Khảo cứu:

VIẾT TIẾNG VIỆT


Xin phép bạn Phạm Văn Bân thuộc khoá 7 Chính Trị Kinh Doanh thuộc trường Đại học Đalạt

 cho post bài viết của bạn đă đóng góp 5 năm trước trong "THỤ NHÂN" để có thêm phương tiện dạy con cháu viết tiếng Việt.


“Vát Than Nặng Thở Thang”


Khi đọc tựa của bài này, nếu bạn không thấy viết sai chánh tả th́ xin bạn...duyệt xét lại khả năng viết tiếng Việt của bạn. Tôi xin đưa thêm vài thí dụ để bạn tự phán xét :
“Té chưới vô bượi chúi”"Paulus Húnh Tịnh Của”, "Nguiễn Khuiến”. Có ǵ sai hoặc...kỳ kỳ không?

Các thí dụ trên rất phổ biến khi dạy về chánh tả tiếng Việt. Viết
“c” hay “t”, “g” hay không “g”, dấu “hỏi” hay “ngă”, vần “úi” và “ưới”, ụi” và ượi”, “i” “y”, v.v...là một vài vấn đề mà chúng ta nên chú ư khi viết tiếng Việt.


Có phải v́ là tiếng mẹ đẻ nên chúng ta chủ quan, không lưu ư viết cho đúng chánh tả? Hay v́...lười? Hay v́ phát âm sai cho nên viết sai? Hay v́ vấn đề chánh tả không quan trọng ǵ hết, miễn sao người khác hiểu chữ và ư mà bạn muốn thông đạt là được rồi? Để trả lời cho những câu hỏi này, xin hỏi bạn rằng nếu trong trường hợp nào đó, bạn viết tiếng Anh, bạn có viết như sau không: He do thiz becose himseo love I so much. Hỏi tức trả lời.


Không viết th́ thôi, c̣n nếu đă viết th́ cố gắng viết cho đúng chánh tả càng nhiều càng tốt. Điều may mắn cho chúng ta là tiếng nói và chữ viết Việt Nam không đến nỗi rắc rối quá như các thứ tiếng khác. Tuy vậy, bạn, người Việt Nam, vẫn phải bỏ th́ giờ và công sức học hỏi nếu bạn muốn nói, viết và sử dụng tiếng Việt tương đối đúng nghĩa và thông thạo. Tôi dùng chữ “tương đối” bởi v́ trên nguyên tắc, tất cả chúng ta đều phát âm sai, viết sai và trong chừng mực nào đó, không hiểu được tường tận ư nghĩa của tiếng mà chúng ta sử dụng!


Để hiểu tiếng Việt đến mức
“thấu t́nh đạt lư”, bạn không có cách nào khác là phải am tường cái gốc 70% tiếng Hán của nó! Nếu không học tiếng Hán th́ phải có tự điển tiếng Việt để tra chánh tả và nghĩa chữ. C̣n nếu sử dụng máy điện toán cá nhân th́ nên mua software VNI Tân Việt 2000, trong đó bộ “Việt Nam Tự Điển” của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ đă được bỏ vào, cùng với bộ phận sửa lỗi chánh tả “Thầy C̣ 2001”.


Tiếng Việt rất phong phú về âm, vận và thanh. V́ vậy, khi mượn bộ chữ Latin để kư âm tiếng Việt, các nhà truyền giáo đă phải sáng tạo nhiều kư hiệu CHỮ để phản ánh cho đúng giọng nói, cũng như để phân biệt các âm gần giống nhau. Công tŕnh này là một tài sản quư báu vô vàn cho dân tộc Việt Nam mà chúng ta đang thừa kế, mặc dù chưa được hoàn chỉnh ở một vài chi tiết. Hệ thống chữ viết này xây dựng trên một nguyên tắc then chốt : nói sao, viết vậy. Hầu hết các tranh căi về chánh tả tiếng Việt đều xuất phát từ nguyên tắc này.


