Sự thật chỉ có một nhà thơ Nguyễn Chí Thiện
Thursday, October 16, 2008

Phan Nhật Nam

 

Lời người viết.- Người bạn Trần Phong Vũ đă viết đủ trong “Nghĩ về Nguyễn Chí Thiện” (NV số 8339 ngày 6 tháng 10/2008), nhưng Trần Huynh chưa đề cập đến những “chung quanh, đằng sau Nguyễn Chí Thiện”, bài nầy v́ thế được viết nên. Xin lỗi với quư độc giả nếu phải đọc lại thêm một lần những nội dung về người/việc mà bài viết của Trần Phong Vũ đă nêu ra. Tất cả chỉ do ư hướng muốn nói rơ ra sự việc mà thôi. Trang trọng.

PNN

(Tiếp theo kỳ trước)

 

Nguyễn Chí Thiện “thật”/sống sót và Nguyễn Chí Thiện “giả”/thơ văn

 

Khi bắt đầu loạt bài viết, chúng tôi có ư nghĩ, sự việc sẽ được giải tỏa toàn diện khi NCT tŕnh bày bản thảo viết tay (mà bản thân đă xem qua tại nhà riêng, 4117 McFadden #410, Santa Ana trước ngày ông Thiện dọn ra) nhận được từ tay Đinh Quang Anh Thái (7/2008) trước một cử tọa đông đảo thuộc giới truyền thông báo chí (lẽ tất nhiên có tham dự của SGN). Ư nghĩ nầy càng thêm cụ thể khi bài viết của Trần Phong Vũ được phổ biến (Người Việt, 10/6; trên hệ thống NET, 10/4) Nhưng sự việc không c̣n giới hạn trong phạm vi thơ văn nữa (Về vấn đề “Ai là tác giả ‘thật’ của Thơ Vô Đề”) mà đă qua một lĩnh vực khác với những khẳng định về tư cách, hành vi chính trị của NCT với những phát hiện mới của SGN (ĐN (nt, #37). Bài viết nầy cần phải viết thêm phần ba để nêu rơ hơn về diễn tiến của Người (NCT) và Việc (Thơ Vô Đề). Nếu những luận cứ cáo buộc tŕnh bày sau đây mâu thuẫn với nhau (Thật/Giả chen lẫn) là do: 1/Những người (tố cáo) viết nhiều “nội dung/cách thức” khác (biệt) với nhau cho dù cùng nhắm đến một đối tượng duy nhất: NCT và Tập Thơ Vô Đề. 2/Bài họ viết tại những thời điểm khác nhau. 3/Những người nầy trích giải “Thơ Vô Danh/Vè NCT” do những mục đích khác nhau. Chúng tôi (PNN) chỉ là người ghi lại.

Sau đây là những cáo buộc căn cứ từ lời Thơ (Có lúc được xem như là “thật” của NCT; có lúc được gọi là của Vô Danh) Tất cả đồng có mục đích chung kết với ba cáo buộc (không rơi vào một trường hợp nầy th́ (phải) rơi vào một “xác định” khác): 1/Đấy là một Nguyễn Chí Thiện “giả”. 2/Nếu là Nguyễn Chí Thiện “thật” th́ (lại) mang tội dùng Thơ “thật” của Vô Danh. 3/ Nếu là thơ “thật” của NCT “thật” th́ thơ đó (phải) gọi là “Vè”, tóm lại NCT (hiện sống) trước sau chỉ là một “cán bộ t́nh báo cộng sản trá h́nh”, làm vè cốt để đóng trọn vai tṛ của một “Thi Sĩ tên gọi Vô Danh (?)kiên cường chống cộng mà nay đă bị giết chết/hoặc biến mất đâu đó từ một lúc nào không ai xác định (1979?) - Một thi sĩ có ba điều Không: Không tính danh-Không xuất xứ-Không có liên hệ với bất cứ ai đang c̣n sống, đang viết báo”

Chúng ta cùng lượt qua những luận cứ cáo buộc.

