|
Trận Thường Đức, cuộc thư
hùng Nam-Bắc cuối cùng
Tuesday, February 17, 2009
Xuân Kỷ Sửu 2009, nhớ đến những hy sinh không bờ bến của
Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do
trước 1975:
Vann Phan
* Dẫn nhập
Mặc dù trận đánh tại Thường Đức
(từ ngày 15 Tháng
Tám đến ngày 8 Tháng Mười Một năm 1974),
cũng như trận Long Khánh hồi Tháng Tư năm 1975, không phải
là trận đánh sau hết trong Chiến Tranh Việt Nam, nhưng đây
phải được coi là cuộc đọ sức cuối cùng trong số hằng trăm,
hằng ngh́n trận thư hùng lớn, nhỏ của quân đội hai miền Nam-Bắc,
một trận Điện Biên Phủ khác trên chiến trường Việt Nam mà kẻ
chiến thắng là Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Có nhiều lư do dẫn tới nhận
định trên.
Lư do thứ nhất là mức độ dữ dội của trận đánh tại
Thường Đức khi chưa bao giờ có đông đến như thế các lực
lượng tham chiến và hỏa lực tập trung của cả hai bên trên
một chiến trường nhỏ hẹp chỉ gồm có ngọn Đồi 1062 và các đồi
phụ chung quanh với cao điểm trận đánh kéo dài chưa đầy một
tháng.
Lư do thứ hai là trận đánh này, dù mức độ ác liệt chỉ
thua sút có trận Cổ Thành Quảng Trị và trận An Lộc, lại
không được nhiều người biết đến do địa thế hẻo lánh của vùng
giao tranh
(giáp giới với vùng Hạ Lào)
và do t́nh h́nh chính trị vào những ngày cuối của cuộc Chiến
Tranh Việt Nam quá sôi động khiến báo chí Tây phương, vốn
rất ồn ào, không đưa tin đúng mức v́ họ không kịp hiểu hết
tầm mức quan trọng của trận đánh mang ư nghĩa của một “cuộc
thăm ḍ khả năng chiến đấu một ḿnh” của quân đội miền Nam
Việt Nam chống lại các lực lượng Cộng Sản sau khi quân chiến
đấu Hoa Kỳ đă rút về nước. Lư do thứ ba là số lượng cao của
các lực lượng tinh nhuệ tham chiến: Quân Đội Nhân Dân Cộng
Sản Bắc Việt có Sư Đoàn 304 Điện Biên cùng Sư Đoàn 324B và
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có Sư Đoàn Nhảy Dù. Lư do thứ tư
là cán cân thăng bằng về hỏa lực và nhân sự giữa đôi bên coi
như đă được tái lập sau khi sau khi các lực lượng chiến đấu
của Hoa Kỳ đă thực sự rút lui khỏi chiến trường, đem theo
luôn sức yểm trợ mạnh mẽ của máy bay oanh tạc và hải pháo
của Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ,
trong khi, về mặt súng nặng, quân Bắc Việt đă đưa vào sử
dụng một số trọng pháo tân tiến chưa thấy dùng trong Mùa Hè
Đỏ Lửa cách đó hơn hai năm.
(Yếu tố này được
đề cập tới để các nhà viết quân sử không c̣n lư do nào để
bảo rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa có ưu thế về hỏa lực
trong mọi trận đánh so với Quân Đội Nhân Dân Cộng Sản Bắc
Việt.)
Lư do sau cùng là ḷng quyết chiến, quyết thắng của cả đôi
bên trong trận đánh khi Sư Đoàn 304 Điện Biên, sau khi đă
chiếm được quận lỵ Thường Đức và ngọn Đồi 1062, một cao điểm
chiến lược cực kỳ hung hiểm, chính thức thách đấu vời Sư
Đoàn Nhảy Dù để phân định cao thấp trong một trận đánh mà từ
thời điểm cho tới chiến trường đều do họ chọn lựa. Một số
tài liệu về trận đánh này cho biết chính Cộng quân đă dùng
giàn thun bắn thư rơi khiêu chiến, “thách ‘Ngụy’ Dù lên đánh.”
Phải biết rằng phe Cộng Sản vẫn hết sức ấm ức khi đành chấp
nhận thảm bại trong trận chiến Cổ Thành Quảng Trị hồi Mùa Hè
năm 1972 sau khi bị các lực lượng Thủy Quân Lục Chiến và
Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, có sự yểm trợ của
hỏa lực hùng hậu của Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không
Quân Hoa Kỳ, đánh cho tan tác, để rồi các lực lượng “Bộ đội
Cụ Hồ” tinh nhuệ dưới quyền Tướng Vơ Nguyên Giáp tham chiến
đành phải rút lui “không c̣n manh giáp.”