Căn cứ vào đâu mà nhận xét đúng hay sai chánh tả? Một khi bạn cho rằng viết “
vát” là sai, phải viết “vác”, “than” phải viết không có “g”, “thở thang” phải viết “thở than”, “Húnh” phải viết “Huỳnh”, v.v... tức là bạn đă chấp nhận một nguyên tắc phổ cập trong ngôn ngữ: quy ước chung được đa số mọi người chấp nhận. Cái ǵ không phù hợp với quy ước chung là sai - mặc dù quy ước chung đôi khi không hợp lư! Cho đến khi nào chúng ta có một hàn lâm viện thống nhất các vấn đề c̣n đang tranh căi th́ mới chấm dứt được. Trong khi chờ đợi th́ vẫn cứ...”mổ ḅ”.


Tiếng Việt Nam thống nhất cho nên việc kư âm (kư hiệu âm thanh-phonetic symbols) để sáng tạo một hệ thống chữ viết chung cho cả nước sử dụng là điều có thể làm được. Trái lại, tiếng Trung quốc phát âm hoàn toàn khác nhau từ tỉnh này đến tỉnh kia, v́ vậy, hầu chắc không thể thống nhất theo kiểu chữ Latin được mà măi cho đến nay, chỉ có thể thống nhất theo hệ thống chữ tượng h́nh, biểu ư: viết cùng một loại chữ nhưng đọc khác nhau.


V́ hai kiểu chữ khác nhau, vấn đề phiên âm nảy ra. Khi viết về tên địa phương hoặc nhân vật Tây phương, người Trung quốc không có cách nào khác hơn là phải phiên âm. Nếu đang viết một loạt chữ Hán mà chen vào kiểu chữ Latin th́ quả là điều hết sức phiền toái cho người viết cũng như người đọc, bởi cái cốt lơi của chữ Hán là biểu ư, không ráp vần lại mà đọc được, phải học thuộc ḷng cách phát âm của từng chữ một và phát âm theo giọng Bắc kinh hay địa phương là tùy theo người học. Người Trung quốc bắt buộc phải phiên âm ṭan bộ tên ngoại quốc để thông đạt trong tiếng Hán.


Câu hỏi đặt ra là người Việt Nam có nên bắt chước phiên âm không? Theo thiển ư của tôi, chúng ta không nên phiên âm bởi lẽ rất đơn giản là chúng ta sử dụng hệ thống chữ Latin để ghi lại giọng đọc. Chúng ta có thể viết lại đúng nguyên văn tên gốc của địa phương hay nhân vật và mọi người Việt Nam đều có thể đọc được - đọc trúng giọng hay không là chuyện khác, nhưng ít nhất là đọc được.


Nên viết
New York, Washington, Portugal, Spain, tránh viết Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha (có khi lại phiên âm là Y Pha Nho), v.v... bởi v́ cuối cùng, cái gốc của việc phiên âm này chỉ xuất phát từ khổ nạn của bản thân chữ Hán mà thôi. Chữ viết Việt Nam theo mẫu tự Latin không dính dáng đến khổ nạn này. Khi phân tích về âm “gi” và “d”, trong bài “Chánh tả với tự nguyên”, viết ngày 29/05/1953, GS Lê Ngọc Trụ viết:


Chúng ta hay lầm lẫn hai âm “gi” và “d”; nếu không xét nguồn gốc th́ khó phân biệt. Như tiếng “Gia Tô”: đúng theo nguồản gốc của nó phải viết “D”: Da Tô. Tiếng Da Tô là tên “Jésus” dịch âm. Có lẽ các cố đạo khi xưa đă tùy cách phát âm mỗi xứ mà âm tên của Chúa Jésus. Ở Việt Nam th́ âm Giê Su, phát âm gần giống với tên Jésus; âm “Gi” ghi đúng âm “J”. Ở Trung Hoa th́ ghi âm: Dè Xố Kí Lị Xứ Túc (Jésus Christ). Tiếng Trung Hoa không có âm “J”, phải mượn âm “D” thế. Phát âm theo giọng Hán Việt th́ là “Da Tô Cơ Lợi Tư Đốc”. Sau ta mượn dùng, gọi tắt là đạo “Da Tô” hoặc đạo “Cơ Đốc”. (Cơ Lợi Tư Đốc thâu bớt).”


