T́nh yêu trong CA-DAO
tạp ghi bởi Minh Bằng
(Thái B́nh phóng tác, Minh Châu bổ túc)
Bỏ nước ra đi tất-tưởi, không sửa-soạn, không từ-biệt. Ra đi đến khắp bốn phương
trời. Song người Việt chúng ta mấy ai không cùng một nhịp-đập của con tim ? Mấy
ai không rung-cảm khi nghe tiếng Mẹ? Tiêu-biểu cho tiếng Mẹ nhất:
Đó là Ca-Dao!
Đề-cập đến CA-DAO là đi vào phần văn-chương phong-phú nhất của dân-tộc Việt-Nam.
Nhưng đó cũng là một đề-tài rất phưc-tạp: V́ CA-DAO chỉ được loan-truyền trong
dân-chúng mà không ghi-chép. Một vài học-giả đă dầy-công sưu-tầm, hầu khỏi làm
mất-mát kho-tàng quư-báu đó. Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ, trong muôn-vàn
câu ḥ, tiếng hát vang-dội khắp ba miền đất nước.
Không ai có thể xác-định được CA-DAO xuất-hiện từ hồi nào. Có người nói: Từ khi
có người Việt và tiếng Việt. Kẻ khác lại cho rằng: CA-DAO chỉ được cấu-tạo khi
xă-hội Việt-Nam được thành-h́nh trong thể-chế quân-chủ... Dầu thế nào đi nữa,
CA-DAO cũng đă có từ rất lâu, và mỗi ngày lại được thêm phong-phú theo ḍng
thời-gian và theo sự thay-đổi của xă-hội.
CA-DAO Việt-Nam đề-cập đến tất cả mọi khía-cạnh của đời sống con người: Từ
thể-chế xă-hội, qua nghĩa vua-tôi, đến t́nh thầy-tṛ, tiến sang thời-tiết,
địa-dư và cuối cùng đi sâu vào đời sống t́nh-cảm qua những rung-động của con tim...
Phần quan-trọng nhất của CA-DAO là phần t́nh-yêu, phần t́nh-cảm cá-nhân của mỗi
người Việt.
Trong khuôn-khổ bài này, chúng tôi không có tham-vọng tŕnh-bầy hết mọi
khía-cạnh của t́nh-yêu trong CA-DAO, mà chỉ muốn đề-cập đến t́nh-yêu đôi-lứa,
t́nh vợ chồng. Chúng tôi tạm gác t́nh đồng-loại và t́nh quê-hương trong một loạt
bài khác. Để thêm rơ-ràng, chúng tôi sẽ cố-gắng phân-chia ra từng tiết-mục nhỏ,
dựa theo diễn-tiến của t́nh-yêu: Từ lúc làm quen, tỏ t́nh, tới khi nên nghĩa vợ
chồng, đầu bạc răng long. Chúng tôi sẽ cố gạt-bỏ một số câu có vẻ quá “tục” (mặc
dầu quan-niệm “thanh / tục” cũng rất tương-đối), và chỉ giữ lại những câu
phản-ảnh trung-thực nhất tinh-thần dân-tộc.
KHI MỚI CHỚM YÊU:
Nhân một ngày hội, một ngày lễ chùa hay buổi chợ phiên, (hoặc những ngày sống
trong trại tạm-cư!), chàng và nàng t́nh-cờ gặp nhau. Tiếng sét ái-t́nh làm cho
hai người cảm-mến nhau ngay:
Nếu là đôi trai gái miền Nam, mọi chuyện dễ-dàng hơn, khỏi cần rào-đón:
Cô kia
bới tóc đuôi gà,
Nắm đuôi cô lại, hỏi nhà cô đâu.
- Nhà tôi ở dưới xóm dâu,
Bên kia đám dậu, đầu cầu ngó qua!..."
nhưng với cô gái Bắc-kỳ nho-nhỏ th́:
" Hỏi em, em chẳng nói,
Nh́n em, em lại cười..."
Thiệt là khó-xử v́ c̣n cha mẹ, họ-hàng đi chung, hai người chưa nói với nhau
được câu nào! Sau buổi lễ, mỗi người một ngả, mang theo mối tương-tư thầm-kín,
khó có thể thổ-lộ cùng ai, để mà:
“ Nhớ ai, nhớ măi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn!”
hay là:
“ Nhớ ai
con mắt lim-dim,
Chân đi thất-thểu như chim tha mồi,
Nhớ ai hết đứng lại ngồi
Ngày đêm tư-tưởng một người t́nh-nhân!”