(1)
Với các lư do được kể ra ở trên, chiến thắng của các lực
lượng Nhảy Dù trước quân Cộng Sản phải được coi là hết sức
oanh liệt và dứt khoát. Sau gần ba tháng trời, trận đánh kết
thúc với việc các lực lượng Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa -dưới quyền chỉ huy tổng quát của các tướng Ngô
Quang Trưởng và Lê Quang Lưỡng-tiêu diệt gần như toàn bộ các
lực lượng tham chiến của Cộng Sản Bắc Việt bên trong và
chung quanh ngọn đồi chiến lược 1062, khẳng định trước các
nhà viết quân sử thế giới tính ưu việt của Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa so với Quân Đội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt.
(2)
Bài viết này được thực hiện, phần lớn, dựa trên tài liệu
nhan đề “33 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Đức” của Đại Úy Vơ
Trung Tín và Đại Úy Nguyễn Hữu Viên, cả hai đều là sĩ quan
chỉ huy Nhảy Dù, và đă được phổ biến rộng răi trên mạng lưới
điện toán từ Tháng Mười Một năm 2008.
*
Bối cảnh chiến trận
Trong phần nhận định tổng quát về bối cảnh cuộc chiến, các
tác giả viết:
“Sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào cuối Tháng Giêng,
1973, t́nh h́nh chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu... Vào
những tháng cuối năm 1974, sau khi trao đổi tù binh với Hoa
Kỳ xong xuôi, [Cộng Sản] Bắc Việt không ngần ngại bắt đầu vi
phạm Hiệp Định Ba Lê để thực hiện ư đồ xâm lăng thôn tính
miền Nam bằng vơ lực... Song song với việc Cộng Sản Bắc Việt
mở mặt trận lớn đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật với ư đồ cầm
chân các đơn vị tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
đồng thời ào ạt di chuyển bộ đội trên Đường Ṃn Hồ Chí Minh
vào các Quân Khu 2 và 3, hai Sư Đoàn 304 và 324B Bắc Việt,
cùng các trung đoàn pháo, chiến xa bất thần đánh chiếm quận
Thường Đức thuộc tỉnh Quảng Nam là một điểm chiến lược nhờ
địa thế núi rừng hiểm trở...
“Địa h́nh Thường Đức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có
nhiều dốc dựng đứng. Phía Đông bằng phẳng, từ quận Điện Bàn
trên giao điểm Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 4 chạy dọc theo Sông
Vu Gia dẫn vào Thường Đức nằm ngay ngă tư Liên Tỉnh Lộ 4 và
Quốc Lộ 14 và cũng là nơi hợp lưu của hai con Sông Côn và
Sông Vu Gia nước sâu, chạy dài từ Tây sang Đông. Chính phủ
Việt Nam Cộng Ḥa cho thành lập quận này nhằm cắt đứt con
đường 14, không cho Cộng quân sử dụng để di chuyển vào
Nam...”
Nói đến các động lực dẫn đến việc Cộng Sản Bắc Việt xua quân
lấn chiếm Chi Khu Thường Đức và việc Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 Vùng I Chiến Thuật, giao cho Sư
Đoàn Nhảy Dù trọng trách tái chiếm quận này, các tác giả
viết:
“Về mặt chiến lược, Thường Đức là một vị trí quan trọng xuất
phát các cuộc hành quân trinh sát
[của các lực lượng
Việt Nam Cộng Ḥa],
khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Đông mà Cộng Sản
Bắc Việt vừa mới khai dựng sau ngày kư hiệp định 27 Tháng
Giêng 1973. Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường ṃn
Hồ Chí Minh đưa từ A Lưới đến A-Shau qua Trào đến Bến Giàng
nằm trên Liên Tỉnh Lộ 4 cách Thường Đức không xa. Tại đây
quân CSBV có những kho lẳm tồn trữ quân dụng tiếp tế cho mặt
trận Quân Khu Năm.
Về chính trị, với việc chiếm đóng Thường Đức, Hà Nội có thể
đánh giá được phản ứng của Hoa Kỳ và khả năng viện trợ quân
sự cho Sàig̣n. Về quân sự, Hà Nội có thể đánh giá khả năng
phản kích, cơ động và hỏa lực yểm trợ chủ lực VNCH ở Quân
Khu 1, đặc biệt là các lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến
lược (Nhảy Dù).