Muốn viết đúng chánh tả Việt Nam th́ phải phát âm cho đúng. Cái khổ là không người Việt Nam nào phát âm đúng cả! Người miền Bắc nói sai các âm “
Ch Tr “, “X S”, “Gi, D Z” nhưng giọng “hỏi, ngă” và các âm cuối chữ như “c/t”, “ai/ay”, “ao/au”, “ăng/ăn”, “ác/át”, v.v...lại nói đúng. Nếu áp dụng nguyên tắc “nói sao, viết vậy”, người miền Bắc sẽ viết:


Chuyện cḥ ḷng ẓng cũng như đọc chuyện: có ź xung xướng đâu?

(Chuyện tṛ ḷng ṿng cũng như đọc truyện: có ǵ sung sướng đâu? )


Chữ “
chuyện” là tiếng Việt thuần túy, c̣n gọi là tiếng nôm, nghĩa là việc hoặc sự ǵ đó được bàn bạc với nhau: chuyện tṛ, chuyện văn, nói chuyện.
C̣n “
truyện” là tiếng Hán Việt, nghĩa là sách chép sự việc truyền lại đời sau: truyện cổ tích, truyện kư, liệt truyện.


Xung xướng có lẽ để nghe cho dịu đi, xin bạn thử nói: “Sờ soạng sung sướng” và lắng nghe giọng đọc của bạn th́ sẽ thấy hơi khó phát âm và khó nghe. Người miền Trung lại phát âm rất khác nhau. Người Nghệ Tĩnh nói rất đúng các âm khởi đầu, nhưng lại không nói rơ dấu hỏi, ngă hoặc ngă, nặng. Đi dần vào Huế, Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định th́ giọng nói khá nặng. Nếu áp dụng nguyên tắc “nói sao, viết vậy”, người Quảng Ngăi sẽ viết:

 
-Eng th́ eng, không eng tét đèn đi ngủ. (Ăn th́ ăn, không ăn tắt đèn đi ngủ).


Đi về phía Nam nữa, như Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết th́ tiếng nói lại pha trộn âm hưởng của dân Chiêm Thành, giọng nói nhẹ hơn. Tiến đến miền Nam th́ giọng đọc khác hẳn miền Bắc. Trong cuốn “Chánh tả Việt Ngữ”, trang 22-23, giáo sư Lê Ngọc Trụ viết:


“Có lẽ nhờ khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long và đất đai ph́ nhiêu dễ sanh sống mà người miền Nam ít hay chịu khó. Cứ nói những vận “dễ”, thêm tật “ít chịu khó” (principe du moindre effort) - tật mà ông Phan Văn Hùm gọi là sự “lười tự nhiên” - đă đổi luôn mấy vận “khó” cho trở thành vận “dễ”, lâu đời thành quen, không sửa chữa được và không biết sai mà sửa chưă.”


Cùng với tật “
ít chịu khó” ấy, người Nam phát âm “v” ra “b”, “gi” ra “d”, “hoa” ra “qua”.

Tóm lại, trong Nam phát âm sai nhiều bởi tại không cố gắng nói đúng những giọng “khó”, và v́ vậy, nên thường viết sai. Các vận khó đối với người miền Nam là:


ay đọc thành ai,
iêm, iêp, iêu đọc mất chữ ê thành im, ip, iu;
au đọc thành ao;
ượi, ươi, ươu đọc mất chữ ô, ơ thành ứi, ưi, ưu;
âm, âp đọc thành ăm, ăp;
ong, oc, ươm, ươp, ơm, ơp
đọc thành ông, ôc, uôïm, uôp, ôm, ôp.