Tục-truyền rằng: Đời vua Thánh-tổ, có một chàng trai tên Phạm Quyên, gặp một
thiếu-nữ đẹp tuyệt-vời nhân một buổi lễ chùa Hương-Tích. Khi ra về, hai người
chia tay và ngầm hẹn-ước ngày này năm sau gặp lại. Ngày tháng trôi qua, Phạm
Quyên y hẹn trở lại chốn cũ, trông-đợi ngày đêm mà người xưa vẫn biệt luôn
tăm-tích. Không nản-ḷng, chàng vẫn đều-đặn trở lại chốn hẹn, ḍng-dă suốt 36
năm trường, cho đến khi nhắm mắt ĺa đời... Về sau chàng hóa ra cây đa mọc cạnh
hồ sen, nơi hai người tṛ-truyện năm xưa.
T́nh yêu có rất nhiều cái hay, cái đẹp, nhưng cũng làm nhiều người phải ”
thất-điên, bát đảo” v́ nó. Nhiều khi con người muốn thoát khỏi cái “yêu”
thường-t́nh, để t́m một lối sống khác, cao-thượng hơn cũng không xong. Đă biết
bao huyền-thoại về các bậc tu-hành, cao tăng, đại đức, không thoát khỏi lưới
t́nh. Chẳng thế mà có câu:
“ Ba cô
đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về, sư ốm tương-tư,
Ốm lăn, ốm lóc, nên sư trọc đầu!
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây...”
Các cô mà bận yếm đỏ, đến ngay quỷ
thần cũng c̣n phải mê-mệt, huống-hồ nhà sư chất-phát kia. Cũng có khi, không
phải cái yếm làm cho sư tương-tư, mà là một
cái ǵ khác, như:
“ Sư đang
tụng-niêm nam mô,
Thấy cô xách giỏ, ṃ cua bên chùa.
Ḷng sư luống những mơ hồ!
Bỏ cả kinh-kệ, t́m cô hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đàng nào,
Tay cầm tràng-hạt, ra vào băn-khoăn...”
TỎ T̀NH:
Nhiều người may-mắn hơn chàng Phạm Quyên được gặp lại người ḿnh thầm yêu, trộm
nhớ. Nhưng rồi: Phải làm sao đây? Biết mở đầu bằng câu ǵ bây giờ? Nói thẳng ra
th́ không dám, sợ nàng giận, mà không nói ra th́ nàng lại không hiểu. Thôi th́
liều vậy. Nhưng phải nói loanh-quanh một hồi, đón trước, rào sau, e-dè từng chữ.
Chính thế mà ông cha ḿnh ngày xưa đă tán rất thần-t́nh:
“ Gió
đánh ḍ dưa, gió đập ḍ dưa,
Sao cô ḿnh lơ-lửng mà chưa lấy chồng ?
Gió đánh cành hồng, gió đập cành hồng,
Hỡi cô ḿnh đă muốn lấy chồng hay chưa ?”
hay một cách thâm-thúy hơn: vừa
giới-thiệu ḿnh là kẻ siêng-năng, lại ngầm hứa-hẹn đủ điều:
“ Hôm
qua tát nước đầu đ́nh,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen,
Em được th́ cho anh xin,
Hay là anh để làm tin trong nhà ?
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đă lâu,
Mai mượn cô đó về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Ít nữa lấy chồng, anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi ṿ,
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm,
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trầm em đeo,
Giúp em quam tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau..”
Có chàng trai dạn-dĩ hơn, tán thật hăng và vào thẳng vấn-đề:
“
Trên đầu em đội khăn vuông,
Trông xuống dưới ngực, cau buồng c̣n non,
Cổ tay em: vừa trắng, vừa tṛn!
Mặt mũi vuông-vắn, chồng con thế nào ? “
Nhưng lối tán trên coi bộ ít được các nàng hưởng-ứng, v́ có lẽ không hợp
tính-t́nh người Á-đông cho lắm. Có khi đă biết rơ “cô bé” chưa có chồng, chàng
‘tán’ cách khác:
“ Đấy
đông th́ đây bên tây,
Đây nay chưa vợ, đấy nay chưa chồng,
Con trai chưa vợ đă xong,
Con gái chưa chồng, buồn lắm em ơi!!!”
