Trung Đoàn 52 biệt lập. Sư
đoàn 711 có các trung đoàn 31, 38 và 270. Ngoài ra, Cộng
quân c̣n có Tiểu Đoàn 10 Đặc Công. Sư Đoàn 711 đặt bản doanh
tại mật khu Hiệp Đức nằm khoảng giữa Nông Sơn và Hậu Đức
thuộc tỉnh Quảng Tín, và khống chế toàn bộ con đường 14
trong lănh thổ tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, v́ kẹt đồn Thường
Đức, Cộng quân không thể khai thông đường 14 được. Tháng 6
năm 1974, Hà Nội ra lệnh dứt điểm Thường Đức, trước là để
khai thông con đường Đông Trường Sơn, sau là thăm ḍ phản
ứng của Hoa Kỳ.
Trong năm 1972, Sư Đoàn 711 đă chiếm quận Quế Sơn của tỉnh
Quảng Nam và Tiên Phước của tỉnh Quảng Tín. Tháng 7 năm
1972, Sư Đoàn 3 VNCH và Biệt Động Quân đă chiếm lại hai quận
này, sau đó mở cuộc hành quân Quang Trung 81 tiến từ Quế Sơn
vào mật khu Hiệp Đức. Sư Đoàn 711 bị thiệt hại nặng, Trung
Đoàn 270 của sư đoàn này phải bị giải thể. Đến năm 1974, Sư
Đoàn 711 được đổi tên thành Sư Đoàn 2 và bắt đầu hoạt động
trở lại với ba Trung Đoàn 1, 31 và 38.
(Xin đừng lầm lẫn Sư Đoàn 2 này với Sư Đoàn 2 Sao Vàng đă bị
B-52 tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972 và sau đó phải
giải thể).
Vào khoảng tháng 6 năm 1974, kẻ viết bài nầy có đi với một
phái đoàn báo chí ra Đà Nẵng và được đưa lên Thường Đức bằng
trực thăng để quan sát mặt trận. Chúng tôi được nghe thuyết
tŕnh về các hoạt động của Cộng quân chung quanh quận Thường
Đức và cho biết Cộng quân sắp tấn công Thường Đức. Như vậy
Quân Đoàn I đă nắm rất vững kế hoạch tấn công của địch và
sau đó đă đưa Tiểu Đoàn 79 BĐQ về trấn giữ ở đây.
Tuy Thường Đức chỉ do Tiểu Đoàn 79 BĐQ và một Tiểu Đoàn Địa
Phương Quân trấn giữ, nhưng các Tướng của Cộng quân đă cho
rằng “đánh Thường Đức c̣n khó hơn đánh Quảng Trị”, v́ vị thế
của Thường Đức rất hiểm trở. V́ thế, Bắc Việt phải huy động
gần 3 sư đoàn để đánh Thường Đức: Sư Đoàn 2, Sư Đoàn 304,
Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn
308.
Ở đây chúng tôi cũng xin mở một dấu ngoặc: Sư Đoàn 308 là
một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, đă từng gây kinh hoàng
cho Sư Đoàn 3 VNCH trong Mùa Hè Đỏ Lữa ở Quảng Trị. Nhưng
trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, Sư Đoàn 308 đă bị
B-52 tiêu diệt, chỉ c̣n lại khoảng một trung đoàn, tập hợp
là thành Trung Đoàn 36. Phải chăng trong trận này, Cộng quân
muốn dùng cái tên Sư Đoàn 308 để uy hiếp tinh thần của Sư
Đoàn 3 VNCH?
Sư Đoàn 2 CQ và Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 có nhiệm vụ
chận các đường tiếp viện. Trung Đoàn 29 thuộc Sư Đoàn 324B
và Sư Đoàn 304, một sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt, mở
cuộc tấn công thẳng vào Thường Đức. Mặt trận do Tướng Hoàng
Đan, Quân Đoàn Phó Quân Đoàn 2 của Cộng Quân làm Tư Lệnh.