“Đối với Việt Nam Cộng Ḥa, trận chiến Thường Đức đánh dấu
việc vi phạm ngưng bắn của CSBV đă đến một mức độ nghiêm
trọng mới. Thường Đức trở thành quận lỵ đầu tiên của VNCH
rơi vào tay Cộng Sản sau ngày ngưng bắn. Đai Lộc và Đà Nẵng
[nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1 Chiến
Thuật] sẽ bị đe dọa nghiêm trọng từ hướng Tây chỉ cách thung
lũng sông Vu Gia.”
Các tác giả liệt kê lực lượng địch và bạn tham chiến như sau:
Lực lượng địch tham chiến gồm có:
Sư Đoàn 324B gồm các Trung Đoàn 29, Trung Đoàn 6 và Trung
Đoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh
Quảng Nam; Sư Đoàn 304 Điện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê,
chính ủy là Trần B́nh chỉ huy trực tiếp trận chiến, gồm 3
trung đoàn 66, 24 và 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ
Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa Tháng Năm đă bí mật
di chuyển vào khu vực Thường Đức; Trung Đoàn 31 thuộc Sư
Đoàn 2 CSBV tăng viện vào lúc cuối trận chiến; 2 Tiểu đoàn
bộ đội địa phương Quảng Đà; Một Trung đoàn Pháo và Trung
đoàn Chiến Xa...
(Các tác
giả cũng ghi nhận rằng, về mặt súng nặng, các lực lượng Cộng
Sản Bắc Việt đă đưa vào sử dụng loại súng cối 160 ly có sức
công phá lớn, ngoài các loại vũ khí nặng khác mà họ từng sử
dụng trong trận chiến như hỏa tiễn 122 ly, sơn pháo 130 ly,
pháo 105 ly, pháo 85 ly, cối 82 ly và cối 61 ly.)
Lực lượng bạn:
“Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân Biên Pḥng; Hai Đại đội Địa
Phương Quân; Một Đại Đội Cảnh Sát Dă Chiến; Một Trung Đội
Viễn Thám; 16 Trung Đội Nghĩa Quân; Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù do
Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Đoàn
1, 8, 9 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù; Lữ Đoàn 3
Nhảy Dù do Trung Tá Lê Văn Phát làm Lữ Đoàn Trưởng gồm 3
Tiểu Đoàn 2, 3, 6 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù.
* Một số diễn tiến đáng chú ư trong trận Thường Đức
Về diễn tiến các cuộc giao tranh vô cùng ác liệt trong trận
Thường Đức, nhất là trận đánh để tái chiếm Đồi 1062 đă lọt
vào tay Cộng Quân sau khi họ tràn ngập Chi Khu Thượng Đức
ngày 7 Tháng Tám năm 1974, xin trích dẫn một đoạn tiêu biểu
trong bài viết của hai tác giả Vơ Trung Tín và Nguyễn Hữu
Viên:
Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù tấn công 1062:
“Tiểu
Đoàn 1 Nhảy Dù quyết định đột kích đêm và lợi dụng gió Đông
làm một trận hỏa công. Lực lượng xung kích gồm 2 Trung Đội
với Thiếu Úy Lê Văn Bá chỉ huy một Trung Đội thuộc Đại Đội
14 và Thiếu Úy Trần Thanh Quang chỉ huy một Trung Đội của
Đại Đội 11... Đại Đội 11 làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp
ứng kịp thời cho lực lượng tấn công... Hỏa lực yểm trợ gồm
súng cối 60 ly và 81 ly đă được chuẩn bị yếu tố tác xạ sẵn
sàng.”
“Sáu giờ chiều, ánh sáng mặt trời trong rừng già đă tắt hẳn.
Hai Trung Đội bắt đầu xuất phát. Thiếu Úy Quang dẫn trung
đội đi bên trái, trung đội Thiếu Úy Bá bên phải. Họ giữ đội
h́nh đi song song và cách nhau khoảng từ 30 đến 40 thước.
Pháo binh 105 ly của ta vẫn đều đều bắn cắm chỉ trên mục
tiêu để địch lo trốn trong hầm, không ngóc đầu lên quan sát
quân ta đang di chuyển. Một giờ, hai giờ, rồi ba giờ trôi
qua...”