 

3.1: Cáo buộc thứ nhất về xuất xứ

Báo Vạn Thắng (Lê Tư Vinh chủ nhiệm), thời điểm 1995, 1996 cho rằng, Nguyễn Chí Thiện là “cán bộ t́nh báo cộng sản giả dạng” mạo Thơ Huyết Hoa, Đạo Trường Ngâm của Thái Dịch Lư Đông A. Cáo buộc nầy không thể đứng vững v́ nhà cách mạng Lư Đông A bị cộng sản giết từ 1946. Thơ của họ Lư mang không khí lăng mạng, hùng tráng cổ điển: Ta về đây đứng bên bờ thác Nậm. Mặc heo may hun hút gió hờn oan... Thơ (“tạm” gọi là) của NCT th́ đề cập đến thời sự: Khi Mỹ chạy bỏ Miền Nam cho cộng sản. Cả nước thu về một mối. Một mối hận thù. Một mối đau thương (1975). Hoặc miêu tả thực tế đời sống lao tù: Thơ của tôi không phải là thơ... Tiếng cửa nhà giam đen ng̣m khép mở... (1970)

 

3.2: Cáo buộc thứ hai về thể chất

Thơ (cứ xem như “thật” của NCT) nhưng lại không phù hợp với thực tế thể chất của NCT (hiện sống): Thơ của tôi không có ǵ là đẹp. Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao... Căn cứ vào những ḍng thơ nầy, có những tố cáo từ nhiều người: 1/ TNHHoa (Houston, TX): Nguyễn Chí Thiện không ho lao, NCT khỏe mạnh, béo tốt. 2/ Trần Thanh: Nghi vấn về sức khỏe (Ông Thiện dỏm rất khỏe mạnh chớ không bị ho lao.) ĐN trích đăng NĐNN: SGN số # 14; 9/4). 3/ Triệu Lan: “thi sĩ, văn sĩ, vè sĩ” Nguyễn Chí Thiện “mang bệnh” ung thư phổi, ho lao, ung thư và bị “tù” 27 năm nhưng khi NCT bước chân xuống Hoa Kỳ ngày1/11/1995 trông Thiện phương phi, khỏe mạnh, với y phục thời trang veston, áo pullover... như một “lănh tụ” phường tuồng (SGN # 527; 10/4). Chúng tôi có thể trích dẫn thêm nhiều cáo buộc về “thể chất” về NCT “dỏm” nữa, nhưng nghĩ đă đủ.

Những suy diễn cáo buộc trên không đúng v́: 1/ NCT thật có bị bệnh phổi nhưng ĐĂ CHỮA TRỊ XONG cơ quan IOM mới cho nhập cảnh Mỹ. Y chứng NCT c̣n sẹo ở phổi, phải chữa trị tiếp trong thời gian ở DC (1995/1996). 2/ Những từ ngữ “trào máu; ho lao; gông cùm; cùm kẹp...” thường dùng để chỉ t́nh trạng tồi tệ về thể chất bị đầy ải mà bất cứ ai khi mô tả, nói về ngục tù cộng sản cũng đều sử dụng đến. 3/ Thơ không là hồ sơ y bạ, tiểu thuyết cũng thế. Nhất Linh viết Bướm Trắng với nhân vật chính bị bệnh lao không bắt buộc văn hào họ Nguyễn phải có bịnh phổi. Thanh Tâm Tuyền viết Ung Thư; Solzhenitsyn viết Cancer Ward... Họa chăng chỉ riêng trường hợp Hàn Mặc Tử với căn bịnh nan y của ông. Quách Thoại chết năm 28 tuổi (1957) v́ bệnh lao, nhưng nào có viết một câu thơ liên quan đến máu me mà chỉ viết nên những lời thơ hùng tráng: Trước mặt là cộng sản. Sau lưng là nội thù. Một ḿnh tôi đứng giữa... 4/ Thơ (tiểu thuyết cũng thế) không bắt buộc phản ảnh đúng t́nh cảnh, sinh hoạt thực tế vật chất, tinh thần của người viết nên những nội dung văn, thơ ấy... T́m đâu ra một một người gọi là Từ Hải như Nguyễn Du mô tả: Râu hùm hàm én. Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Nguyễn Du lại càng không phải dạng h́nh hùng vĩ nầy. Vũ Trọng Phụng là nhà văn mực thước, cổ điển, ông không dính dấp ǵ đến những nhân vật quỷ quái của Số Đỏ. 5/ Nguyễn Chí Thiện không là người “khỏe mạnh, phương phi”. Những tỉnh từ nầy phải kể về Đại Úy Biệt Kích Nguyễn Hữu Luyện (tù 21 năm, 4 tháng, 14 ngày); tù hơn 16 năm: Thiếu Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Trung Tá T́nh Báo Trần Duy Hinh (Hăy nh́n nhà văn Thảo Trường, chiến hữu rất đáng hănh diện của tất cả người lính VNCH. Không ai có thể nghĩ rằng đấy là người đă qua hẳn bên kia cái chết tại trại tù Hàm Tân, 1988). Những người tù tồn tại bền bỉ (trong nhà giam cộng sản) không do từ sức mạnh cơ bắp, nhưng từ chiếc đầu nung lửa ư chí của họ. Chỉ có những kẻ hèn kém mới ngă gục, quy hàng trước đói khổ của lao tù do cai ngục cộng sản dựng nên (Kẻ ấy là ai, cuối bài, phần kết luận chúng tôi sẽ chỉ ra, trước đây ở Trại Z30D, Hàm Tân, Thuận Hải). Và cuối cùng, NCT ăn mặc bảnh bao (suy diễn ra do được t́nh báo cộng sản cung cấp?!). Chỉ với vài đồng, một, hai chục, chứ không cần phải bạc trăm, bước vào những khu Outlet, hoặc cơ sở bán đồ Clearance, Goodwill... Tất cả sẽ có đủ. Chúng ta có thể hiểu, kẻ viết nên những cáo buộc mang tính săm soi nhỏ nhặt nầy đang ở Anh, ở Pháp nơi Tây Âu tàn lụi, hết là những “cường quốc thực dân”.