Ngoài ra, người miền Nam không phân biệt dấu hỏi, ngă: tất cả đều đọc theo dấu hỏi. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, gốc tích của người Việt Nam phát xuất từ đồng bằng sông Hồng và sau đó tiến dần vào miền Nam nên giọng Bắc chính là giọng nguyên thủy Việt Nam và người ta đă mặc nhiên chọn giọng miền Bắc làm tiêu chuẩn. Một hiện tượng dễ nhận thấy là trừ khi hát Cải lương, tất cả mọi người không phân biệt miền, vùng đều sửa giọng để hát theo giọng Bắc hết.


Phát âm đúng th́ viết đúng chánh tả. Nhưng có lẽ chúng ta nên làm ngược lại: viết cho đúng chánh tả rồi học cách phát âm từ cách viết! Hầu hết các trường hợp sai chánh tả dẫn đến sai ư nghĩa của chữ, đặc biệt là sự lẫn lộn giữa tiếng Việt thuần túy (Nôm) với tiếng Hán Việt, trong đó khổ nạn phát âm sai v́ các âm đầu và âm cuối gần giống nhau, hoặc v́ dấu hỏi, ngă, hoặc v́ tiếng đồng âm quá sức nhiều làm ư nghĩa của đa số tiếng bị lầm lẫn! Dưới đây là vài thí dụ viết đúng chánh tả :

1- D, GI và V:
Da: da cóc, da dẻ, da nhăn, con ma da...
Gia: thêm vào: gia roi, gia ân, gia công, gia giảm, gia hại, gia băo, gia biến, gia cảnh, gia giáo, gia huấn, gia phả, sui gia...
Va: va chạm, vi va vi *t...
Già: già cả, già khằn, rừng già, Già Lam, du già (Yoga), ngồi kiết già...
Và: anh và em, và cơm, cái tù và, chà và...
Dát: dát vàng, dát sắc, dát gan, văn dốt vũ dát...
Giác: giác hơi, cá giác...
Giát: nói giớt giát...
Vác: khiêng vác, xốc vác, vác súng, một vác lưới...
Vát: thuyền chạy vát, ván cắt vát...
Dan: dan díu, nói chuyện dan ca, dan nắng...
Dang: dang cánh chim, đứng dang ra...
Gian: gian dối, ăn gian, kẻ gian, gian ác, gian hiểm, gian dâm, gian nhà, không gian, trần gian, gian khổ, gian nguy, gian truân...
Giang: có giang xe, giang sức, giang tay, lạt giang, giỏi giang, giang sơn, giang khẩu, Tiền giang....
Van: van lơn, kêu van, xin van...
Vang: vang dội, vang lừng, tiếng vang, vẻ vang, rượu vang, vênh vang...

2/ S và X:
Sa: sa chân, sa sút, chim sa, sa mỡ, cây sa kê, Sa Đéc, sa môn, hàng sa (lụa mỏng), sa đọa, sa mạc, sa sả, sa thạch, sa trường.
Xa: xa quê hương, xa lộ, xa hoa, xa cách, xa giá, xa lạ, xa lánh, xa rời, xa tắp, xa vời vợi, xa xa, xa xăm, xa xỉ phẩm, xa xưa...
: bay sà xuống, sà vào...
Xà: xà nhà, xà niểng, khẩu Phật tâm xà (rắn), xà beng, xà ích...
Sả : sả tử (khờ khạo), sươảng sả...
Xả: xả hơi, lăn xả, nhảy xả, xán xả, xả đồ giặt, mưa xối xả, xong xả, xả kỹ (bố thí), xả mạng, hỉ xả, xả đoản thủ trường...
: xă luận, xă thuyết, xă giao, xă tắc, xă trưởng, thôn xă, hợp tác xă...
Sách: đọc sách, sách nhiễu, sách lược...
Xách: xách giỏ, đầy một xách, ăn nói xách mé...