“Bỗng nghe một loạt đạn nổ bên phải rồi im lặng. Pháo binh
[ta]
ngưng tác xa, hai cánh quân vừa bắn vừa hô xung phong vang
rền cả núi rừng hoang vu. Lửa bắt đầu cháy trên mục tiêu,
nhiều nhất là bên cành Thiếu Úy Quang. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn
1 Nhảy Dù xin Pháo Binh chuyển tác xạ về hướng Tây để bắn
chận quân địch. Tiếng của Quang vang trong máy:
-
Chiếm được đỉnh rồi, đích thân! Hầm quá nhiều và kiên cố,
làm toàn bằng cây to. Mấy đứa con đang bung rộng chờ cánh
quân bên phải!”
“Trời tối đen như mực, vẫn chưa liên lạc được Thiếu Úy Bá.
Mười lăm phút sau, Thiếu Tá Quư đứng dưới mục tiêu C thấy
trên D có từng cụm lửa lóe lên chen lẫn trận địa pháo bằng
súng cối sôn pháo 120 ly của địch.
Tiếng của Quang vang lên trong máy:
-
Chúng pháo dữ dội quá, đích thân, nhưng hầm hố kiên cố,
không sao!”
“Rồi hàng loạt tiếng đạn AK-47 kêu rít, tiếng Quang hét
trong máy:
-
Chúng nó phản công, đông lắm! Cho Pháo Binh bắn trên đầu tôi,
tụi nó đông như kiến!
Mau
lên! Pháo! Pháo mau lên!”
“Ban đêm tời tối, Đại Đội 11 trừ bị cho Quang và Bá đang ở
lưng đồi yên ngựa. Trung đội Thiếu Úy Bá th́ không liên lạc
được ngay từ loạt đạn đầu, sau này mới biết được là Bá và 4
binh sĩ đă hy sinh v́ ḿn Claymore... ngay từ lúc đó.”
“Thiếu Tá Ngô Tùng Châu
(Tiểu Đoàn Trưởng)
bảo Quư:
-
Nếu thấy không được th́ bảo Quang rút về, đừng hy sinh nhiều,
ta sẽ t́m cách khác.”
“Nhưng Quang không nghe lệnh
(hoặc không thể
nghe lệnh!).
Hai Trung đội đột kích của Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù đă gặp sự
kháng cự phản công quá mănh liệt, quân số địch rất đông. Từ
đỉnh cao, khe núi, và các địa đạo trong rừng cây ùa ra như
đàn ong vỡ tổ! Lính Nhảy Dù rỉa bắn không nghỉ tay. Trước
khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu Tá Quư phải kêu Pháo Binh
bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết
với quân Cộng Sản Bắc Việt. Thiếu Úy Quang đă tập trung đạn
của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, c̣n Quang th́ ở lại
bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D... Các
đạn pháo CVT đă sát hại 10 phần địch và 3 phần quân bạn. Xác
địch và ta nằm ngổn ngang trên đỉnh Đồi 1062. Trung Đội của
Thiếu Úy Quang có 15 chiến sĩ anh dũng hy sinh...”
* Mức độ hy sinh không bờ bến của các chiến sĩ Nhảy Dù
Về những hy sinh to lớn của các chiến sĩ Nhảy Dù tại mặt
trận Thường Đức như sự hy sinh vừa kể của Thiếu Úy Quang và
15 chiến sĩ thuộc Trung Đội dưới quyền của vị sĩ quan này,
các tác giả viết: “'Cái giá' để chiếm được Đồi 1062 thực sự
là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến
sĩ Dù đă gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn Dù bị tổn
thất nặng, nặng nhất là Tiểu Đoàn 3 của Thiếu Tá Vơ Thanh
Đồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm.
