Bài này viết vào khoảng năm 1974, đă trao cho
ông Trần Phong Giao để đăng vào một tạp chí văn nghệ ở Sài G̣n do ông
phụ trách. Bài chưa kịp đăng, xảy ra biến cố 30-4-1975. Đầu năm 1991,
một người bạn cho biết bài ấy vừa xuất hiện trên tạp chí Bách Khoa Văn
Học số 2, ở Sài G̣n, dưới bút hiệu Mai Thế Liên. Nếu không có sự lưu
tâm của bạn, chút tài liệu nhỏ mọn có thể đă thất thoát; tác giả xin
trân trọng cảm tạ. (V.P.)
Có một lần Nguyễn Bính tự phê:
Yêu, yêu, yêu măi thế này!
Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu.
Và ông đề nghị:
Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại họp thành làng cho xinh.
Thương nhau dựng một ngôi đ́nh,
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng.
("Làng yêu đương")
Nguyễn Bính tự phê sáng suốt và
đề nghị một sáng kiến thật ngộ nghĩnh.
Mặc dầu yêu gái không phải là chuyện đặc biệt cho lắm, kẻ đồng tâm với
Nguyễn Bính tập hợp lại e không chỉ thành một làng mà thành cả một
nước (có c̣n xinh chăng); nhưng cái yêu ở đây vẫn có chỗ khác thường,
là yêu măi, sa lầy... Tuy vậy, cái khác thường nhất của Nguyễn Bính,
mà ông không chịu nói đến, đó là các bà chị. Vâng, khác thường không
phải là Nàng — vị thần linh — mà là những bà chị của thần linh.
Tôi không thu thập được nhiều thơ Nguyễn Bính, nhưng cũng có trong tay
hàng chục bài thơ về các chị. Nhiều nhất là những bài thơ gửi chị Trúc.
Ngoài ra, có bài gửi “Người chị dưới mái trăng non”; có bài nói về
người chị hàng rượu; lại có bài nói về một bà chị trống trơn, không
cần minh định:
Năm xưa chị chưa lấy chồng,
Chị đan tấm áo len hồng cho tôi.
Năm nay chị lấy chồng rồi,
Mỗi kỳ gió lạnh không người đan len.
("Gió lạnh")
Tại sao gặp lúc gió lạnh lại
không nghĩ đến sự ấp ủ của mẹ, đến những khắng khít êm ấm bên cạnh
nàng mà lại nghĩ đến chị? Chúng ta không có tài liệu để mong được hiểu
về điểm tâm sự ấy của Nguyễn Bính; nhưng đă rơ ràng là trong trường
hợp này chị là chỗ hướng về khi trời trở lạnh hay ḷng trống lạnh:
người chị như thế đă thành một biểu tượng, không cần có mặt mũi, không
cần mang tên tuổi riêng biệt.
Thơ Nguyễn Bính thường vẫn có cái vẻ dễ dàng, mộc mạc của ca dao.
Những bài thơ liên quan đến các chị th́ lại không thế: phần lớn là
những công tŕnh vừa dài vừa điêu luyện. Có những bài dài hàng trăm
câu, lại chỉ dùng có một vần.
Tự buộc ḿnh vào những rắc rối khó khăn như thế, thi sĩ có ư làm những
chuyện tiểu xảo chăng? Trái lại, nếu muốn chọn những bài thơ nào của
Nguyễn Bính mà chứa đựng nhiều chân t́nh, chắc chắn trong số đó phải
có những bài thơ gửi chị.
Thật vậy, trong nội dung thơ Nguyễn Bính thường cũng không mấy cầu kỳ.
“Sa lầy trong yêu” như ông, ông hay nói về ái t́nh; nhưng tuy nói
nhiều ông cũng không thiết t́m ra những lối nói độc đáo, tân kỳ. Toàn
những nàng con gái lầu hoa, cô lái đ̣, cô gái hái mơ, những chuyện mơ
làm đôi bướm, mơ đậu trạng nguyên để chờ nàng gieo cầu v.v... Về các
nàng toàn khuôn sáo cũ kỹ, nhưng về chị của các nàng th́ không thế.