Trước khi đánh Thường Đức, ngày 18.7.1974 Cộng quân cho
Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 đánh chiếm Nông Sơn, nơi đang
do Tiểu Đoàn 78 BĐQ trấn giữ. Cụm pḥng thủ Nông Sơn “ Trung
Phước nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên, cách quận lỵ Đại Lộc chỉ
16 cây số. Với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2
CQ và Tiểu Đoàn 10 Đặc Công, vào trưa 18.7.1974, Cộng quân
đă tràn ngập căn cứ Nông Sơn. Sư Đoàn 3 VNCH liền đưa Trung
Đoàn 2, một pháo đội 155 ly, một pháo đội 175 ly và một chi
đoàn của Thiết Đoàn 11 Kỵ Binh đánh chiếm lại, nhưng không
tái chiếm được và bị thiệt hại nặng. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3
VNCH phải huy động Liên Đoàn 12 BĐQ (gồm ba tiểu đoàn 21, 37
và 39) vào thay Trung Đoàn 2 mới tái chiếm được.
Ngày 29.7.1974, Cộng Quân mở cuộc tấn công vào quận Đức Dục
do Tiểu Đoàn 21 BĐQ trấn giữ và bắn pháo vào phi trường Đà
Nẵng, đồng thời cho Trung Đoàn 29 tấn công vào Chi Khu
Thường Đức do Địa Phương Quân trấn giữ. Thông tin với Chi
Khu bị mất liên lạc. Từ Đồi 52 gần Đại Lộc, Cộng quân đă
pháo kích rất chính xác vào các vị trí pḥng thủ của Tiểu
Đoàn 79 BĐQ. Hai tiền đồn BĐQ ở phía tây bị mất liên lạc.
Sáng 30.7.1974, Chi Khu Phó Chi Khu Thường Đức bị thương do
pháo kích, nhưng các cuộc tấn công của Cộng quân đều bị đẩy
lui. Sau đó, phi cơ quan sát của Không Quân nh́n thấy một
đoàn xe của Cộng quân đang di chuyển trên Liên tỉnh lộ 4 ở
phía tây Thường Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá hủy
được 3 chiến xa của Cộng quân và nhiều xe vận tải khác. Cũng
trong ngày 30.7.1974, Biệt Động Quân đă bắt được một tù binh
của Cộng quân và biết được lực lượng của Cộng quân đang mở
cuộc tấn công là Trung Đoàn 29 của Sư Đoàn 324B.
Ngày 31.7.1974, Cộng quân bắt đầu cho bộ đội tấn công vào
Thường Đức. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 79 BĐQ gọi pháo binh bắn
trọng pháo vào ngay Bộ Chĩ Huy của tiểu đoàn. Điều này chứng
tỏ Công quân đă tràn ngập Bộ Chỉ Huy của tiểu đoàn. Được tin
này, Tướng Nguyễn Duy Hinh quyết định cho Trung Đoàn 2 thuộc
Sư Đoàn 3 đang ở phía tây Đại Lộc tiến theo LTL 4 đến giải
cứu Thường Đức, nhưng không tiến được. Tướng Hinh phải đưa
đại bác 175 ly vào Hiếu Đức để bắn yểm trợ cho Thượng Đức,
trong khi đó Không Quân đến oanh tạc ṿng đai quanh Thượng
Đức, gây tử thương cho 13 Cộng quân và 45 bị thương.
Tiểu đoàn 79 BĐQ có nhiều người bị thương nên đă yêu cầu cho
trực thăng đến chuyển thương, nhưng Không Quân trả lời rằng
chỉ khi nào diệt xong các ổ súng pḥng không của Cộng quân
quanh Thường Đức, trực thăng mới có thể hạ cánh được.
Khi thấy t́nh h́nh nguy ngập, Tướng Ngô Quang Trưởng đă ra
lệnh cho một Chi Đội Thiết Giáp M-48 đang đóng ở Tân Mỹ,
Thừa Thiên, di chuyển ngay vào Đà Nẵng để giải cứu Thường
Đức. Ngày 1.8.1974, khi Chi Đội M-48 vừa đến Đà Nẵng, Tướng
Hinh liền cho thiết lập một lực lượng đặc nhiệm gồm có Trung
Đoàn 2 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 Kỵ Binh đi tái chiếm Thường
Đức, nhưng lực lượng này không tiến lên được.