Trong phạm vi của bài viết ngày hôm nay, chỉ xin trích dẫn
một vài đoạn tiêu biểu trong bài viết của hai tác giả đă
được đề cập tới, nói lên những gai lửa của trận chiến cùng
những hy sinh, gian khổ không bút mực nào tả xiết mà các
chiến sĩ Nhảy Dù đă cống hiến cho dân chúng miền Nam Việt
Nam, chỉ với một mục đích không hề lay chuyển của Sư Đoàn
bách chiến, bách thắng này là bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ
của miền Nam tự do trước cuộc tấn công xâm lược điên cuồng
của Cộng Sản Bắc Việt, có sự yểm trợ tối đa của Cộng Sản
Quốc Tế và sự đồng lơa, cố ư cũng có mà vô t́nh cũng có, của
phần c̣n lại của thế giới hồi các thập niên 1950, 1960 và
1970 trong thế kỷ trước:
“Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu Tá Quư phả kêu Pháo
Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống
chết với Cộng Sản Bắc Việt. Thiếu Úy Quang đă tập trung đạn
của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, c̣n Quang th́ ở lại
bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D (đă
trích dẫn)... Một quả lựu đạn đă rơi trúng nơi trú ẩn của
Thiếu Úy Đoàn Tấn và Chuẩn Úy Đến thuộc Đại Đội 81 khiến hai
anh bị thương vong. Lúc quả lựu đạn vừa rơi tới, Thiếu Úy
Tấn định nhào lại lấy thân ḿnh che cho đồng đội, nhưng
không kịp nữa... Thiếu Tá Vân nghe tiếng Đại Úy Đàng hét
trong máy xin pháo binh và phi cơ bắn lên đỉnh đồi, v́ địch
đă tràn ngập! Hai bên phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và
lựu đạn, nhưng địch nhiều quá, cứ liều chết nhào tới tấn
công. Đại Úy Đàng và anh em trong đại đội cầm cự, xông xáo,
tả xung, hữu đột, người nào trên ḿnh cũng bị nhiều vết
thương, áo ướt đầy máu. Đàng nguyên là cận vệ của Trung
Tướng Nguyễn Viết Thanh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gọi 3 phi tuần
khu trục giội bom napalm xuống đốt cháy sườn đồi. Sau đó,
từng đợt pháo binh bắn hỏa tập trợ chiến. Sau khi pháo dứt,
những cán binh Bắc Việt lại tràn lên thấy Đàng bị thương
nặng c̣n ngất ngư v́ trúng nhiều mảnh, anh dùng hơi tàn rút
súng định tự sát, th́ người anh bị ghim như lông nhím. Đàng
ngồi chết trân mà đôi mắt hăy c̣n trợn trừng không khuất
phục... Đại Đội 34 của Trung Úy Thư, lên tiếp ứng th́ gặp
địch tràn tới đánh tơi bời thật hung hiểm vô cùng! Địch hô:
“Hàng sống, chống chết,” nhưng Thư cứ hăng máu lấy AR-15
quạt và kêu pháo binh bắn đạn nổ chụp lên đầu để cùng chết
chung với 5 phần địch 1 phần bạn. Một ḿnh Tiểu Đoàn 3 Nhảy
Dù mà phải cầm cự với cả trung đoàn của Sư Đoàn 304 [Điện
Biên], địch cho các đơn vị thay phiên tấn công gần một ngày.
Các sĩ quan dũng mănh của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù như Đại Úy
Phạm Văn Thư, Thiếu Úy Tô Văn Nhị đă gọi pháo binh bắn lên
đầu để cùng chết chung với hằng trăm xác địch...”
Về con số các chiến sĩ Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă
hy sinh trong chiến dịch kéo dài gần ba tháng trời tại
Thường Đức, thiết tưởng cũng chỉ cần nêu tên một số các sĩ
quan ưu tú Dù đă bỏ ḿnh trong trận chiến này -thêm vào con
số hằng trăm, hằng ngh́n chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
thuộc nhiều quân, binh chủng đă bỏ ḿnh trong trận đánh-
cũng đủ thấy mức độ hy sinh to lớn của tập thể chiến sĩ Quân
Lực Việt Nam Cộng Ḥa trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do
trước đây, theo đúng nghĩa của tinh thần thượng vơ và khí
phách “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.” Qua bài viết của
hai tác giả “35 Năm Nhớ về Mặt Trận Thường Đức,” các sĩ quan
Nhảy Dù sau đây đă bỏ ḿnh ngay trên chiến trường: Thiếu Úy
Hoàng Văn Tiến, Thiếu Úy Nghiêm Sĩ Thành, Chuẩn Úy Tuyến,
Thiếu Úy Quang, Trung Úy Bằng, Trung Úy Khánh (Truyền Tin),
Thiếu Úy Đoàn Tấn, Chuẩn Úy Đến, Trung Úy Vũ Đức Tiềm, Đại
Úy Ngụy Văn Đàng, Trung Úy Phạm Văn Thư, Thiếu Úy Tô Văn Nhị,
Chuẩn Úy Bảo, Trung Úy Thịnh, Thiếu Úy Trần Đại Thanh, Thiếu
Úy Lê Hải Bằng... Một số sĩ quan khác có thể cũng đă tử trận
trong chiến dịch tái chiếm Thường Đức, mà v́ lư do này hay
lư do khác, đă không thấy được kể tên. Dĩ nhiên là con số hạ
sĩ quan và binh sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ hy sinh trong trận này
c̣n cao hơn nhiều so với số các sĩ quan tử trận.