Hăy nghe ông tíu tít hỏi chị
Trúc:
Đố chị thư này ai viết nhé!
Chị ơi! Em bé chị đây mà!
Được tin người ấy cho em biết:
Chị Trúc giờ đang bận chữa nhà
Nhà mới bao giờ chị chữa xong?
Bao giờ cho thợ chén hồi công?
Bao giờ chị dọn sang bên đó?
Xem lịch, khai trương, đốt pháo hồng?
("Xây lại cuộc đời")
Lại nghe ông ngậm ngùi nhắc về chị Tuyết:
Nhớ ngày tôi vào chơi Hà Tiên,
Chiều chiều cùng chị về trong Rẫy,
Đường ṃn, nắng nhạt soi tà tà,
Biển khơi, gió mặn thổi hây hẩy.
("Bài thơ vần Rẫy")
Kỷ niệm mỗi chiều về
Rẫy, việc chữa nhà, việc xem lịch, việc ăn hồi công... xác thực, cụ
thể biết bao! Các nàng thuộc cơi mơ, các chị của nàng thuộc cuộc đời
thực tại sống động, gần gũi.
Yêu là ngón sở trường của các thi sĩ, vậy mà mỗi nhà thơ thường chỉ có
một mối t́nh lớn trong đời: Liên của Đinh Hùng, Tố của Hoàng, Mộng Cầm
của Hàn Mặc Tử... T́nh chị là chuyện hiếm hoi, riêng ở Nguyễn Bính lại
bắt gặp bóng dáng ba bốn người chị. Ba bốn người: khó có thể là sự
ngẫu nhiên. Hết người chị này thi sĩ lại sà vào một người chị khác;
trong tâm hồn ông hẳn phải có một khía cạnh nào nghiêng về thứ t́nh
cảm ấy, liên tiếp xô đẩy ông về phía những người thiếu phụ ấy.
Và thứ t́nh cảm đă khởi hứng cho ông viết nên những bài thơ công phu
về h́nh thức, độc đáo về nội dung đến thế, tưởng cũng là một yếu tố
đáng kể trong thi nghiệp của Nguyễn Bính.
T́nh chị em sự thực nó ra
làm sao?
Nguyễn Bính có kể với nữ sĩ Mộng Tuyết về chuyện chị Trúc;[1] nhưng
ông không có hồi kư để kể lại với chúng ta. C̣n về trường hợp của
chính ḿnh th́ nữ sĩ Mộng Tuyết đă thuật lại.[2]
Nguyễn Bính hứa với nữ sĩ Mộng Tuyết xem nữ sĩ là người chị tinh thần,
người chị thứ hai sau chị Trúc.
Đối với chị, Bính thường quấn quít bên cạnh như một chú em ngoan ngoăn.
Ban ngày, chị ở ngoài tiệm th́ Bính cũng ra tiệm, để “trông hàng cho
chị”, để “xem chị may áo”, để “đi gửi thư cho chị”. (Chị viết xong cái
thư nào, Bính giành đi bỏ thùng thư bưu điện cái ấy.) Buổi chiều, chị
về trong Rẫy, Bính đưa chân. Buổi tối, chị ở Rẫy, Bính lại vào nghe
truyện đến khuya. Chị mặc tang phục, Bính khen chị đẹp năo nùng, như
một bài thơ buồn. Chị gửi nhiều thư cho một người nào, Bính hờn dỗi,
bảo chị làm cho Bính phát ghen.
Căn cứ vào thái độ đối với chị Mộng Tuyết, đọc lại một số bài thơ, hăy
phỏng đoán về thái độ của Nguyễn Bính đối với chị Trúc.
Quấn quít là chuyện tất nhiên, bởi v́ chị Trúc thân t́nh cố cựu hơn
chị Tuyết. Cứ xem cách xưng hô th́ Bính c̣n làm nũng với chị Trúc gấp
mấy. Với chị Tuyết, Bính xưng tôi; nhưng với chị Trúc c̣n xưng đến “em
bé”, “Bính em” cơ:
Chị ơi!