Ngày 4.8.1954, Biệt Động Quân t́m thấy 53 xác Cộng quân bị
máy bay oanh tạc chết ở những ngọn đồi phía tây nam Thường
Đức.
Ngày 5.8.1974, Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 bắt được một
tù binh. Tù binh này khai thuộc Trung Đoàn 29 và cho biết
trung đoàn này đang đóng giữa Thường Đức và Đồi 52. Tướng
Hinh liền cho Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 1
thuộc Trung Đoàn 57 tiến chiếm Đồi 52, nhưng khi c̣n cách
đồi này khoảng 4 cây số th́ phải dừng lại v́ pháo của Cộng
quân quá mạnh.
Trong khi đó, Trung đoàn 66 của Sư Đoàn 304 bắt đầu tấn công
vào Thường Đức. Tiểu đoàn 79 BĐQ cho biết đạn dược và lương
thực bắt đầu cạn. Máy bay đă đến thả đạn dược và lương thực
xuống cho Tiểu Đoàn 79, nhưng không may tất cả đă rơi ngoài
ṿng rào, v́ máy bay không dám bay thấp.
Ngày 6 và đêm 7.8.1974, Cộng quân pháo khoảng 1200 trái pháo
vào căn cứ Thường Đức, sau đó cho bộ binh tràn vào. Lúc 8
giờ 30 sáng ngày 7.8.1974, Tiểu Đoàn 79 BĐQ thông báo không
c̣n giữ căn cứ được, phải rút lui và cắt đứt liên lạc.
Thường Đức hoàn toàn bị thất thủ.
LỰC LƯỢNG DÙ THAM CHIẾN
Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được kư kết, cuộc chiến
Việt Nam tạm ngưng, nhưng hai sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù
và Thủy Quân Lục Chiến vẫn c̣n được Tướng Ngô Quang Trưởng
lưu giữ tại Quân khu I.
Ngày 7.8.1974, sau khi Thường Đức bị chiếm và áp lực của
Cộng quân đè nặng ở phía tây Đà Nẵng, Tướng Ngô Quang Trưởng
quyết định đưa Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù từ Thừa Thiên
vào Đà Nẵng để tái chiếm Thường Đức.
Ngày 8.8.1974, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn trực thuộc
đă được vận chuyển đến Đại Lộc ở phía đông Thường Đức. Ngày
11.8.1974, Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù được di chuyển bằng phi cơ
xuống phi trường Đà Nẵng sau khi bàn giao khu vực trách
nhiệm cho Liên Đoàn 15 BĐQ. Sau đó, Tướng Lê Quang Lưởng cho
di chuyển Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù vào đặt bản doanh gần
bờ biển Non Nước, phía đông nam thành phố Đà Nẵng để chỉ huy.
Biết Quân Lực VNCH sẽ t́m cách chiến lại Thường Đức, Cộng
quân cho Trung đoàn 29 chiếm giữ những ngọn đồi thấp ở phía
nam của dăy núi núi cao chạy dọc theo sông Vu Gia và Liên
tỉnh lộ 4, ngăn chận con đường gồ ghề và ngoẳn nghèo đi vào
Thường Đức. Điểm cao nhất của dăy núi nầy là đỉnh 1235 cách
Liên tỉnh lộ 4 khoảng 6 cây số về phía bắc. Đỉnh thứ hai là
đỉnh 1062 nằm ở phía nam cách đỉnh 1235 khoảng 2 cây số.
Cộng quân đă chiếm đỉnh 1062 để có thể kiểm soát đoạn đường
từ Đại Lộc đến Thường Đức. Cộng quân cũng cho các tiền sát
viên điều chỉnh pháo binh bắn chính xác vào các đơn vị của
VNCH ở Đại Lộc. V́ thế, nhiệm vụ đầu tiên của hai Lữ Đoàn Dù
là phải chiếm đỉnh 1062 bằng mọi giá.
