Ba Mươi Năm Nh́n Lại,
Cựu
Quân Nhân Mỹ
Việt
Nghĩ Ǵ Về
Chiến
Tranh Việt
Nam?
Lữ
Anh Thư
- Đó là đề
tài của
buổi
hội
thảo
do Trung Tâm Việt
Nam (Vietnam Center) thuộc
Đại
Học
Texas Tech tổ
chức
tại
thành phố
Lubbock, Texas vào 2 ngày 17 và 18 tháng 3 vừa
qua. Hơn
30 năm sau, vẫn
c̣n biết
bao thắc
mắc,
bao bàn bạc
về
sự
thất
thủ
của
Việt
Nam Cộng
Ḥa (VNCH).
Đây là lần
đầu
tiên tôi đến
thành phố
này, lần
đầu
tiên tham dự
cuộc
hội
thảo
về
chiến
tranh Việt
Nam do Vietnam Center tổ
chức.
Tôi đă nghe rất
nhiều
về
những
buổi
hội
thảo
trước
đây do Trung Tâm này tổ
chức,
đă muốn
đến
tham dự
từ
lâu nhưng
măi đến
lần
này mới
thực
hiện
được
ư định.
Niềm
nô nức
đến
Lubbock là được
học
hỏi
những
điều
mới
mẻ,
được
cất
lên tiếng
nói của
ḿnh, và được
gặp
những
người
bạn
mới
Mỹ
cũng như
Việt.
Quầy
rượu
giữa
sân khách sạn
là nơi
tôi đă gặp
Phó Đô Đốc
E. Tidds và phu nhân cùng một
số
sĩ quan từng
phục
vụ
tại
Việt
Nam. Tuy đă ngoài bát tuần,
Phó Đô Đốc
Tidds vẫn
c̣n rất
minh mẫn.
Ông đă kể
cho tôi nghe thời
kỳ ông tham chiến
tại
Việt
Nam dưới
quyền
Đô Đốc
Zumwalt. Đa số
các vị
này đă đến
đây nhiều
lần
và có sự
liên hệ
thân mật
với
Vietnam Center. Tuy nhiên, họ
cũng có mặt
lần
này để
làm nhân chứng
cho t́nh chiến
hữu,
t́nh đồng
minh và tinh thần
chiến
đấu
anh dũng của
Quân Lực
Việ
t Nam Công Ḥa (QLVNCH).
Trong thành phần
diễn
giả
Việt
Nam, người
ta nhận
thấy
cựu
Đại
Tá Đỗ
Kiểm,
cựu
Đại
Tá Mai Viết
Triết,
nhà văn Hải
Triều,
Giáo Sư
Nguyễn
Ngọc
Bích, Giáo sư
Nguyễn
Thế
Tiến,
Thủy
Quân Lục
Chiến
Trần
Ngọc
Toàn, Biệt
Động
Quân Vũ Hiếu,
Người
Nhái Nguyễn
Văn Kiệt
và một
số
thuyết
tŕnh viên trẻ
như
Nguyễn
Minh Triết
đến
từ
Canada, Hoàng Tuấn
từ
miền
Đông Bắc
Hoa Kỳ và Nguyễn
Vinh của
Texas. Về
phía Hoa Kỳ th́ có Tiến
Sĩ Lewis Sorley, tác giả
của
những
tác phẩm
về
chiến
tranh Việt
Nam vô cùng giá trị
như
A Better War, Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes; Tiến
Sĩ James Willbanks, Tiến
Sĩ Andrew Wiest, Tiến
Sĩ Mark Moyar, Tiến
Sĩ Larry Berman (tác giả
của
No Peace, No Honor-Nixon, Kissinger and the betrayal in Vietnam), nhà văn trẻ
Jay Veith, cùng một
số
cựu
chiến
binh Mỹ
từng
tham chiến
tại
Việt
Nam mà chúng ta chưa
được
dịp
làm quen như
Bill Laurie, Steve Sherma, Darrell Whitcomb. Diễn
giả
danh dự
cho buổi
dạ
tiệc
là cựu
Trung Tướng
Lữ
Lan.