3/ CH và TR:
Cha: tiếng kêu khi bị đau (cha ơi!), người cha...
Tra: (tiếng Nôm): lắp vào (tra cán dao), tên một loài cá....
Tra: (gốc tiếng Hán): khảo xét (tra cứu, tra khảo, tra vấn), chặt, chém, nắm lấy, v.v...
Chát: rượu chát, tiếng kêu chát chúa...
Trát: (tiếng Nôm): phết vào (trát bùn, trát vách)
Trát: (gốc tiếng Hán): tờ công văn (trát ṭa)


4/ HOA, OA, QUA:
Hoa: bông hoa, hoa mắt, có hoa tay, tóc hoa râm, quỳnh hoa...
Oa: khóc oa oa, con gái đẹp; tục gọi trẻ con là oa oa...
Qua: (tiếng Nôm): tiếng xưng hô với nhau, qua cầu, qua bữa, qua quưt, tai qua nạn khỏị...
Qua: (gốc tiếng Hán): phiên âm Qua Bích (Gobi), dưa qua, can qua...
Ḥa: (tiếng Nôm): ḥa vốn, xử ḥa, ḥa thuôăc...
Ḥa: (gốc tiếng Hán): lúa: ḥa cốc, ḥa b́nh, ḥa lạc, điều ḥa các vị thuốăc cho vưà...
̉a: khóc ̣a..

5/ I và Y:
Ỉ: i ỉ, bụng âm ỉ, trời âm ỉ, năn nỉ ỉ ôi...
Ĩ: ầm ĩ, ̣n ĩ
Ỷ: (tiếng Nôm): ỷ giàu, ỷ thế, mặt lợn ỷ...
: (gốc tiếng Hán): dựa vào: ỷ lại, ỷ quyền, kéo lại đằng sau (thế ỷ giốc), tấm b́nh phong, đoản ỷ, ỷ diệm, ỷ mị...
Ích: hữu ích, công ích, cây thươăc ích mẫu...
Ít: ít ỏi, chút ít...
Im: im bặt, lặng im...
Yêm: (gốc tiếng Hán): trùm cả (yêm hữu), ngâm lâu trong nước sâu (yêm bác), yêu thương (yêm ái), che dấu (yêm ẩn), ngâm ướp (yêm ngư), thiến thành hoạn quan (yêm nhân).
Ỉm: im ỉm Yểm: (gốc tiếng Hán): d́m ém đi (yểm binh), lấp đất, ếm (yểm bùa).
***
Viết
i hay “y” đă được bàn luận rất lâu, nổi bật là nhà văn Nguyễn Ngu Í. Tuy không hẳn đồng ư với các đề nghị nêu ra trong bài “Vẫn chuyện i ngắn y dài” của giáo sư Nguyễn Đ́nh Ḥa nhưng tôi xin trích dẫn một đoạn nguyên văn như sau:


“Thiên hạ quen viết lư trưởng, lư tưởng, lư trí, kỳ dị, nước Mỹ, mỹ vị, mỹ thuật, v.v... mất rồi. Thậm chí, có nhà văn c̣n dùng lối viết quá táo bạo: thi sỹ, họa sỹ, v.v... Lư do là người ta đă lẫn lộn con chữ "i”, dùng để ghi nguyên âm, /i/ —là âm hạt nhân hay âm chính của một âm tiết trong tiếng Việt với con chữ "y” dùng để ghi bán nguyên âm, /y/ là âm lướt xuất hiện ở đầu hoặc cuối một âm tiết và được ngành ngữ âm học ghi bằng kư hiệu [ i ]. Có điều lạ là không ai viết kỳ dỵ, lư trư cả! Thực tế, nay chúng ta băo nhau theo cách phân biệt nói trên mà viết cho đúng: ông lí trưởng, lí tưởng, lí trí, ḱ dị, nước Mĩ, mĩ vị, mĩ thuật, v.v... th́ có người sẽ thấy lạ hoắc, không quen, nên không chấp nhận.”


Ông đề nghị 3 biện pháp sau đây:


(A) Khi một âm tiết có nguyên âm /
i/ đứng ở cuối, th́ ta dần dần cố nhớ ghi nhất loạt bằng con chữ i: ăn ḿ Hải kí gần hơn Tùng kí, ông lí trưởng Mĩ cảnh, tiếng nói Hoa ḱ, thế kỉ 21,..