* Trận Thường Đức ác liệt
không thể tưởng
Sau hết, về cường độ các cuộc giao tranh và mức độ ác liệt
của trận chiến Thường Đức, hai tác giả đă đưa ra các nhận
định sau đây trong bài viết của họ:
“Đỉnh 1062 là một nấm mồ tập thể khổng lồ, chôn không biết
bao nhiêu sinh mạng của cả hai bên. Mỗi khi quân ta vừa
chiếm được 1062, th́ lập tức địch giội pháo, điên cuồng xông
lên quyết chiếm lại cho bằng được. Cả hai bên mất đi, giành
lại đỉnh 1062 nhiều lần... 'Cái giá' để chiếm được Đồi 1062
thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà
các chiến sĩ Dù đă gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn
Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Đoàn 3 của Thiếu Tá
Vơ Thanh Đồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm (đă trích
dẫn)... Gần một tháng quần thảo, ta và địch đều bị tổn thất
nặng quanh đỉnh 1062. Chiếm xong lại mất, mất rồi th́ chiếm
lại bằng mọi giá... Vào giờ này, lực lượng địch bu quanh
1062 dày đặc như ruồi bu quanh viên kẹo... Cối 75 ly và sơn
pháo của địch từ những cao độ phía Tây Bắc bắn từng nhịp 4
trái, và bộ đội Bắc Việt từ hướng đó đồng loạt tiến vào.
Cộng quân dùng chiến thuật biển người, chẳng điều động, ẩn
núp ǵ cả. Lính Nhảy Dù đồng đứng dậy khỏi giao thông hào
bắn trả mănh liệt. Súng bắn không cần nhắm. Lựu đạn ném
không cần lấy đà. Hàng hàng, lớp lớp Cộng quân rơi rụng...”
Theo lời hai tác giả, tổn thất chung cuộc của ta và địch sau
ba tháng giao tranh là như sau:
“Từ
khi khởi đầu chiến dịch Thường Đức vào ngày 15 Tháng Tám
liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực Đồi
1062, các đơn vị Nhảy D2 đă thiệt hại đến 50 phần trăm quân
số, với gần 500 chết và 2,000 bị thương. Sư Đoàn Nhảy Dù sử
dụng luân phiên tổng cộng 7 tiểu đoàn trong chiến dịch này,
và đến giữa Tháng Mười Một có đến 6 tiểu đoàn hoạt động
trong khu vực Đồi 1062. Ba trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt (24,
29, 66) gần như bị xóa tên với 2,000 bộ đội chết và 5,000 bị
thương... Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẫm máu.”
(Tài liệu: Col. William E. LeGro trong “Vietnam from
Ceasefire to Capitulation”)
* Từ trận chiến Thường Đức
đến cuộc Chiến Tranh Việt Nam
Trận đánh Thường Đức, trận đọ sức cuối cùng của quân đội hai
miền Nam, Bắc trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua, ngoài
việc cho thấy tính ưu việt của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
trước Quân Đội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt, c̣n tiêu biểu cho
những hy sinh không bờ bến của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa,
bất kể họ là Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân,
Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Địa Phương Quân hoặc Nghĩa
Quân, qua cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975
trong bối cảnh cuộc chiến đấu cho tự do của nhân loại bị
phản bội khi chiếc tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á bị bỏ
rơi một cách tàn nhẫn.
Không ai có thể tưởng tượng được rằng, chỉ v́ một ngọn đồi
khô cằn tại một quận lỵ đèo heo hút gió xa cách những vùng
cư dân trù phú dưới miền đồng bằng duyên hải miền Trung, Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Vùng I Chiến Thuật, đành phải chấp nhận
đưa lá bài chủ lực của ḿnh tại Vùng Hỏa Tuyến, là hai Lữ
Đoàn của Sư Đoàn Nhảy Dù, vào trận địa để thanh toán mục
tiêu, tức là nhổ cho bằng được cái chốt địch đang ngạo nghễ
chiếm đóng Đồi 1062 ngó xuống quận Thường Đức đặng từ đó đưa
pháo tầm xa về khống chế các cơ sở quân sự -trong đó có bản
doanh của Quân Đoàn I- và dân sự cùng phố phường, làng xă
của dân chúng tại miền duyên hải Quảng Nam-Đà Nẵng. Phải
biết rằng, trong t́nh thế lúc bấy giờ, các lực lượng tổng
trừ bị trấn đóng tại Quân Đoàn I, như Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng với các Liên Đoàn Biệt Động
Quân thiện chiến, đang bị căng kéo và dàn mỏng đến mức tối
đa trên địa h́nh hiểm trở của Vùng I Chiến Thuật, chiếc ải
địa đầu của miền Nam Việt Nam, nơi xuất phát và cũng là nơi
đánh dấu biết bao nhiêu trận đánh lớn trong cuộc Chiến Tranh
Quốc-Cộng kể từ khi đất nước Việt Nam bị chia đôi bằng con
Sông Bến Hải cho tới năm 1975.