Đi một
ngày đàng, học
một
sàn khôn là châm ngôn ông bà ta ngày xưa
thường
nói. Cho nên trong chuyến
đi này, tôi cảm
thấy
đă học
hỏi
được
rất
nhiếu,
cả
điều
hay lẫn
điều
không hay. Cái hay đầu
tiên mà tôi nhận
thấy
là t́nh chiến
hữu,
t́nh đồng
đội
mà những
người
cựu
chiến
binh Mỹ
vẫn
dành cho QLVNCH, rằng
chúng ta vẫn
c̣n những
người
bạn
tốt,
can đảm,
dám nói lên sự
thật
để
bảo
tồn
uy tín cho một
quân lực
đă bị
thế
giới
cố
t́nh d́m vào quên lăng. Riêng các cựu
chiến
sĩ của
QLVNCH th́ tấm
ḷng đối
với
quân lực
vẫn
chẳng
hề
bị
soi ṃn sau hơn
30 năm. Và như
tất
cả
các cuộc
hội
họp,
những
cuộc
hội
thảo
“hành lang” là những
cơ
hội
học
hỏi
thích thú nhất.
Hội
thảo
về
QLVNCH khai mạc
ngày Thứ
Sáu 17 tháng 3. Mở
đầu
là bài tham luận
của
Tiến
Sĩ Lewis Sorley. Trong phần
nói chuyện
dài 30 phút, TS Sorley đă đưa
ra những
bằng
chứng
cụ
thể
để
phản
bác những
dư
luận
sai lầm
đầy
ác ư từ
trước
đến
nay về
QLVNCH. Ông cho rằng
sự
tham chiến
của
HK tại
VN là cần
thiết,
sự
hy sinh là xứng
đáng cũng như
nhận
định
những
sai lầm
của
HK trong việc
trang bị
khí giới
cho QLVNCH. Và đối
với
một
người
thuộc
thế
hệ
con cháu, đây là lần
đầu
tiên tôi được
nghe xác nhận
rằng
trong thời
kỳ đầu
của
HK tại
VN, họ
đă đẩy
QLVNCH sang một
bên (shove to the side) để
dành quyền
hành quân.
Chỉ
sau khi VNCH được
trang bị
với
vơ khí tối
tân hơn
sau Tết
Mậu
Thân và bắt
đầu
của
Việt
Nam Hóa chiến
tranh, QLVNCH mới
làm chủ
các trận
địa.
(Đó là lư do con số
tử
vong của
HK cao và tạo
cơ
hội
cho dư
luận
sai lầm
rằng
VNCH đă không chiến
đấu?)
Nói về
tinh thần
chiến
đấu,
TS Sorley cho biết
trong Trung Tâm Văn Khố
Quốc
Gia của
Hoa Kỳ (US National Archive) có hằng
ngàn văn bản
ghi lại
những
huy chương
của
HK trao tặng
cho quân nhân của
QLVNCH để
ghi nhận
chiến
công của
họ.
Tiếc
thay, chẳng
ai buồn
nhắc
đến.
Nói về
khuyết
điểm,
ông ghi nhận
rằng
QLVNCH đă có những
khiếm
khuyết
về
chỉ
huy và tham nhũng, nhưng
không đáng kể
để
quy tội
đưa
đến
hệ
quả
sụp
đổ
miền
Nam. Và bằng
một
giọng
trầm
buồn,
ộng
cho rằng
Hoa Kỳ mang mối
nhục
là đă bỏ
rơi
người
bạn
đồng
minh của
ḿnh trong những
giờ
phút đen tối
nhất.
Quân đội
Hoa Kỳ không bỏ
cuộc
mà chính những
chính trị
gia hèn nhát trong quốc
hội
đă bỏ
cuộc,
khiến
cho HK mang tội
phản
bội
với
miền
Nam Việt
Nam. Không những
ông mà những
diễn
giả
sau đó như
Tiến
Sĩ James Willbanks cũng đă xác định
tương
tự.