Trước hết, Lữ đoàn 3 Nhảy Dù được giao phó nhiệm vụ ngăn
chận địch xâm nhập vùng quận Hiếu Đức. Ngày 18.8.1974, khi
ba Tiểu đoàn 1, 8, và 9 Nhảy Dù vừa tiến quân th́ đụng đầu
ngay với các đơn vị của Trung đoàn 29 ở phía đông đồi 52 gần
xă Hà Nha. Sau một tháng đánh nhau, hai bên đều bị thiệt hại
nặng. Cộng quân phải điều Trung đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 2 vào
Thường Đức thay thế Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 để Trung
Đoàn 66 phụ lực với Trung đoàn 29 chống lại các đơn vị Nhảy
Dù.
V́ Cộng quân đă cho làm các hầm hố kiên cố quanh đỉnh 1062
bằng những thân cây rừng to lớn nên pháo binh và không quân
của VNCH không thể phá vỡ được. Do đó, Lữ Đoàn Dù đă phải
quyết định phóng lựu đạn cay và b́nh E8 để buộc địch phải
chui ra khỏi các hầm trú ẩn rồi xin máy bay thả bom lửa
Napalm đốt. Nhưng Lữ Đoàn Dù vừa chiếm được các vị trí quan
trọng quanh đỉnh 1062 được ít lâu, Cộng quân đă dùng một lực
lượng đông đảo hơn để chiếm lại. Hai bên bị tiêu hao rất
nặng.
Vào đầu tháng 9/1974, Cộng quân cho thêm Trung Đoàn 24 của
Sư Đoàn 304 đến trợ chiến với Trung Đoàn 29 và Trung Đoàn
66. Nhưng vào chiều ngày 19.9.1974, Lữ đoàn 1 Nhảy Dù báo
cáo đă chiếm được đỉnh 1062.
Ngày 2.10.1974, Tiểu đoàn 2 và Thiểu Đoàn 9 Nhảy Dù mở cuộc
lục soát ở khu vực quanh đồi 1062 và dăy Sơn Gà, khám phá ra
khoảng 300 xác địch và bắt sống được 7 tù binh thuộc Sư Đoàn
304. Một tuần sau, Sư Đoàn 304 lại mở cuộc tấn công tái
chiếm đỉnh 1062. Nhưng nhờ pháo binh và phi cơ yểm trợ, các
đơn vị Dù vẫn giữ vững đồi 1062.
Tính đến trung tuần tháng 10/1974, sau gần 2 tháng quần thảo
với Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 304 của Cộng Quân, Lữ Đoàn 1 Dù gồm
4 tiểu đoàn đă bị tổn thất khoảng 500 chiến sĩ vừa chết vừa
bị thương. Phía Cộng quân bị thiệt mất trên 1200 người và 14
người bị bắt làm tù binh.
Ngày 29 tháng 10 năm 1974, Trung đoàn 24 của Sư Đoàn 304 đă
dùng súng phóng hỏa đốt đồi 1062 khiến các lực lượng Dù phải
rút khỏi đỉnh đồi. Ngày 1.11.1974 Cộng quân lại chiếm giữ
đồi 1062 một lần nữa.
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng liền ra lệnh cho Tướng Lê quang
Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, phải lấy lại đồi 1062 với bất cứ
giá nào. Ngày 8.11.1974, lực lượng Dù lại bắt đầu mở cuộc
phản công và 3 ngày sau đă chiếm lại được đồi 1062,
Kể từ ngày 11.11.1974, Lực Lượng Dù đă ngự trị trên toàn
ngọn đồi máu 1062 ở phía đông Thường Đức và thành lập tuyến
pḥng thủ trên các triền núi quanh đồi này. Công quân bị
tiêu hao quá nhiều, không dám trở lại tấn công nữa. Tuy
nhiên, Sư Đoàn 304 và Trung Đoàn 29 của Cộng quân đă thành
lập một hệ thống pḥng thủ vững chắc quanh Thường Đức để bảo
vệ con đường 14, Quân Lực VNCH không thể tái chiếm Thường
Đức được.