Không hiểu các cô nghĩ thế nào về bốn câu thơ trên? Thực ra chỉ đúng một phần,
nhất là các ông chỉ được cái tài lẻo-mép. Có chàng c̣n kêu cô nàng hăy nh́n trời
để chàng chứng-minh t́nh của chàng:
" Sao vua
chín cái nằm kề,
Thương em từ thủa mẹ về với cha.
Sao vua chín cái nằm ngang
Thương em từ thủa mẹ mang trong ḷng.
Sao vua chín cái nằm chồng
Thương em từ thủa mẹ bồng trên tay! "
Nhưng cũng có những chàng trai thiệt
dễ thương, chỉ nói vói nàng:
" Trời
mưa ướt lá trầu vàng,
Ướt anh: anh chịu, ướt nàng: anh thương! "
Có chàng khôn-khéo hơn, làm mặt tỉnh-queo, nhờ cô nàng làm mối cho một cô:
" Đường
đi th́ thiệt là xa,
Muốn ḿnh làm mối cho ta một người.
Một người mười tám, đôi mươi,
Một người vừa đẹp, vừa xinh như ḿnh!..."
Đến giờ phút này mà nàng c̣n chẳng nghe theo, có chàng liền đánh bạo:
" Người
về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ.
Câu thơ ba chữ rành-rành:
Chữ trung, chữ hiếu, chữ t́nh là ba.
Chữ trung th́ để phân cha,
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ t́nh!..."
Nhưng các bạn đừng tưởng rằng chỉ có các ông mới có quyền và có bổn-phận phải
tán, các nàng cũng tán như ai đó, đôi lúc c̣n “ngọt” hơn phái nam rất nhiều:
“ Chàng
về, thiếp cũng theo về,
Chàng về Hồ Bắc, thiếp về Hồ Tây.
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay?
Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn ba.
Mồm cha đứa nói thiếp già,
Thiếp c̣n gánh nổi một vài trăm kim!
Trăm chiếc kim đổi lấy lạng vàng,
Mua gương Tư-Mă để thiếp với chàng soi chung!
Chàng về sắm-sửa loan-pḥng,
Thiếp xin điểm phấn, tô hồng thiếp theo! “
Nhiều khi các nàng lại đem cái lư ra để thu-phục ḷng chàng: Trong xă-hội ta
ngày xưa, c̣n ǵ quan-trọng hơn vấn-đề thừa-tự, nối-dơi tông-đường? Ai không con
kế-tự th́ bị ghép vào tội bất-hiếu nặng nhất đối với tổ-tiên, v́ vậy mà các nàng
đánh ngay nhược-điểm này:
“ Trâu
kia kéo cỏ bờ ao ,
Anh kia không vợ đời nào có con!
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không buồng!
Cau không buồng như tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi!
Người ta đi đón về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một ḿnh! “
Tán là một chuyện, c̣n người được tán có chịu hay không lại là chuyện khác. Nếu
không chịu, nàng sẽ từ chối khéo. Cũng có nàng “đanh-đá” hơn, muốn trêu tức
chàng trai, thấp cổ mà muốn chơi trèo, nàng sẽ không ngần-ngại trả lời:
“ Thân
chị như cánh hoa sen
Chúng em như bọt như bèo, chẳng chen vào được! “
Cũng có khi nàng giả-vờ xiêu-ḷng, đang khi chàng sung-sướng ra mặt th́ nàng
thêm:
“ Bao
giờ cho chuối có cành,
Cho sung có nụ, cho hành có hoa,
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa,
Sáo đẻ dưới nước th́ ta lấy ḿnh! ...”
Điều này th́ đợi đến đời cháu thứ bẩy mươi cũng chưa thể cưới nàng được. Cũng có
khi thay v́ từ-chối, nàng đ̣i thật nhiều lễ vật. Đó là một kiểu thách cưới rất
thịnh-hành ở miền Bắc ngày xưa. Người ta quan-niệm: thách cưới càng cao, càng
chứng-tỏ cô gái có giá-trị. Cha mẹ cô gái sẽ đ̣i một số lễ-vật tương-đương với
giai-cấp xă-hội của ḿnh. Nhà trai muốn cưới nàng th́ phải nộp đủ số lễ vật đó.