Không chỉ
Tiến
Sĩ Lewis Sorley mà hầu
hết
những
diễn
giả
Hoa Kỳ sau đó đều
bày tỏ
ḷng cảm
phục
cho người
bạn
đồng
minh QLVNCH và tỏ
ư trách cứ
chính phủ
Hoa Kỳ đă có quyết
định
bỏ
rơi
quân dân Miền
Nam Việt
Nam. Ông Bill Laurie đă thẳng
thắng
chỉ
trích giới
truyền
thông Hoa Kỳ là đă lừa
dối
ông cùng đồng
đội
của
ông về
những
ǵ xăy ra tại
Việt
Nam. Ông cho biết
khi ông được
biệt
phái sang vùng 4 chiến
thuật,
những
người
chiến
sĩ Mỹ
ông gặp
tại
chiến
trường
đều
hăng hái vui vẻ
chiến
đấu.
Theo lời
ông, họ
đă những
có nụ
cười
lớn
khi khoe rằng
họ
đă “đá đít những
tên việt
cộng”
(they were ears to ears bragging “we whacked their butts”). Ông c̣n nói thêm, những
ǵ ông học
được,
ông đă học
trong những
quán cốc
với
những
người
bạn
chiến
binh VNCH. Bất
măn trước
những
dư
luận
sai lầm
đầy
ác ư về
cuộc
chiến
cũng như
người
bạn
đồng
minh của
ḿnh, ông Bill Laurie đă cùng một
vài cựu
chiến
binh Mỹ
thực
hiện
cuốn
sách nhỏ
mang tên White Wash/Black Wash-Myths about the Vietnam War. Ông cho biết
cuốn
sách này thực
hiện
bằng
Anh ngữ
dễ
hiểu
cho tuổi
trẻ
đọc
để
họ
không bị
lừa
bởi
những
tuyên truyền
sai lạc.
Một
trong những
thuyết
tŕnh viên trẻ
trong chương
tŕnh hội
thảo
là anh Nguyễn
Minh Triết,
một
ứng
viên trong chương
tŕnh Tiến
Sĩ Sử
học
tại
Đại
học
Ottawa, Canada. Phần
tŕnh bày của
anh gồm
3 lư luận,
và một
trong 3 lư luận
đó là trong cuộc
chiến
dành độc
lập
từ
1954-1963, đă có một
cuộc
nội
chiến
lồng
trong chiến
tranh độc
lập.
Lập
luận
của
anh dựa
trên một
số
tài liệu
khảo
cứu
và trên một
số
cuộc
phỏng
vấn
cá nhân. Không ít những
gia đ́nh Việt
Nam bị
xâu xé v́ đă có thân nhân tham chiến
cả
2 bên, quốc
gia và cộng
sản.
Lập
luận
trên của
anh đă làm bất
b́nh một
số
cử
tọa
người
Việt,
cho rằng
chiến
tranh VN là cuộc
chiến
ư thức
hệ,
không phải
là nội
chiến.
Theo người
viết,
cả
2 lập
luận
đều
có lư. Cuộc
chiến
dài trên 20 năm tại
Việt
Nam tuy là để
chống
lại
chủ
nghĩa cộng
sản,
một
chủ
nghĩa ngoại
lai, tuy nhiên đă do người
Việt
Nam gây đến
cho người
Việt
Nam. Chưa
kể
rằng
gọi
như
thế
(nội
chiến)
là để
phân biệt
với
những
ǵ cộng
sản
thường
rêu rao là chiến
tranh chống
Mỹ,
nhằm
bành trướng
một
chủ
nghĩa bạo
lực
đội
lốt
chính nghĩa. Nếu
không gọi
là nội
chiến,
chúng ta có thể
gọi
cuộc
chiến
tương
tàn Bắc
tấn
công Nam là cuộc
chiến
ǵ? Một
học
giả
Hoa Kỳ đă thắc
mắc
nếu
lập
luận
của
anh NMTriết
do một
người
da trắng
đưa
ra, liệu
có bị
cử
tọa
VN chống
đối?