Vào cuối năm 1974, Lực Lượng Dù chỉ để lại trên đồi 1062
Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 7, và đặt Bộ Chỉ Huy tại đỉnh Đông
Lâm cách đồi 1062 khoảng 4 cây số về phía đông, để ngăn chận
không cho Cộng quân tái chiếm đồi 1062.
KẾT QUẢ TRẬN CHIẾN THƯỜNG ĐỨC
Những trận đánh ác liệt quanh Thường Đức kéo dài từ ngày
18.7.1974 đến ngày 11.11.1974 đă đem lại những kết quả như
sau:
Về nhân mạng: Theo sự ước tính của cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ,
khoảng 2000 Cộng quân đă bị thiệt mạng và 5000 bị thương. Về
phía VNCH, Tiểu Đoàn 79 BĐQ không c̣n nữa. Lực lược Nhảy Dũ
cả chết lẫn bị thương gần đến 50%.
Về lănh thổ: Lực Lượng Nhảy Dù đă chiếm lại được đồi 1062 ở
phía đông Thường Đức, nhưng không tái chiếm được Thường Đức.
Năm 1965 cũng đă xẩy ra một trận đánh lớn ở đây. Cộng quân
đă tập trung một lực lượng khá lớn để mở cuộc tấn công vào
quận Thường Đức. Lực lượng này gồm có Mặt Trận 44 Quảng Đà,
Trung Đoàn Q.82 và Nông Trường 2 Sao Vàng. Trận đánh diễn ra
tại Ba Khe, Hà Nha và đồi Tétonon (1062). Trung Đoàn 51 Bộ
Binh biệt lập của Việt Nam Cộng Ḥa phải chiến đấu một cách
anh dũng và vất vả mới có thể giữ được phần đất này. Sau
trận đánh đó, hầu hết nhà cửa trong quận đều bị thiêu rụi,
xác chết trôi đầy sông. Những trận đánh lớn như thế lại tiếp
diễn vào tháng 1 năm 1972. Nhưng chưa lần nào Thường Đức bị
mất hẵn vào tay Cộng quân như lần này.
KHÔNG TRI BỈ TRI KỶ
Ngày xưa, khi đến cai trị Đông Dương, người Pháp đă nhận ra
ngay tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức trên đường 14,
nên đă lập một đồn tại đó để kiểm soát. Chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm cũng đă nhận ra tầm quan trọng của Thường Đức trên
đường tiến quân của Bắc Việt, nên đă biến Thường Đức thành
một quận và h́nh thành Chi Khu Thường Đức để trấn giữ. Mỹ
can thiệp vào Đông Dương cũng đă đánh giá cao tầm quan trọng
của Thường Đức, nên đă t́m cách khóa chặt chốt này, không
cho Cộng quân di chuyển xuống miền Nam. Cộng quân phải xử
dụng con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào rất vất vă.
Điều đáng tiếc là sau khi cuộc chiến được “Việt Nam hóa”,
các nhà lănh đạo quân sự của miền Nam đă không nhận ra được
tầm quan trọng của cái chốt Thường Đức, không thấy được
chiến lược và chiến thuật của Cộng quân là khai thông đường
Đông Trường Sơn để đưa quân xuống đánh thẳng vào Sài G̣n,
nên không quan tâm đến Thường Đức.
Nếu các tướng lănh VNCH nhận ra được tầm quan trọng của
Thường Đức, đưa khoảng một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến
thiết lập những nút chặn quanh Thường Đức, Cộng quân khó có
thể khai thông con đường Đông Trường Sơn được.
Tướng Ngô Quang Trưởng chẳng những không nhận ra được tầm
quan trọng của việc cắt ngang con đường Đông Trường Sơn ở
Thường Đức mà c̣n muốn mở thông con đường này cho Cộng quân
chuyển xuống miền Nam để Vùng I của ông khỏi bị áp lực nặng!
http://www.maplandia.com/vietnam/quang-nam-da-nang/dai-loc/thuong-duc/ |