V́ vậy nên chỉ có những gia-đ́nh giầu-có mới có thể dễ-dàng cưới vợ cho con. C̣n
những gia-đ́nh nghèo-khó đành phải vay công, mượn nợ mà xin cưới. Nhưng thách
cưới như sau đây th́ dù giầu có cách mấy mặc ḷng, cũng khó cho nhà trai
thực-hiện nổi:
“ Em là
con gái nhà giầu,
Mẹ cha thách cưới ra mầu xinh sao?
Cưới em trăm tấm lụa đào,
Một trăm ḥn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời.
Tráp tṛn dẫn đủ trăm đôi,
Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng,
Sắm xe tứ mă đem sang,
Để quan-viên họ nhà nàng đưa dâu.
Ba trăm nón nghệ đội đầu,
Mỗi người một cái quạt tầu thật xinh.
Anh về sắm nhiễu Nghi-Đ́nh,
May chăn cho rộng, tôi ḿnh đắp chung!
Cưới em chín chĩnh mật ong,
Mười cót xôi trắng, mười nong xôi ṿ.
Cưới em tám vạn trâu ḅ,
Bảy vạn dê lợn, ngh́n ṿ rượu tăm,
Lá đa, mặt nguyệt hôm rằm,
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm Thiên-Lôi,
Gan ruồi, mỡ muỗi cho tươi,
Xin chàng chín chục con dơi góa chồng.
Thách thế mới thỏa trong ḷng,
Chàng mà lo được, thiếp cùng theo chân...”
Cũng có khi không muốn bắt tội chàng phải tốn-phí và đợi chờ quá lâu, nàng ỡm-ờ:
" Có
trầu mà chẳng có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau th́ làm!..."
nhưng nàng đưa ra lư-do của ḿnh:
“ Chẳng
tham nhà ngói ba tầng,
Tham v́ một nỗi mẹ cha hiền-lành! “
hay:
“ Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ, cho tầy thế gian!..”
V́ vậy, những bạn nào học-hành uyên-bác, thế nào rồi cũng có một nàng vừa “đẹp”,
vừa “ngoan” lại vừa tính xa cho lọt mắt xanh. (Chưa chắc !).
T̀NH YÊU TRONG NGHĨA
VỢ CHỒNG:
Không ǵ đẹp bằng, không ǵ hay hơn là ḿnh có thể cưới được người ḿnh yêu.
Xă-hội Á-Đông ta quan-niệm việc vợ chồng là việc tối quan-trọng có ảnh-hưởng
trực-tiếp trong suốt cả cuộc đời mỗi người. V́ vậy mà vấn-đề chồng con là một
mối lo-âu cho biết bao cô gái, ngay từ khi chưa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà
trường:
“ Thân em
như tấm lụa đào,
Phất-phơ trước gió, biết vào tay ai...”
Từ ngàn xưa, phái nam vẫn giữ độc-quyền cưới hỏi. Phái nữ chỉ được phép
chấp-nhận hay từ-chối mà thôi, chứ không được đi hỏi phái nam, dù đó là người
con trai mà nàng yêu trọn-vẹn. Nhưng nếu nàng không yêu kẻ tới hỏi nàng, nàng
nên chấp- thuận hay từ chối ? Nếu chấp-thuận, có thể nàng sẽ không hạnh-phúc bởi
v́ nàng không yêu hay v́ chàng không xứng-đáng làm chồng nàng. Nếu từ-chối để
chờ ngưới khác khá hơn, biết đâu sẽ không c̣n ai tới hỏi, và nàng sẽ trở thành
gái già, một viễn-ảnh ghê-rợn của người con gái! V́ vậy người xưa mới có câu:
“ Đi đâu
mà chẳng lấy chồng,
Người ta lấy hết, chổng mông mà gào!
Gào rằng: đất thấp, trời cao,
Sao chẳng thí-bỏ cho tôi chút chồng!
Ông trời ngoảnh lại mà rằng:
Mày hay kén-chọn, ông không cho mày...”
Cũng có cô đẵn-đo, lưỡng-lự: nửa muốn lấy chồng, nửa muốn ở không, v́ đàng nào
cũng khổ:
“ Gái có
chồng như gông đeo cổ,
Gái không chồng như phản gỗ long đanh.
Phản long đanh, anh c̣n chữa được.
Gái không chồng chạy ngược, chạy xuôi! ..”
Có người lại cho rằng:
“ Chồng
con là cái nợ-nần,
Thà rằng ở vậy, nuôi thân béo tṛn.