Một
thuyết
tŕnh viên trẻ
khác là anh Hoàng Tuấn
tŕnh bày về
cuộc
nổi
loạn
của
thương
phế
binh vào những
năm 1970-71 cũng đă làm cử
tọa
bất
b́nh v́ đă đưa
một
h́nh
ảnh
tiêu cực
về
chiến
sĩ VNCH. Tuy nhiên, theo anh Hoàng Tuấn
th́ anh muốn
nói lên cảm
tưởng
của
những
người
thương
phế
binh VNCH rằng
khi bị
tàn phế,
họ
đă không được
đền
bù xứng
đáng. Anh Hoàng Tuấn
c̣n quá nhỏ
khi chuyện
thương
phế
binh cắm
dùi xăy ra. Anh không nhớ
ǵ và dựa
hoàn toàn sự
nghiên cứu
của
anh qua tài liệu
lưu
trữ
tại
ĐạI
Học
Cornell. Ngay tại
Hoa Kỳ này, cựu
chiến
binh Mỹ
c̣n không được
lo lắng
chu toàn th́ nói ǵ đến
VN trong thời
chiến.
Diễn
giả
đặc
biệt
trong giờ
cơm
trưa
ngày Thứ
Sáu là Giáo Sư
Nguyễn
Ngọc
Bích, cựu
giám đốc
chương
tŕnh Việt
ngữ
đài Á Châu Tự
Do và hiện
là Chủ
Tịch
Hội
Đồng
Đỉều
Hành của
Nghị
Hội
Người
Việt
Toàn Quốc
tại
Hoa Kỳ. Trong phần
tŕnh bày của
ông, GS Bích đă bàn lại
một
số
vấn
đề
như
tên gọi
cuộc
chiến,
bằng
chứng
bạo
lực
mà cộng
sản
Hà Nội
đă mang đến
cho miền
Nam, so sánh vũ khí trang bị
giữa
thế
giới
cộng
sản
cho miền
Bắc
và thế
giới
tự
do tức
Hoa Kỳ cho miền
Nam, và bàn cờ
chính trị
quốc
tế
vào thời
điểm
1975. Theo GS Bích, cuộc
chiến
VN cần
được
gọi
là chiến
tranh Đông Dương
v́ đă xăy ra trên lành thổ
VN, Lào và Cam Bốt
như
ông đă từng
tranh luận
với
ông Douglas Pike, một
sáng lập
viên của
Vietnam Center. Nói về
bào lực
gây chiến,
GS Bích đă dựa
trên một
bản
dự
thảo
báo cáo nộp
lên cho tướng
việt
cộng
Vơ Nguyên Giáp cho thấy
số
lượng
quân lính bộ
đội
đă gởi
vào Nam trong suốt
cuộc
chiến
lên trên một
triệu
người.
Người
ta phải
đặt
dấu
hỏi
vào con số
được
Hà Nội
chính thức
công bố
v́ nó ít hơn
so với
con số
dự
thảo.
Phải
chăng cộng
sản
Hà Nội
đă cố
t́nh báo cáo con số
nhỏ
hơn
để
che đậy
tổn
phí nhân mạng
mà họ
đă phí phạm
để
thôn tính miền
Nam? Tuần
báo Newsweek đă từng
gọi
quân dân miền
Nam là những
con thỏ
đế
so với
con hùm cộng
sản.
Ấy
vậy
mà 300 ngàn con thỏ
đế
Nam Việt
Nam đă tiêu diệt
gần
1 triệu
con hùm cộng
sản.
Phần
tŕnh bày của
GS Bích đă trả
lời
cho một
nhận
định
sai lầm
rằng
“quân dân miền
Nam đă không tranh đấu
cho tự
do.”