 

3.3. Cáo buộc về mâu thuẫn thân thế, tuổi tác, thời điểm sáng tác

Phần nầy, những người nêu cáo buộc căn cứ những câu “Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời. Tuổi đôi mươi nh́n đời thơ dại. Ngỡ cờ sao rực rỡ...” nên đề quyết rằng: Phải hai mươi tuổi mới làm những câu thơ hàm súc ấy trong dịp xẩy ra sự kiện 2/9/1945 - Năm 1945 NCT mới 6 tuổi (sinh 1939) - Vậy, Thơ ấy phải do Tác Giả (tên gọi là) Vô Danh. Quả thật, chúng tôi vô cùng năo nề khi viết đến những ḍng nầy bởi đang phải nói với những con người “quái đản”, đề cập những câu chuyện tầm phào, kiểu căi cọ lư sự những anh tổng lư bang bạnh đâu từ nông thôn miền Bắc đầu thế kỷ 20. Bởi, Thơ không hề là Bản Biên Niên sự kiện chính trị, quân sự, xă hội, ngay cả tiểu thuyết lịch sử cũng không hẳn là phải thế. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1902-1977) viết sách Vua Quang Trung đâu phải là người đă tham dự xung trận Hà Hồi (1789); Vũ Hoàng Chương mô tả giờ phút hiển linh Thượng Tọa Thích Quảng Đức hóa thân trong lửa không hề có mặt tại ngă tư Lê Văn Duyệt-Phan Đ́nh Phùng, Sài G̣n ngày 11/6/1963. Solzhenitsyn sinh 1918 viết August 1914 để gióng lên phần khởi đầu của cách mạng vô sản 1917. Cũng thế, bản thân cá nhân có đủ thẩm quyền (nếu muốn) để viết về Di Cư 1954 dẫu rằng năm ấy c̣n trong tuổi thiếu niên đang ở Đà Nẵng. Cáo buộc như thế để làm ǵ? Viết hai ba trang báo dựng nên những “cái gọi là luận chứng”: “Ở Hà Nội năm 1959 không thể có sinh hoạt (qua hồi tưởng của NCT). Mùa Hè ăn bánh tôm bên Hồ Tây. Cô bạn ngồi bên như nàng tiên vậy” để tố cáo (tố cáo cái ǵ?), mạ lư, vu khống, chụp mũ... Hoặc “cái gọi là phân tích”: “Ở đất Bắc, thời đó (trước 1954 -PNN) người thanh niên có học, gia đ́nh nề nếp, biết uống rượu, có bạn gái phải là tuổi trên dưới 20...” (Thế Huy, SGN #33; 10/01). Trời đất, như vậy phải tŕnh ra Bằng Lái Xe (nếu ở Mỹ), hoặc Chứng Chỉ Căn Cước (VN) trước khi viết thơ về rượu, về cô bạn gái sao? Chúng tôi có thể nêu danh tính hằng loạt bằng hữu (những người sinh khoảng trước, sau 40) đă hoặc không ăn bánh tôm, có hay không có bạn gái cùng đi chơi bờ hồ (trước 1954) ở Hà Nội... để thời gian sau họ có thể viết về kỷ niệm Hà Nội bất cứ ở đâu, ngay bây giờ năm 2008 ở Mỹ. Và cũng không cần nữa, ai cấm Dương Nghiễm Mậu viết “Quảng Trị, Đất Đợi Về (1972)” và Nguyễn Mạnh Trinh viết “Huế, nơi tôi chưa tới...” khi Phí Ích Nghiễm (DNMậu) đang ở Sàig̣n và NMTrinh biệt phái hành quân ở Pleiku. Và cô gái Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp vừa đủ 15 tuổi; hai cô Kiều của Nguyễn Du mới đến “tuần cập kê”... Chẳng lẽ những thiếu nữ lẫy lừng trong văn học, thi ca nầy “là con nhà bần cố (nông), loại vô lại (cộng sản)”? Mà dù là người trong chế độ cộng sản đi chăng nữa, Dư Thị Hoài vẫn c̣n khả năng/đầy đủ quyền tự do sáng tác để viết nên những câu thơ thăm thẳm cảm tính, ăm ắp thương yêu: Một lần như đêm nay. Sau phút giây êm đềm trên ghế đá. Anh không cài lại khuy ngực áo cho em... (Văn Nghệ, Hà Nội; Số tháng 7/1988) Không ai có thể truy kết: Dư Thị Hoài không là “con nhà nề nếp”.