Rồi khi đă nhất quyết lấy chồng, các nàng lại thêm một cái khổ nữa: Quan-niệm
cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy của người xưa. Cũng v́ muốn vâng lời cha mẹ, đă có
biết bao nhiêu người phải khổ cả một đời. Có cô tội-nghiệp phải sống trong cảnh:
" Lấy
chồng, chẳng biết mặt chồng.
Đêm nằm mơ tưởng đến ông láng-giềng!.."
Có cô vâng lời cha mẹ, lên xe hoa về nhà chồng khi c̣n quá trẻ, nhưng rồi cô sẽ
lớn:
" Lấy
chồng từ thủa mười lăm,
Chồng chê tôi nhỏ chẳng nằm cùng tôi.
Đến năm mười tám, đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường.
Một rằng thương, hai rằng thương!
Có bốn chân giường: gẫy một c̣n ba!
Ai về nhắn với mẹ cha:
Chồng tôi nay đă giao-ḥa cùng tôi!.."
Có cô thiếu may-mắn hơn, lấy phải ông chồng già:
“ Vô
duyên, vô phúc,
Múc phải ông chồng già!
Ra đường, người hỏi:
- Là cha hay chồng?
Nói ra đau-đớn trong ḷng:
- Ấy cái nợ truyền-kiếp!
Có phải chồng em đâu nào! ..”
Có nàng lại bằng ḷng với số phận ấy, chỉ hy-vọng tương-lai sẽ đổi thay:
“ Trời
mưa nước chảy qua sân,
Em lấy ông lăo qua lần th́ thôi.
Bao giờ ông lăo chầu trời,
Th́ em lại kiếm một chàng trai tơ...”
Những ông già nghe thấy thế chỉ tủm-tỉm cười như nói: - Hậu xét! và biện-luận:
" Áo dài
chớ nại quần thưa,
Bẩy mươi có của, cũng vừa mười lăm!.."
hay tệ hơn nữa:
" Bẩy
mươi, mười bẩy bao xa,
Bẩy mươi có của, mười ba cũng vừa!..?
Cũng có cô bằng ḷng cưới một đứa bé. Ngày xưa, các nhà giầu thường muốn cưới vợ
cho con thật sớm, hầu có thêm người làm trong gia-đ́nh. Một phần cũng v́ mấy cô
tham tiền, nên sau mới than:
“ Tham
giầu, em lấy thàng bé tỉ t́ ti !
Làng trên, xóm dưới, thiếu ǵ trai to!
Em đem thân cho thằng bé nó dầy-ṿ,
Mùa đông, tháng giá: nằm co trong ḷng!
Cũng đa mang là gái có chồng,
Chín đêm chực-tiết, nằm không cả mười !
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh!
Em cũng liều ḿnh với thằng bé trẻ ranh,
Đêm nằm rờ mó quẩn-quanh cho đỡ buồn.
Buồn ḿnh em lại bế thằng bé nó lên...
Nó c̣n bé mọn đă nên cơm cháo ǵ!!!
Nó ngủ, nó ngáy tỳ tỳ...
Một giấc đến sáng, c̣n ǵ là xuân!
Chị em ơi: hoa nở mấy lần ? “
Có nàng tránh được cái khổ này, lại vướng vào cái cực khác. Cha mẹ tham của, gả
con về làm bé cho người ta. Chế-độ đa-thê được khai-thác triệt-để dưới thời
quân-chủ. Các ông viện cớ:
" Tốt số
lấy được chồng chung,
Lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may. "
và:
" Tốt số
làm lẽ khỏi lo,
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi. "
Khổ nỗi, người con gái lấy chồng chẳng v́ ham cái rá cơm nguội hay cái nồi đầy
cá. Mấy ai hiểu được hoàn-cảnh bi-đát của người vợ bé. Có qua cầu mới hay!
“ Lấy
chồng làm lẽ khổ thay!
Đi cầy, đi cấy, chị chẳng kể công.
Đến tối chị giữ lấy chồng,
Chị cho manh chiếu, nằm không nhà ngoài.
Đêm đêm chị gọi: Bớ hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo! “
Người vợ bé bị thiệt-tḥi đủ điều. Mang tiếng có chồng mà ngay cả khi muốn gần
chồng, cũng phải vụng-trộm:
“Thân em
làm lẽ chẳng nề,
Có như chính-thất mà lê giữa giường,
Tối tối chị giữ mất buồng,
Chị cho manh chiếu, nằm không nhà ngoài!