(B) Một biệt lệ là vần “
uy” như trong “duy, huy, khuy, nguy, quy, tuy, thúy, v.v... th́ vẫn viết như cũ, NHƯNG phải đánh dấu thanh điệu vào nguyên âm chính: “huư, luỷ, quư, tuư, tuỳ, tuỹ, thuư, thuỹ, nhuy., nguy., v.v...

Để phân biệt với “
húi, lủi, cúi, túi, đùi, tủi, thui, thúi, khui, v.v...” Ta cần chấp nhận biệt lệ này v́ c̣n có những vần phức tạp hơn như “uyên, uyêt” trong “duyên, huyên náo, khuyên, lưu luyến, quyên, tuyên truyền, thuyền, nhuyễn, nguyên, Nguyễn, xuyễn, duyệt, tuyết, khuyết, nguyệt, quyết, v.v...

(C) Nếu âm chính là nguyên âm /
i/ đứng một ḿnh hoặc đứng đầu âm tiết, th́ vẫn viết theo thói quen cũ : ỉ eo, ầm ĩ, im, in, y học, y khoa, ư kiến, ư nghĩa, Nguyễn Ngu Ư, v.v...

Ngoài các vấn đề trên, chúng ta nên lưu ư đến dấu hỏi và ngă. Giáo sư Lê Ngọc Trụ đă đề nghị phương pháp “Tầm nguyên”: t́m về cái gốc chữ mà giải quyết các vấn đề trong tự ngữ Việt Nam. Có thể nói đây là vị giáo sư đă suốt đời trút hết tâm huyết để xây dựng tiếng Việt và đă đưa ra nhiều đề nghị hợp lư, đúng đắn, trong đó có luật hỏi, ngă. Trong phạm vi dấu hỏi ngă, tầm nguyên có nghĩa là xác định chữ đó là tiếng Việt thuần túy (Nôm) hay tiếng Hán Việt, rồi từ đó mà kết luận về chữ được khảo cứu nên viết dấu hỏi hay ngă.

 

Phương pháp “Tầm nguyên” của giáo sư Lê Ngọc Trụ rất có lư, hoàn chỉnh nhưng đi thật sâu vào chi tiết như vậy có thể là điều không thực tế đối với thế hệ hiện nay và về sau bởi v́ rất ít người Việt Nam học tiếng Hán vào thời buổi Internet này! Thêm vào đó là có khá nhiều bất đồng giữa các tự vị, nhiều ngoại lệ về dấu hỏi, ngă quá, gây trở ngại cho việc dạy và học tiếng Việt.
Suy nghĩ về cái thực tế này, tôi mạnh dạn đề nghị áp dụng luật “
Bổng, Trầm” một cách tuyệt đối để thống nhất cách viết dấu hỏi, ngă. Cứ căn cứ vào thanh âm mà quyết định:


-thanh bổng như ngang, sắc và hỏi th́ đánh
dấu hỏi
-thanh trầm như huyền, nặng, ngă th́ đánh
dấu ngă.

Thí dụ:

Thanh ngang: thong thả, vui vẻ, lẻ loi, nghỉ ngơi.
Thanh sắc: kém cỏi, hối hả, ngả ngớn, dở dói.
Thanh hỏi: lỏng lẻo, thỉnh thoảng, thỏ thẻ, lửng thửng.
Thanh huyền: rầu rĩ, mưa tầm tă, sẵn sàng, kỹ càng.
Thanh nặng: cặn kẽ, vội vă, căi cọ, dữ dội.
Thanh ngă: lỗ lă, lă chă, măi măi, đi lẫm đẫm.

Kết luận:
Cấu trúc tiếng Việt là một tổng hợp của nhiều tiếng nói của khá nhiều giống dân. Do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên việc xây dựng và thống nhất tự ngữ chỉ có tính cách vá víu, lẻ loi của một số cá nhân. Trong bối cảnh đó, học tiếng Việt có nghĩa là học thuộc ḷng chánh tả và ư nghĩa của chữ, đi kèm với việc tra tự vị tiếng Việt mỗi khi mơ hồ. .........

 

Trở lại đầu