 

3.4. Cáo buộc về thay đổi thể thơ

Trước (Thi Sĩ Vô Danh) làm thơ dài câu, có nhạc điệu, thi tính cao, khẩu khí hùng tráng. Không có ǵ quư hơn độc lập tự do. Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó. (1968); Sau nầy (“Vè Sĩ” NCT) chỉ có những câu ngắn như vè: Dầu đầu bạc. Dù đói rạc. Dù lực tàn. Vẫn bền gan.. (1988). (Thế Huy, SGN #33; 10/01). Chúng tôi có nhận xét từ kinh nghiệm 40 năm cầm bút, đọc sách: Thơ hay/Thơ dở không có nguyên tắc cố định nào để xét nghiệm; người làm thơ một đời chỉ để lại vài câu được đời sau nhớ đến. Anh cũng không thể buộc người khác đồng ư với cách anh b́nh giải về thơ của một người thứ ba cho dù anh đủ tư cách của người phê b́nh văn học lăo luyện, được xác chứng từ độc giả, thử thách bởi thời gian qua tác phẩm, quá tŕnh hoạt động trong lĩnh vực văn hóa. Anh càng không có một khả năng nào buộc người khác phải viết và diễn đạt THƠ (của người ta) theo “quan điểm chính trị” của anh?! Ở đâu phát sinh ra quyền “ngự sử văn nghệ” nơi thế kỷ 21 mà thực chất chỉ là loại “chữ nghĩa” mang ác tâm từ những tay viết ẩn danh gọi là “kẻ nghiên cứu ti tiểu” nầy. Nhưng, NCT cũng đă “làm vè” từ 1970: Vợ con có thể bỏ. Cha mẹ có thể từ. Cộng sản thời sinh tử.. Vậy đây là thơ hay vè? Tôi chúng xin trả lời ngay theo ư các anh: Thơ của Vô Danh/Vè của NCT. Xin mách thêm: Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền cũng làm rất nhiều vè khi đi tù vác nứa ở Yên Bái. Chúng tôi ngừng tṛ vui nơi đây để đề cập đến một màn hài hước cuối cùng...

 

3.5. Cáo buộc

Từ khi ra hải ngoại (1995) không c̣n (khả năng) làm thơ. Cáo buộc nầy được lập đi lập lại bởi nhiều người do căn cứ trên thực tế: NCT viết tập truyện Hỏa Ḷ (2006) thay v́ tiếp tục làm thơ - Vậy thơ Vô Đề hùng tráng trước kia chỉ là của Tác Giả (tên gọi) Vô Danh - Khẳng định nầy có tính chung quyết. Chúng tôi bổ tức thêm vào luận chứng nầy những cớ chứng: Sau những câu Thơ Lịch Sử: Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư. Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.. Danh Tướng Lư Thường Kiệt không làm một câu thơ nào nữa! Và nơi vùng Nam Cali nầy, chúng ta phải trả lời sao về trường hợp các thi sĩ (Thật Thi Sĩ) tên gọi Trần Dạ Từ, Trần Thị Thu Vân, Đỗ Quư Toàn, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Đ́nh Toàn... ba mươi ba năm sau 1975 không mấy khi (tiếp tục) làm thơ nơi đất Mỹ?! Và sau đỉnh cao Ta Về th́ Tô Thùy Yên hầu như cũng cho bút nghỉ nhiều hơn... Như vậy là thế nào? Và không những đối với Thơ, những bạn của chúng ta, Vũ Thành An, Từ Công Phụng... những ḍng nhạc trữ t́nh bất diệt của Miền Nam đă viết ǵ thêm về t́nh yêu sau mấy mươi năm ở Mỹ? Và trái lại, chỉ khi trên đất Mỹ vào buổi cuối đời, Mai Thảo, Vơ Phiến mới làm thơ... Vậy trước kia họ là ai? Chúng tôi không đủ cố gắng để kéo dài tham dự thêm màn khôi hài rất nhạt do những kẻ tiểu tâm, trí đoản dựng nên.