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho!
Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn.
-Cha mẹ con gà kia sao mày vội gáy dồn,
Mày làm cho tao mất vía, kinh hồn v́ nỗi chồng con!!! “
Về phía đàn ông: có người thích vợ trẻ, kẻ lại khoái vợ già. Ai cũng có lư của
ḿnh. Người có vợ già th́ cho rằng:
“ Có phúc
lấy được vợ già,
Sạch cửa, sạch nhà, lại ngọt cơm canh!
Vô phúc lấy phải trẻ ranh,
Nó ăn, nó bỏ tan-tành nó đi...”
Những người ưa vợ trẻ th́ lại nghĩ rằng:
“ Chồng
già vợ trẻ là tiên,
Vợ già, chồng trẻ là duyên nợ-nần! “
Ai cũng công-nhận là thương nhau trái ấu cũng tṛn, nhưng phải công-nhận ông
chồng này khỏi chê v́:
" Mũi em
những tám gánh lông,
Chồng thương, chồng bảo: râu rồng trời cho!
Đêm nằm th́ gáy o o,
Chồng thương, chồng bảo: gáy cho vui nhà!
Đi chợ th́ hay an quà,
Chồng thương, chồng bảo: về nhà đỡ cơm!
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng thương, chồng bảo: hoa thơm rắc đầu! "
Giữa các đấng mày râu, ai lại không muốn sau này cưới được một người vợ thật đẹp
để nở mày, nở mặt với thiên-hạ. Nhưng quư-vị hăy coi chừng:
“ Vợ đẹp
càng tổ đau lưng,
Chè ngon: đắng miệng! Điếu thơm: quyện đờm!
Biết vậy, song vẫn đám cưới, vẫn tiệc-tùng linh-đ́nh, mà đôi khi c̣n cưới hai ba
bà vợ nữa. Đời sống vợ chồng bắt đầu từ đây: có lúc vui th́ cũng có khi buồn, có
lúc phẳng-lặng như nước mặt hồ thu, nhưng cũng có khi chén đĩa bay như trong
cuộc đại chiến. Các bậc cha mẹ thường dậy con:
“ Chồng
giận th́ vợ bớt lời,
Cơm sôi nhỏ lửa, một đời không khê! “
Có người lại nghĩ rằng: muốn yên cửa, yên nhà, tốt nhất là theo chính-sách nhất
vợ nh́ trời:
“ Làm
trai rửa bát quét nhà,
Vợ gọi th́: -Dạ ! Bẩm bà tôi đây!ï “
Trong xă-hội tân-tiến này, có nhiều người đàn ông lúc nào cũng tỏ ra ta đây:
giầu có và quyền-quư. Nhưng biết đâu cái mặt trái lại khác xa:
" Ra
đường vơng giá nghênh-ngang
Về nhà, vợ hỏi: - Cám rang đâu mày?
- Cám rang tôi để cố i xay.
(Chồng trả lời)
- Hễ chó ăn hết th́ mày biết tao!..." (Vợ hăm)
Có khi người vợ khôn-ngoan, pha tṛ cho chồng vui, rồi làm ḥa, giả bộ ngây-thơ:
“ Chồng
giận th́ vợ làm lành,
Miệng cười chúm-chím: thưa anh giận ǵ?
Thưa anh, anh giận em chi?
Muốn lấy vợ bé em th́ lấy cho! (? ) “
Được người vợ như thế, c̣n ǵ hạnh-phúc hơn. Nhưng đàn ông nào lại chẳng có chút
máu lang-bang, mỗi khi có dịp, nó bùng lên ngay:
“ Đàn ông
một trăm lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người... “
Người chồng thường tỏ ra biết lỗi, nhưng vẫn cố bào-chữa:
“ Đố ai
nằm vơng không đưa,
Ru con không hát, anh chừa nguyệt hoa! “
Người vợ biết cái tật dễ ghét của các ông chồng, nên lúc nào cũng nhắc-nhở:
" Ao nhà sạch lắm anh
ơi.
Đừng đi ao khác: nước hôi, lắm bèo!...
Dù rằng chẳng nên chơi bời nguy-hiểm, nhưng các ông chồng cũng cần cân-nhắc,
tính-toán thời-giờ chứ đừng để vợ than:
" Đang
khi lửa cháy, cơm sôi,
Lợn kêu, con khóc, chồng đ̣i ṭm-tem...