Em bé chị đây mà!
Chị hăy nghe lời em bé đây
("Chị đă ghen")
Bính em một tấm ḷng vàng
("Xây hồ bán nguyệt")
Đi bỏ thư cho chị,
trông cửa hàng cho chị... là một cách quấn quít mà cũng là một tâm lư
thích tự làm cho có vẻ bé thêm. Cũng như trong cách tự xưng “em bé”,
“Bính em”, cũng như trong cách “đố chị”.
Về dung nhan của chị Trúc, Bính chỉ có câu:
Chị vẫn môi son
vẫn má hồng
("Xuân tha hương")
Nhưng
điều đó không đủ để chứng tỏ ông ít quan tâm đến nhan sắc của chị Trúc.
Bởi v́ cứ theo dơi trong thơ th́ Nguyễn Bính không có một lời nào nói
về cái đẹp năo nùng của chị Tuyết, ấy vậy mà ngoài đời ông có những
câu xưng tụng nhiệt liệt đến thế. Trong thơ thi sĩ vẫn giữ sự tôn cách
hơn ngoài đời.
Nữ sĩ Mộng Tuyết chỉ nói về sự quấn quít lúc gần; ở chị Trúc, em Bính
c̣n bộc lộ ḷng nhớ thương lúc xa chị:
Chiều
qua ngồi ngắm hoàng hôn xuống,
Nhớ chị làm sao nhớ lạ lùng.
("Xuân tha hương")
Nhớ thương như thế th́ đ̣i hỏi sự chuyên nhất cũng là chuyện dĩ nhiên:
Ôi,
chị một em, em một chị,
Giời làm xa cách mấy con sông.
Mấy sông mấy núi mà xa được,
Ḷng chị em ta vẫn một ḷng.
("Xuân tha hương")
Tuy vậy, ở Hà Đông mới một em một chị, vào đến Hà Tiên th́ em đă
hai chị rồi. Điều ấy không hề ǵ, rồi em c̣n có ba chị, bốn chị không
chừng. Về người chị thứ ba, tức cũng là chị của cô Nhi nào đó, chúng
ta không được biết ǵ nhiều. Chỉ biết rằng t́nh quyến luyến chị em ở
đây cũng dính liền với một h́nh ảnh “thần linh”, y hệt như hai trường
hợp trước của Nguyễn Bính. Bên cạnh người chị “Dưới mái trăng non” có
cô cháu mười bảy tuổi tên Ngọc; bên cạnh người chị trong bài "Hoa với
rượu" có cô bé Nhi; c̣n với chị Trúc, em Bính kể lể hơi nhiều t́nh yêu.
Có khi là một mối t́nh cũ hẳn từng được chị khuyến khích:
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy,
Rặt những tin đồn chuyện bướm ong.
...
Nàng bèo bọt quá, em lăn lóc,
Chắp nối nhau hoài cũng uổng công.
("Xuân tha hương")
Có khi lại là những mối t́nh bốn phương mà chị hẳn chưa hề được biết:
Mấy lần em tính chị ơi,
Làm quà cho chị một người em dâu.
("Một chiều say")
Em say em tính thế, chứ thực ra nàng con gái đầu tiên mà em yêu và
mang ra tỉ tê với chị Trúc là ai vậy? Có phải là cô Oanh nào đó đă đi
liền với chị Trúc trong hai câu thơ chăng?
Nghỉ học, cô Oanh loà một mắt,
Lấy chồng, chị Trúc bó hai tay.