 

Bài 4

 

Chiến dịch được chuẩn bị từ 15 năm

 

Trước khi bài viết kết thúc, chúng tôi xin trưng một tài liệu liên quan đến vụ việc (NCT/Giả/Thật/Thi Sĩ/Vè Sĩ) và một đề nghị. Tài liệu ấy là: Chứng Thư của Chuyên Viên Khảo Nghiệm Thủ Bút Dorothy Brinkerhoff (Trung Tâm Giảo Nghiệm Quốc Gia) Văn Pḥng 4316 Boyar Ave, Long Beach, CA90807 gởi đến ông Joe Nguyễn (giáo sư, nhà báo Nguyễn Sỹ Hưng) 3024 East Anaheim, Long Beach, Ca 90804. Chứng Thư có kết luận: “Căn cứ vào những điểm tương đồng trọng yếu giữa tài liệu cần giảo nghiệm trong Văn Bản A và những mẫu ghi chép trong Văn Bản B, theo ư kiến của cá nhân tôi, người viết (cần được minh chứng) đă viết Văn Bản A và những ghi chép trong Văn Bản B có những điểm tương đồng thích ứng với nhau và chỉ do một người viết.” (Phụ Bản 2). Chứng Thư Giảo Nghiệm Thủ Bút do nhà báo, nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng yêu cầu trung tâm giảo nghiệm thực hiện từ tháng 11/1995 căn cứ trên hai văn bản: Bản A gồm Lá Thư viết bằng Pháp Ngữ trang đầu tập thơ đưa vào Ṭa Đại Sứ Anh ở Hà Nội ngày 16/7/1979, và photocopy bản viết tay bài thơ Đồng Lầy, Trang 21/Đánh số lại 34. Bản B là photocopy thư viết tay kư tên Chí Thiện gởi đồng bào hải ngoại 11/1995, tuần lễ thứ hai sau khi đến Mỹ của người có tên Nguyễn Chí Thiện. Nhà báo, nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng do tính thận trọng giảo nghiệm thủ bút của NCT để có xác tín lư lịch, căn cước của một cá nhân đă lập kỳ tích đáng nể phục: Tồn tại sau 27 năm tù cộng sản với một ư chí tuyên dương Con Người Tự Do. Nhà giáo Nguyễn Sỹ Hưng giữ kín giảo nghiệm nầy do ḷng kính trọng đối với Nguyễn Chí Thiện - Đầu tháng 10/2008, ông giao lại cho NCT nhân vụ Báo SGN yêu cầu giảo nghiệm mẫu chữ viết của Thi sĩ/Vè sĩ/NCT Thật/Giả.

Và tiếp đề nghị như đă một lần đề nghị đối với vụ việc giảo nghiệm h́nh ảnh. Nếu như Chứng Thư Giảo Nghiệm Chữ Viết nêu trên chưa đủ yếu tố khả tín để thuyết phục vấn nạn: “Ai viết tập thơ Vô Đề? Vô Danh ông là ai?” th́ những người không đồng ư về quyền sở hữu (tập thơ) của NCT xin hăy tập trung tất cả tài liệu có được (về NCT/giả/Vô Danh/thật) gởi đến những cơ quan như Trung Tâm Văn Bút Quốc Gia Pháp, Ḥa Lan, Mỹ... để những nơi nầy thu hồi những giải thưởng, bằng khen đă phát cho NCT về văn phẩm đă bị chiếm đoạt từ một tác giả Vô Danh. Cũng cần phải nêu rơ những yếu tố lư lịch, quá tŕnh sáng tác, sản phẩm thành văn của tác giả Vô Danh nầy để các cơ quan hữu trách kia có chứng cớ hành sử với “Nguyễn Chí Thiện giả mạo”. Chúng tôi tŕnh bày với ư hướng truy cầu Sự Thật mà Báo Sài G̣n Nhỏ đă nêu ra khi đặt vấn đề từ ngày 4 tháng 9, 2008 nơi trang nhất số báo 14. Tôi tin Chủ Nhiệm Hoàng Dược Thảo lúc khởi đầu vụ việc có ư hướng tốt lành nầy.