Các diễn
gỉa
Vũ Hiếu,
Trần
Ngọc
Toàn cũng như
Đỗ
Kiểm/Trần
Đỗ
Cẩm
đă nói về
Binh chủng
Biệt
Động
Quân VN, Thủy
Quân Lục
Chiến
VN trong trận
B́nh Gỉa
và cuộc
hải
chiến
tại
quần
đảo
Hoàng Sa và Trường
Sa với
hải
quân Trung Cộng.
TQLC Trần
Ngọc
Toàn đă phản
đối
việc
chiến
sĩ TQLC VN đă phải
hy sinh để
cứu
một
TQLC Mỹ
rồi
lại
bị
Mỹ
bỏ
quên trong cuộc
tải
thương
sau đó. Ông cũng cho biết
sự
phối
hợp
giữa
TQLC Mỹ
và VN không được
thuận
thảo.
Cựu
Đại
Tá Đỗ
Kiểm
trong phần
tường
thuật
cuộc
hải
chiến
đă nhận
định
rằng
mệnh
lệnh
của
cấp
chỉ
huy VN trong trận
Trường
Sa đă không phù hợp
với
thực
tế
v́ cấp
chỉ
huy trên đất
liền
đă không nắm
vững
t́nh h́nh chiến
trận.
Phần
tŕnh bày của
Tiến
Sĩ James Willbanks nói về
trận
An Lộc
mà chính ông đă tham chiến.
Ông đă ca ngợi
tinh thần
chiến
đấu
dũng cảm
của
QLVNCH, kiên tŕ dưới
làn mưa
pháo và trong hoàn cảnh
thiếu
thốn
mọi
bề
suốt
2 tháng dài. Ông cũng nhận
định
rằng
đă có những
sự
việc
tiêu cực
xăy ra, tuy nhiên không đáng kể.
Ông cho biết
năm 2005, ông đă trở
lại
thăm An Lộc.
Cộng
Sản
Việt
Nam đă xóa hết
mọi
dấu
tích của
cuộc
chiến
tàn khốc
năm nào, kể
că san bằng
nghĩa trang của
lữ
đoàn 81 biệt
kích dù VNCH.
Người
Nhái Việt
Nam Nguyễn
Văn Kiệt
đă làm say mê cử
tọa
khi anh tường
thuật
lại
cuộc
mạo
hiểm
của
anh cùng Tom Norris vào ḷng đất
địch
để
cứu
một
phi công Mỹ
bị
bắn
rơi
tại
vùng sông Cam Lộ,
tỉnh
Quảng
Trị.
Khi anh kết
thúc câu chuyện,
cử
toạ
đă đồng
loạt
đứng
lên dành một
tràn pháo tay dài cho ḷng dũng cảm
của
anh. Cựu
chiến
binh Hoa Kỳ Bill Laurie đă bày tỏ
sự
bất
b́nh của
anh ta qua lời
nhận
định
rằng
người
phi công được
cứu
sống,
Hambleton, khi viết
câu chuyện
thành sách và sau đó thành phim, đă không nhắc
đến
người
đă cứu
mạng
ḿnh. Bill Laurie sau đó đă thố
lộ
“tôi đă phải
cố
gắng
lắm
để
dằn
lời
thô tục
dành cho tên Hambleton.”
Trong phần
tŕnh bày về
sự
bức
tử
của
miền
Nam và của
QLVNCH, cựu
Đại
Tá Đỗ
Kiểm
đă liệt
kê những
sự
cắt
giảm
viện
trợ
về
vũ khí và đạn
dược
cho miền
Nam của
chính phủ
và quốc
hội
Hoa Kỳ trong suốt
thời
gian từ
sau Hiệp
Định
Paris, mặc
nhiên phủ
nhận
mọi
cam kết
trước
đó. Trong hoàn cảnh
thiếu
thốn
mọi
bề,
miền
Nam đă không thể
nào đối
phó nổi
với
một
miền
Bắc
được
thế
giới
cộng
sản
dành cho mọi
viện
trợ
tối
tân nhất.