Điều rơ ràng nhất và cũng là điều nổi bật nhất chính là mức
độ hy sinh rất cao, cao đến độ không bờ bến, của tất cả các
lực lượng tham chiến trong chiến dịch chiếm lại Đồi 1062 và
giành lại quận Thường Đức khỏi tay Cộng quân, trong đó phải
kể tới rất nhiều lần các chiến sĩ Nhảy Dù đă kêu phi pháo
dội băo lửa ngay trên đầu ḿnh để thí một mạng của ḿnh đổi
lấy bốn, năm mạng của địch quân. Chưa có trận đánh nào mà,
chỉ trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, lại có nhiều
sĩ quan ưu tú và binh sĩ kiên cường của Sư Đoàn Nhảy Dù phải
hy sinh tại mặt trận đến thế. Chưa có trận đánh nào mà, chỉ
trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, các lực lượng
chính quy Cộng Sản Bắc Việt và du kích địa phương, đặc biệt
là Sư Đoàn 304 Điện Biên, đă phải tổn thất nặng nề đến như
vậy, mặc dù, giống hệt như quân đội Pháp trong trận Điện
Biên Phủ 20 năm về trước, chính quân Cộng Sản là kẻ lựa chọn
chiến trường và thời điểm giao tranh, tức là đúng vào lúc họ
có được ưu thế chiến lược và chiến thuật cao nhất để bảo đảm
rằng họ sẽ là kẻ chiến thắng trong trận thư hùng.
Những hy sinh vô bờ bến đó của các chiến sĩ Nhảy Dù càng trở
nên cay đắng hơn khi, không đầy một năm sau, toàn bộ miền
Nam Việt Nam đành rơi vào tay quân Cộng Sản v́ lư do không
phải quân đội và nhân dân miền Nam tự do yếu hèn mà chính v́
sự phản bội trắng trợn của Đồng Minh Hoa Kỳ và thái độ a dua
đến mức trâng tráo của phần c̣n lại của thế giới vốn đă bị
bùa mê, thuốc lú của Cộng Sản Quốc Tế làm cho ngu muội đi tự
lúc nào. Những cái chết như thế, vào giờ thứ 25 của cuộc
chiến, phải được coi là những thiệt tḥi lớn lao nhất trong
đời người chiến sĩ và đối với những người thân yêu của họ
c̣n lại trên cơi đời.
Những người Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại, mỗi khi
đốt một ngọn nến, thắp một nén hương trước bàn thờ tổ quốc
và anh linh các anh hùng, liệt nữ cùng các tử sĩ của Việt
Nam Cộng Ḥa nhân dịp Tết đến, Xuân về, hăy nhớ đến cách
riêng những hy sinh to lớn của các chiến sĩ từng tham chiến
tại mặt trận Thường Đức vào những ngày tháng cuối của năm
1974 -y như những hy sinh của các chiến binh đánh trận Xuân
Lộc hồi Tháng Tư năm 1975-bởi v́ đây là những trận đánh để
đời làm vang danh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và làm xấu hổ
những nhà viết sử đầy thiên vị của cả bạn lẫn thù đă và đang
nỗ lực bôi nhọ sức chiến đấu dũng mănh, tinh thần thượng vơ
và ư chí quyết chiến, quyết thắng của người chiến binh Cộng
Ḥa tại miền Nam Việt Nam, chỉ với mục đích không mấy lương
thiện là chạy tội cho sự lầm mê và phản bội của thế giới khi
họ cùng hè nhau bỏ rơi Việt Nam Cộng Ḥa vào tay quân Cộng
Sản đặng chuốc lấy hư danh rằng chính họ đă giúp “mang lại
ḥa b́nh và chấm dứt đổ máu cho dân chúng Việt Nam ở cả hai
miền Nam, Bắc.” Chính sự cầu an và ḷng thương hại không
đúng chỗ đó của thế giới đă đẩy đưa dân tộc Việt Nam đến
thảm cảnh ngày nay, khi toàn bộ một dân tộc gồm gần 90 triệu
người đang phải sống lầm than cơ cực và thiếu tự do, dân chủ
dưới ách cai trị vừa độc tài vừa ngu muội mà cũng vừa khiếp
nhược trước ngoại bang của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Thật chẳng được cái tích sự ǵ khi con, em những người tị
nạn Việt Nam thuộc các thế hệ thứ nh́, thứ ba, thứ tư...