Bây giờ cơm đă ch́n rồi,
Lợn no, con ngủ, ṭm-tem th́ ṭm!.."
“ Hỡi thằng con lớn,
hỡi thằng con bé,
Cu tí, cu ti, cu tỉ, cu t́ ơi!
Con dậy, con ăn, con ở với bà,
Để mẹ đi kiếm một vài con thêm.
Bố con chết đi, trong bụng mẹ đây nó hăy c̣n thèm,
Mẹ xem quẻ bói: vẫn c̣n đàn em trong bụng này...”
Có những người đàn bà phải thắt bụng chờ đợi. Chờ đến khi con gái lớn thỏ-thẻ:
“ Mẹ ơi, con muốn lấy chồng! “
lúc đó mới dám lấy hết nghị-lực thố-lộ cùng con:
“ Con ơi, mẹ cũng một ḷng như con ! “
Trong vài trường-hợp, khi người mẹ muốn tái-giá, phải có sự ưng-thuận của đứa
con: v́ nó là trưởng-tộc, có quyền ăn nói. V́ vậy, bà mẹ mới dụ con:
“ Ngày
sau con tế ba ḅ,
Sao bằng lúc sống con cho lấy chồng ...”
Người thiếu-phụ đang xuân muốn tái-giá đă vậy, ngay cả những bà cụ đi đứng không
muốn nổi, cũng hăm-he t́m lại hương-vị tuổi thanh-xuân. Tục truyền rằng: có một
ông lăo đă ngoài 60 muốn tục-huyền với một bà cũng xắp-xỉ bẩy mươi. Cụ bà chê
ông già. Ông cụ bị chạm tự-ái, liền khẳng-định:
“ Già th́
già tóc, già tai,
Già răng, già lợi, t́nh yêu không già ! “
Bà già nghe cũng xuôi tai, nhưng c̣n lưỡng-lự, nên đi hỏi thầy bói:
“ Bà
già đi chợ cầu Đông,
Bói xem một quẻ, lấy chồng, lợi chăng ?
Ông thầy xem quẻ, nói rằng:
- Lợi th́ có lợi, nhưng răng không c̣n!! “
bà già nghe vậy, nổi cơn lôi-đ́nh, đập ông thầy mấy đập, rồi nhảy xuống sông
tự-tử. Truyền-thuyết không thấy nói ông già có “xơi tái “ thầy bói hay không.

TINH YÊU VỢ CHỒNG
NGƯỜI LÍNH:
Được lệnh ṭng quân, người đi, kẻ ở lại: trăm t́nh ngổn ngang. Người thi-sĩ
b́nh-dân đă dùng ca-dao nói lên sự can-đảm của người vợ:
" Anh ơi!
em ở lại nhà,
Hai vai gánh-vác, mẹ già con thơ.
Lầm than đừng quản nắng mưa,
Anh đi, anh cố chen đua với đời.
Anh ơi phải lính th́ đi!
Cửa nhà đơn chiếc, đă th́ có em..."
anh chồng nghe vợ nhắn-nhủ, chàng liền quả-quyết:
"
Đắng: khổ qua, chua: là chanh giấy,
Dầu ngọt cho thế mấy, cũng cam sành.
Giặc Lang-Sa (Pháp) đánh đến bên thành,
Dẫu ai có ngăn qua, đón lại: dạ cũng không đành bỏ em! "
chàng c̣n an-ủi vợ:
" Chẻ
tre, bện sáo cho dầy,
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp nhau!.."
đứng trước cảnh:
" Thùng
thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa!..
người vợ lính không khỏi than-trách:
" Trời
ơi, sanh giặc làm chi
Cho chồng tôi phải ra đi chiền trường!.."
người chồng cũng chẳng khá hơn, mặc dầu không nói ra nhưng cũng thở dài, tự an-ủi:
" Lên xe, nghe tiếng thúc c̣i
Thương con, nhớ vợ, lệnh đ̣i phải đi!.."
Tiễn người yêu ra đi làm nghĩa-vụ
người trai, nàng thơ-thẩn kéo gót về nhà, qua cây cầu cũ:
" Qua
cầu, ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, em sầu bấy nhiêu!..."
Mặc dù ḥa-cảnh đau-xót khi chồng phải xông-pha ngoài tiền-tuyến, người
chinh-phụ, nơi hậu-phương vẫn phải một ḿnh lo cho gia-đ́nh: nuôi mẹ, nuôi con,
nhưng vẫn không tránh khỏi cảnh nhiễu-nhương do kẻ có quyềøn hành:
" Cậu Cai
buông áo em ra,
Để em đi chợ, kẻo mà chợ trưa.