Điều
đáng nhắc
đến
là tại
một
buổi
hội
thảo
về
chiến
tranh VN qua các đời
Tổng
Thống
Mỹ
liên hệ
tổ
chức
tại
Boston một
tuần
trước
đó, người
ta đă được
nghe một
cuộn
băng thu thanh cuộc
trao đổi
giữa
TT Nixon và cố
vấn
an ninh Hoa Kỳ Kissinger. Trong đó, Nixon và Kissinger đă biết
trước
chỉ
trong tối
đa hai năm sau ngày kư kết
hiệp
định,
miền
Nam sẽ
bị
miền
Bắc
thôn tính. Kissinger trong một
thông điệp
gởi
Thủ
Tướng
Trung cộng
Chu Ân Lai đă hứa
rằng
Mỹ
sẽ
không can thiệp
vào miền
Nam dù trong bất
cứ
hoàn cảnh
nào. Cuộn
băng thu thanh đă thu rơ chủ
trương
của
chính phủ
Nixon ngày đó, quyết
định
bỏ
rơi
Việt
Nam v́ đă không c̣n phù hợp
trong chính sách toàn cầu
của
Mỹ.
Một
diễn
giả
chưa
từng
được
sống
dưới
chế
độ
Cộng
Ḥa của
miền
Nam Việt
Nam nhưng
ông đă lặn
lội
đường
xa từ
Vancouver, Gia Nă Đại
đến
Lubbock để
được
cất
tiếng
nói cảm
ơn
QLVNCH đă hy sinh để
bảo
vệ
đất
nước,
bảo
vệ
truyền
thống
văn hóa của
người
Việt
Nam cho đến
năm 1975. Trong thời
kỳ chinh chiến,
GS Nguyễn
Thế
Tiến
dạy
đại
học
tại
Hà Nội.
Tuy nhiên, v́ không là đảng
viên, ông không được
gọi
là giáo sư.
Ông cho biết
nếu
không có sự
chiến
đấu
can trường
của
QLVNCH th́ đất
nước
Việt
Nam đă bị
dâng cho “đàn anh Trung Quốc”
từ
lâu. Chính GS Tiến
đă từng
nghe cộng
sản
tuyên bố
rằng
thà dâng Hoàng Sa, Trường
Sa cho Trung Quốc
c̣n hơn
để
cho ngụy.
Đây là bằng
chứng
của
chủ
trương
triều
cống,
làm tay sai cho ngoại
bang, sẵn
sàng bán nước,
buôn dân của
đảng
cộng
sản
Việt
Nam.
Đêm Dạ
Tiệc
của
chương
tŕnh hội
thảo
đă được
tổ
chức
tại
sân trong nhà của
khách sạn
Holiday Inn. Diễn
giả
danh dự
là cựu
Trung Tướng
Lữ
Lan. Trong phần
tŕnh bày của
ông, TT Lữ
Lan đă phân tích và so sánh 2 bộ
máy chiến
tranh quốc
gia và cộng
sản,
tŕnh bày về
thể
loại
chiến
tranh mệnh
danh là chiến
tranh trường
kỳ và toàn diện
và chiến
thuật
mà VNCH và Hoa Kỳ đă dung để
đối
phó. Ông cũng đă chia sẻ
những
kinh nghiệm
cá nhân trong việc
phối
hợp
với
các cố
vấn
Hoa Kỳ và những
khó khăn gặp
phải
khi cần
thuyết
phục
họ
thay đối
chiến
thuật.
Và cuối
cùng, ông đă nói đến
nổi
xót xa của
những
ngựi
cựu
chiến
sĩ QLVNCH khi phải
đối
đầu
với
những
lời
phê b́nh 30 năm sau là QLVNCH đă không chiến
đấu
cho tự
do. Ông cho biết
đó là một
sự
xúc phạm
nghiêm trọng
không những
cho người
chiến
sĩ tị
nạn
mà luôn cả
anh linh 300 ngàn tử
sĩ.