 

Hậu Từ

 

Đến phần cuối của bài viết, tất cả sự việc trên đă hóa ra những điều vô ích! Bởi chúng tôi dần t́m ra/thấy được/biết rơ con người thủ vai tṛ đạo diễn, diễn viên, khán giả của vỡ hài kịch “t́nh báo/văn học gọi là Nguyễn Chí Thiện” mà từ phần đầu bài viết bản thân, Phan Nhật Nam đă nói lên lời nghi ngại. Nhân vật “sợi chỉ hồng xuyên suốt - chữ của cộng sản trả lại cho người cộng sản” kia là Việt Thường Trần Hồng Văn, đầu mối của Triệu Lan, Trần Thành, Nam Nhân, Thế Huy, Trọng Tín v.v... Với Trần Hồng Văn, Nguyễn Chí Thiện chỉ là một “Cái Cớ/Cái Cớ xứng đáng nhất”. Và SàiG̣nNhỏ là một phương tiện/Phương tiện hữu hiệu nhất do 16 trung tâm phát hành toàn nước Mỹ, ba hệ thống xuất bản, nhật báo, tuần báo, và nguyệt san với những cây bút chủ lực, chuyên nghiệp (gồm số đông thân hữu, huynh đệ của người viết, PNN) - Chủ nhiệm Hoàng Dược Thảo đến đây hẳn hiểu tại sao tôi giữ im lặng đến bài viết nầy. Cũng bởi, tôi luôn nhớ và hằng nói: Tôi là biên tập viên của SàiG̣nNhỏ, “Anh hai Hoàng Hải Thủy”, bác Hinh, Thảo Trường đă là những người qua sống/chết với chính bản thân. Tôi biết: Đă (hoặc sẽ) ăn cây nào phải rào cây ấy. Nhưng chúng ta buộc phải nói rơ về Trần Hồng Văn.

Trước khi định h́nh con người nầy, chúng ta cần xem thử anh ta (và những đứa con tư sinh Trần Thành, Triệu Lan...) đă làm những ǵ.

4.1. Lắng nghe từng âm nói của NCT để t́m ra nét “giả tạo” của lư lịch. V́ NCT khai sinh quán Hà Nội, nhưng lại phát âm “đó... ạ” của cư dân Hải Pḥng! Nên từ nước Anh, Trần Hồng Văn/Việt Thường trong gần 15 năm (1993-2008) TÔI “đă cho người” về Hải Pḥng và Hà Nội “điều tra” để biết thêm về nhân vật “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện! (TL- SGN; #21, 9/13) Nguyễn Chí thiện chạy đâu cho thoát, Thi sĩ “Vô Danh” đă “được chuẩn bị” từ 1993 - NCT đến Mỹ 11/1995.

4.2. Không chỉ lắng tai nghe NCT nói không thôi, trong suốt 15 năm kia “Triệu Lan tôi” đă thâu thập hơn 100 cuộc phỏng vấn, hội thảo, nói chuyện, từ khi NCT đến Mỹ đă bỏ rất nhiều thời gian đánh máy ra dạng chữ viết để chuẩn bị đưa ra tŕnh bày cùng độc giả khắp nơi... (TL-SGN #972; 10/3). Chuẩn bị một trận đánh đến cả 15 năm hỏi thử “địch thủ” nào lại không ngă gục?!