phải đọc và phải học về lịch sử cuộc Chiến Tranh Việt Nam do
chính các sử gia Hoa Kỳ viết, có sự tham khảo các sách báo
tuyên truyền của Cộng Sản Việt Nam, mà trang nào, chương nào
cũng chỉ đổ cái lỗi để mất miền Nam Việt Nam vào tay quân
Cộng Sản Bắc Việt xâm lược hồi Tháng Tư năm 1975 cho dân
chúng và chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa -đặc biệt là đổ thừa
cho chính quyền Ngô Đ́nh Diệm độc tài, gia đ́nh trị và chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng, bất lực cũng như viện lư
do Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thiếu khả năng chiến đấu- bất
chấp các đánh giá trung thực và lương thiện của nhiều danh
tướng mang các quốc tịch Mỹ, Pháp, Đại Hàn, Úc Đại Lợi,
Trung Hoa Dân Quốc, và Israel về quân đội đó.
* Lời cuối cho thiên anh hùng
ca
Đến đây, thiết tưởng không ǵ bằng hăy mượn lời thơ sau đây
của SVSQ Lê Chiến, Khóa 8/72 SQTB Đồng Đế, Nha Trang, viết
để tưởng niệm các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa tham
dự mặt trận Thường Đức năm 1974:
“Giặc qua Sông Côn về Thường Đức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược ḍng sông đêm thao thức
Di binh, chuyển pháo tấn công đồn
Anh Biệt Động Quân đêm pḥng thủ
Nh́n qua ánh sáng lỗ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai
Anh lính địa phương trong lô-cốt
Tay cầm ống phóng bảy-mươi-hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập ḷe ánh lửa bóng liêu trai
Anh lính pháo binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng, thông ṇng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha
Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Đại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà
Anh lính Không Quân từ Đà Nẵng
Phi pháo từng đêm chặn giặc về
Có lẽ đêm nay anh thức trắng
Đợi chờ phi vụ đắng cà-phê
Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị
Ba-lô, súng đạn tới Cầu Ch́m
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lũy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim
Đại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng, bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vỉ ai tẩm máu đào
Hơn ba mươi năm ngày lịch sử
Thường Đức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn
Tôi nhớ ơn anh, người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau c̣n nhớ măi không thôi...”
Hôm nay đây, 35 năm sau trận đánh Thường Đức lịch sử, nhân
lúc Tết đến, Xuân về, bài này được viết lên như là một nén
hương ḷng kính dâng đến anh linh các chiến sĩ Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa thuộc mọi quân, binh chủng, Cảnh Sát Quốc Gia,
các lực lượng đặc biệt và biệt kích, lực lượng Xây Dựng Nông
Thôn và các lực lượng bán quân sự... đă đem chính máu đào
của ḿnh ra bảo vệ miền Nam tự do chống lại nanh vuốt Cộng
Sản xâm lược cho đến hơi thở cuối cùng. Hỡi những người tị
nạn Việt Nam đang vui hưởng tự do, dân chủ tại các nước bên
ngoài Việt Nam, hăy nhớ lấy cái căn cước tị nạn của ḿnh và
chớ quên ơn các chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă vị quốc vong
thân để cho ḿnh và gia đ́nh ḿnh được sống c̣n trong thịnh
vượng và hạnh phúc cho tới ngày nay! (V.P.)
------ Ghi chú: -------------------------------------
(1) “Sau đó,
Bắc quân tháo lui v́ chịu không nổi phi pháo của Việt Nam
Cộng Ḥa ngày đêm dập vào các điểm trú quân của họ. Bộ chỉ
huy Cộng quân thấy khó giữ 1062, nên ra lệnh rút lui trong
đêm tối...” (Đại Úy Vơ Trung Tín và
Đại Úy Nguyễn Hữu Viên, “35 Năm Nhớ Về Mặt Trận
Thường Đức”)
(2) Trận Thường Đức cũng c̣n là trận đánh vẻ vang để đời sau
cùng của vị tư lệnh cuối cùng của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam
Cộng Ḥa, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng. Ông đă áp dụng
chiến thuật xa luân chiến để hai Lữ Đoàn Nhảy Dù thay phiên
nhau giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai Sư Đoàn 304
(Điện Biên) và 324B cùng một Trung Đoàn của Sư Đoàn 2 Cộng
Sản Bắc Việt và các lực lượng địa phương. (V.P.)
|