Chợ trưa: rau nó héo đi,
Lấy ǵ nuôi mẹ, lấy ǵ nuôi con!!..."
TINH YÊU NGOÀI V̉NG
ĐẠO-LƯ:
Tất cả những mối t́nh không đi vào khuôn-khổ vợ chồng, đều bị xă-hội lên án là
vô-luân. Có nhiều người con gái được tiếng là đoan-trang, ngoan-ngùy, lúc nào
cũng thỏ-thẻ với mẹ:
“ Mẹ ơi! con mẹ đồng-trinh!
nhưng biết đâu đó, v́:
“ tối ngủ một ḿnh tḥ bốn cái chân! “
Có khi người con gái chưa muốn lấy chồng, chỉ muốn t́m lạc-thú, nên nàng không
cần ǵn-giữ ǵ cả: chữ trinh đối với nàng không quan-trọng, nên quyết-định:
“ Chơi
cho thủng trống, long bồng,
Rồi ra ta sẽ lấy chồng, lập nghiêm.
Chơi cho thủng trống, long chiêng,
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm, lấy chồng.... “,
nàng lại c̣n tự biện-minh:
“ Lẳng-lơ
th́ cũng chẳng ṃn,
Chính-chuyên cũng chẳng sơn son để thờ... “
Cũng có khi, nàng đă trót yêu một người, nhưng v́ cha mẹ ép-buộc hay v́ một lư-do
nào đó, nàng đă phải lấy một người khác làm chồng. Dù sao cũng không thể quên người yêu cũ:
“ Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng th́ ít, nhớ trai th́ nhiếu... “
Đôi khi người nàng yêu, lại là chồng một cô bạn, nên đành đánh liều dụ bạn:
“ Của
chua, ai thấy chẳng thèm,
Em cho chị mượn chồng em vài ngày...”
nhưng khổ nỗi, ở đời người ta cho mượn đồ, mượn đạc, mấy ai cho mượn chồng? Bạn
nàng liền đáp:
“ Chồng
em đâu phải trâu cầy,
mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm!... “
“ Hỡi cô mặc yếm quá tầm!
Chồng cô đi lính, cô nằm với ai?
Cô nằm, cô đẻ thằng bé con trai.
Chồng về, chồng hỏi: Con ai thế này?
Cô ta bèn nhanh miệng trả lời:
“ Con tôi
đi kiếm về đây!
Có cho nó gọi bằng thầy th́ cho...”
Những mối t́nh vụng trộm, những mảnh t́nh vụn hoặc ngoài ṿng lễ giáo như trên
thường không được lâu bền! Làm sao có thể sống được khi mà cả xă-hội kết-án? Nền
luân-lư đó có nhiều điều hay, nhưng cũng không khỏi có lắm điều oan-ức!
KẾT LUẬN:
T́nh yêu đă chiếm một chỗ rất quan-trọng trong Ca-dao,Tục-ngữ Việt-Nam. Nó
phản-ảnh tinh-thần đa-cảm của người Việt: Dùng câu thơ, nhịp-phách để bầy-tỏ
nỗi-ḷng ḿnh, hoặc để dạy con, dậy cháu hay để châm-biếm xă-hội... Nó đă ăn sâu
vào huyết-quản mọi người dân Việt. Bất cứ hoàn-cảnh nào cũng có một vài câu
tương-ứng, làm như tất cả đời sống con người đă được thấy trước và đă xẩy ra như
được hoạch-định. Lịch-sử vẫn luôn tái-diễn, nhất là trong vấn-đề t́nh-cảm. Như
cảnh một gia-đ́nh xum-họp đă được diễn-tả trong ca-dao, sẽ măi-măi c̣n giá-trị,
dù thế-giới này có đổi-thay đi nữa, hay dù con người sống trong hoàn-cảnh nào
cũng vậy.
C̣n ǵ hạnh-phúc hơn cảnh:
“ Vợ
chồng là nghĩa tào-khang,
Chồng ḥa, vợ thuận, nhà thường yên-vui,
Sinh con, nuôi-nấng nên người,
Làm ăn thinh-vượng, đời-đời ấm no...”
Nguyện chúc các bạn được như thế!