4.3. Không những chỉ chuẩn bị kỹ (Đúng chiến thuật Trung Cộng, Lâm Bưu “Tứ Khoái Nhất Mạn”- Bốn Nhanh Một Chậm - Chuẩn Bị Chậm) mà Văn và những đứa con của y c̣n t́m cách giải mă “decode” thơ của ông Vô Danh. Trong bài “Tôi Muốn Sống Với”, những tên Athos, D'Artagnan, Porthos, Aramis!, Jesus Christ, Jack London... viết đúng với ngôn ngữ gốc, duy chỉ có từ “AiVanHô” và “ALaĐanh” được viết theo ngôn ngữ Việt Nam (nt) Tại sao Vô Danh viết như vậy? Lẽ tất nhiên NCT không trả lời được. THVn/VThg tiếp dạy dỗ: Trước 1954 ở Hà Nội chưa có sách Ả Rập, sách nầy, “Ivanhoe” bản tiếng Anh chưa dịch sang tiếng Việt th́ làm sao NCT được biết “IvanHô” là ǵ?! Sở dĩ “Thi sĩ Vô Danh” viết như vậy v́ đó là... “code” của người Irap truyền cho nhau về nước đánh đổ Saddam Hussein!! (nt). Quả thật ông thi sĩ Vô Danh nầy có cái nh́n quán thế. Từ Việt Nam, năm 1960 ông đă thấy ra chiến tranh Iraq với Mỹ trong thế kỷ 21 (Sic), và phải đến 1965 Mỹ mới đổ bộ lên Đà Nẵng. Nhưng có điều THVn/VThg không biết: Thi Sĩ Vô Danh tuy không đọc Ivanhoe của Walter Scott, nhưng NCT hẳn đă đi xem phim Ivanhoe do Robert Taylor và Elizabeth Taylor thủ diễn trước 1954 ở Hà Nội nên về kể lại cho thi sĩ Vô Danh kia để sau nầy (hơn 20 năm) viết Hoa Địa Ngục. Hai người từ lâu vốn là Một.

4.4. Xuyên suốt lịch sử Đông-Tây, từ quá khứ của thập niên 60, Trần Hồng Văn hay Việt Thường hay Triệu Lan v.v... nay đến Long Beach, Ca. “để có Bằng Chứng (Viết hoa trong bài-PNN) rơ ràng, hơn nữa chưa ai thấy con gái của Nguyễn Tấn Dũng mua sắt thép ở Mỹ chở về Việt Nam bao giờ v́ những tàu sắt thép nầy đă đi từ cảng Long Beach tới Thượng Hải. Triệu Lan “tôi” c̣n có bằng chứng. Và, Triệu Lan “tôi” c̣n bằng chứng để chứng minh Nguyễn Chí Thiện và nhóm t́nh báo đặt trách về văn hóa của Hà Nội đă thật sự làm việc cho Bắc Kinh trong nhiều năm qua. (Vâng, Triệu Lan “tôi” chứ không ai khác luôn có bằng chứng như những bằng chứng về Thi sĩ Vô Danh/Vè sĩ NCT&Pnn)(TL- SGN)#526 Ấn Bản Houston, TX; 9/27.

4.5. Và cuối cùng, “bằng chứng” mới nhất “Triệu Lan tôi” bày ra để đẩy SGN sụp hầm: “Trong số ra ngày Thứ Năm 2 tháng 10, tôi (chủ nhiệm HDT/ĐN) có nhờ anh Nam hỏi ông Nguyễn Công Giân, anh ông Nguyễn Chí Thiện: Là một sĩ quan QLVNCH v́ lư do ǵ ông Giân lại được ra Bắc thăm gia đ́nh hai lần trước năm 1975 (!)...Hôm nay tôi lập lại câu hỏi nầy và cho biết thêm chi tiết (chỉ có thể từ với VThg/TLn/TTh mà thôi): Lần đầu năm 1958, lần thứ hai, 1972. (ĐN-SGN#7; 10/5).