Ngoài những
diễn
giả
kể
trên c̣n có một
số
học
giả
Hoa Kỳ nói về
thuyết
chống
du kích của
Ngài Robert Thompson. Ngài Robert Thompson đă thành công trong cuộc
chiến
tranh chống
du kích tại
Mă Lai, đă chỉ
trích chiến
thuật
chống
du kích áp dụng
tại
chiến
trường
VN, nhưng
đă có lời
khâ m phục
tinh thần
chiến
đấu
của
QLVNCH. Một
bài b́nh luận
khác đă nhận
định
về
sự
vô h́nh của
người
chiến
sĩ VNCH trong báo giới
Hoa Kỳ. H́nh
ảnh
của
người
chiến
sĩ VNCH luôn bị
mô tả
như
một
kẻ
bất
tài, vô tướng.
Tiến
Sĩ Phil Beider kết
luận
rằng
“Bất
cứ
một
ai chiến
đấu
cho tự
do cũng đáng được
một
sự
tôn kính.”
Tựu
trung, cuộc
hội
thảo
tái lượng
định
QLVNCH sau 30 năm do Vietnam Center tổ
chức
tại
Lubbock đă có kết
quả
tương
đối
tốt
đẹp,
đă ghi nhận
lại
tinh thần
chiến
đấu
và gương
hy sinh anh dũng của
QLVNCH. Sự
thật
đă được
trả
lại
cho lịch
sử.
Những
sai lầm
về
chỉ
huy, lănh đạo
nếu
có, cũng không thể
phủ
nhận
sự
dũng cảm
của
người
lính VNCH. Điều
đáng tiếc
là đă không có một
bài tham luận
nào nói về
cuộc
chiến
chiếm
lại
Cố
Đô Huế
và cuộc
thảm
sát tại
đó vào năm 1968, cũng như
đă không có bài tham luận
nói về
chính sách trả
thù thâm độc
và tàn bạo
của
cộng
sản
VN qua cái gọi
là “học
tập
cải
tạo
và kinh tế
mới”.
Một
điều
đáng nói khác là cuôc hội
thảo
với
sự
tham dự
của
những
học
giả,
sử
gia tên tuổi
của
Hoa Kỳ, vẫn
không tạo
được
sư
chú ư của
giới
truyền
thông Mỹ.
Chỉ
có tờ
nhật
báo và đài truyền
h́nh ABC/CBS tại
địa
phương
ghi nhận.
Chẳng
bù với
buổi
hội
thảo
tại
Boston tuần
trước
đó. Điều
đó cho thấy
dư
luận
Hoa Kỳ sau 30 năm vẫn
thiếu
khách quan, thiếu
trung thực
và thiếu
công bằng
cho miền
Nam Việt
Nam.
Trong phần
thảo
luận
về
cái chết
của
QLVNCH, một
câu hỏi
đă được
đặt
ra về
hiệp
định
Paris và sự
“đi đêm” giữa
Mỹ
và việt
cộng.
Hành động
này đă cho thấy
sự
thiếu
tương
kính giữa
hai đồng
minh Mỹ
Việt
và đă cho cộng
sản
VN chính nghĩa “chiến
đấu
chống
đế
quốc
Mỹ”.
Trong lúc chủ
tọa
đoàn cố
gắng
t́m lời
giải
thích th́ Phó Đô Đốc
E. Tidds đă lên máy vi âm để
bày tỏ
ḷng ân hận
của
ông về
những
ǵ đă xăy ra và “thay mặt
cho quân lực
Hoa Kỳ, ngỏ
lời
xin lỗi
đối
với
QLVNCH.” Đây, đối
với
người
viết,
là giây phút đáng ghi nhớ.
30 năm đă qua, VNCH đă không c̣n, nhưng
một
lời
tương
tự
đă xoa dịu
phần
nào nỗi
đau vong quốc
của
người
Việt
quốc
gia.
Lữ
Anh Thư
Virginia 03/06