Thắc mắc trên không cần hỏi ông NCGiân, tôi có thể trả lời chính xác, ngay lập tức: Người sĩ quan QLVNCH đến đất Bắc đầu tiên là Đại úy Biệt Kích Nguyễn Hữu Luyện (22/6/1966); người thứ hai và thứ ba là Thiếu Tá Phạm Huấn, Trung Úy Dương Phục, ngày 26/2/1973; và người thứ tư chính là... tôi, ngày 4/3/1973. Có thể kiểm chứng với ông niên trưởng: Nhà văn Thảo Trường, trung tá t́nh báo Trần Duy Hinh. Ba người ra Bắc (trong đó có bản thân) luôn có sĩ quan Phủ Đặc Ủy Trung Ương T́nh Báo đi kèm. Ông Nguyễn Công Giân thuộc ngành Quân Báo (Pḥng II/BTTM) không hề có nhiệm vụ (được phái đi Hà Nội) bất cứ ở thời điểm nào. Năm 1958 ấy, Trung Úy Nguyễn Công Giân làm sĩ quan liên lạc ở Washington DC, và cố vấn Ngô Đ́nh Nhu/Bác Sĩ Trần Kim Tuyến chưa thành lập văn pḥng đặc biệt để đưa người ra Bắc. Kế hoạch 43A (thả biệt kích VNCH ra Bắc) của McNamarra cũng chưa thành h́nh do Tổng Thống Kennedy chưa lên chức. Năm ấy Trần Hồng Văn chạy hiệu cho báo Nhân Dân ở Hà Nội, nhưng trước tháng 2/1979 bị tống vào tù do tội danh “nằm vùng cho Cục T́nh Báo Hoa Nam của Trung Cộng” - Tội của THVn thật hư thế nào chúng tôi không rơ. Chỉ biết, tại Trại Z30D, Văn áp dụng “bần tiện kế” để tránh đ̣n thù của công an trại (Mức độ bần tiện như thế nào, chúng tôi toàn trại chứng kiến, tôi không thể kể ra đây v́ quá bẩn thỉu hèn hạ; đàn ông, người lính Miền Nam chúng tôi nghĩ tới cũng thấy xấu hổ lây dẫu anh ta là người Hoa ở miền Bắc). Từ kế sách hèn hạ kia cộng thêm kỹ thuật tố cộng rất có bài bản, Văn gây ḷng tin với những anh em tù người Nam. Cuộc nổi dậy Tết 1981/1982 ở trại Z30D bị đánh vỡ v́ có nội gián. Toán tù Nam Hà (từ ngoài Bắc về đầu năm 1981 và 1982) c̣n giữ nguyên hùng khi bất khuất tính chuyện khởi động tiếp. Dự mưu bị đánh vỡ từ trong trứng nước (Chủ nhiệm Sàig̣nNhỏ có thể kiểm chứng sự việc nầy về Trần Hồng Văn, chúng tôi đưa người tới ṭa soạn, cũng là nơi quen biết lâu dài với SGN).

Để kết thúc bài viết, chúng tôi, Phan Nhật Nam kết luận về nhân vật Việt Thường, Trần Hồng Văn với những tay em (hoặc chính là bản thân thay danh tính): Trần Hồng Văn muốn lên ngôi “thủ lĩnh chống Cộng” tại hải ngoại nhưng kẹt những tên tuổi như Lư Tống, Nguyễn Chí Thiện... Chiến dịch được chuẩn bị từ 15 năm (như y ta đă viết nên), nhưng cụ thể chí ít cũng phải hai năm (thời gian NCT ở Pháp và y ta từ Anh qua hỏi về “Thi Sĩ Vô Danh” với Nguyễn Chí Thiện chứ không ai khác), Thế Huy cũng xuất hiện trong thời gian nầy với “Vè sĩ”.. Nay chiến dịch tiến hành với thành quả giai đoạn đầu rất đáng khích lệ: SUỐT THÁNG 9 NHỮNG DIỄN ĐÀN TRÊN HỆ THỐNG NET HẦU NHƯ KHÔNG MỘT CHỮ NÓI VỀ HOÀNG SA/TRƯỜNG SA!!

Trần Hồng Văn/Việt Thường có chống (Việt) cộng không? Có. Trần Hồng Văn/Việt Thường chưởi (Việt) cộng đúng không? Đúng. Nhưng Trần Hồng Văn chống/chưởi Việt Cộng v́ quyền lợi Trung Cộng với NHIỆM VỤ của một cán bộ CÁN BỘ HOA CỘNG chính gốc. Nay quyền lợi của Trung Cộng/Việt Cộng là MỘT, Trần Hồng Văn/Việt Thường giương cao khẩu hiệu: Chúng ta hăy nói về Nguyễn Chí Thiện! Hăy viết về Nguyễn Chí Thiện! Hăy loại bỏ Hoàng-Trường Sa ra khỏi trí nhớ!! Khu Thái Hà c̣n trên lănh thổ Việt Nam, Công Giáo có thể (rất có thể) lấy lại... Hoàng Sa, Trường Sa biết đến bao giờ? Hở biết đến bao giờ? Việt Thường, Triệu Lan, Trần Thành, Nam Nhân... là người, địa danh của miền Nam sông Dương Tử. Triệu Lan cùng họ Triệu Đà, vua nước Nam Việt bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây; Việt Thường Thị, tên của Chu Thành Vương gọi những bộ tộc phương Nam - Không hề là của Việt Nam. Càng không là Việt Nam Cộng Ḥa.

Tháng 10/2008

26 tháng 10, Quốc Khánh Đệ Nhất Cộng Ḥa.

Phan Nhật Nam