("Trời mưa ở Huế")
Cả hai người con gái đều ở Hà Đông, nơi tưởng nhớ khôn nguôi của
Nguyễn Bính, mặc dù quê ông ở Nam Định:
Để hồn về tận xứ Hà Đông
("Xuân tha hương")
Thương về Hà Nội, nhớ về Hà Đông
("Một chiều say")
Thành thử các người chị đă được t́m đến v́ Nguyễn Bính muốn tự làm bé
bỏng để thấy được tưng tiu. Trong "Hoa với rượu", người chị xem Nguyễn
Bính không khác Nhi: chợ về mua quà cho cả hai, ngày giỗ cho cả hai
uống rượu... “Chị Nhi thường bảo với u tôi”. Chị nàng và u tôi: Chị ở
đây phần nào đóng vai tṛ của người mẹ trong t́nh cảm người con trai
có cái nhu cầu được ấp ủ.
Nhưng chỉ là người mẹ, không đủ. Bé Bính là thứ bé quá quắt: vừa là em
bé vừa là gă đàn ông phiêu bạt, lăn lóc. Cho nên người chị cũng là
người bầu bạn để nghe Bính trút bầu tâm sự. Khi th́ nói về chuyện đời
lang bạt:
Chị ơi, trôi nổi là thân tôi,
Cánh buồm bạt gió trôi hồ hải.
("Bài thơ vần Rẫy")
Những khi khác, nói về chuyện ái t́nh, đem kỷ
niệm về cô này cô nọ ra nhỏ to với chị. Chị thường chứng kiến bước đầu
một mối t́nh của em (với cô Nhi), dự tính một chuyện nhân duyên cho em
(với cô Ngọc); thậm chí chị cũng là một yếu tố trong hạnh phúc lứa đôi
mà em mơ ước nữa. Em tưởng tượng ngày được chung sống với người yêu
rồi:
Chiều chiều hai đứa sang thăm chị,
Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu.
("Hoa với rượu")
Chiều chiều thăm chị là một h́nh ảnh đẹp
trong trong một cảnh sống hạnh phúc mơ tưởng. Nhưng cái hay nhất ở một
người chị là vừa làm mẹ hiền, làm bầu bạn, chị vừa là một người nữ,
môi son má hồng, đẹp năo nùng!
Chị là thế,thật hay ho và thú vị. Nhưng trên
đời, xưa nay có mấy ai đă làm một nam nhi trưởng thành mà c̣n công
nhiên ṿi chị? Dù là thi sĩ cũng chỉ gọi đến chị... Hằng mà thôi.
Lư Bạch, Đỗ Phủ... không kêu chị; Nguyễn Công Trứ hào hùng không có
thơ cho chị đă đành, mà Nguyễn Du ủy mị, Tản Đà lăng mạn cũng tuyệt
không có người chị “tinh thần” nào; Tú Xương lêu lổng, suốt đời la cà
bên đám đàn bà con gái: "Một trà, một rượu, một đàn bà", nhưng cũng
khó tưởng tượng người thi sĩ ấy xưng em, xưng bé Xương với một người
chị nào.
Trong làng thơ từ trước đến nay chỉ có một “em Bính”. Người chị tinh
thần là một đóng góp hoàn toàn mới lạ của Nguyễn Bính vào kho đề tài
thơ ca ở nước ta và ở nhiều nước ngoài ta.
Nói về Nguyễn Bính, nhiều người vẫn bảo ông
là người dân quê, thơ ông là ca dao, khơi động nếp sống truyền thống,
hồn ông mang cái mộc mạc quê mùa của người nông dân ngh́n đời... Người
ta chỉ chú ư đến cái rất cũ của ông mà không chú ư đến cái rất mới của
ông. Người ta chú ư quá nhiều đến những chỗ ông giống quá khứ, giống
thiên hạ; mà không chú ư đúng mức đến chỗ ông khác lạ, không giống ai.
Không giống ai trong quá khứ, mà cũng không giống ai trong lớp người
sau ông một thế hệ. Thật vậy, cho đến nay có nhà thơ nào chị chị em em?
Không phải rằng con trai không c̣n nhận thấy ở những người con gái hơn
tuổi ḿnh chút ít những nét khả ái, đáng mến đáng quí; cũng không phải
rằng con gái không c̣n cảm t́nh đối với những người con trai kém tuổi
ḿnh ít nhiều. Tuy nhiên một cậu con trai thoáng nghĩ: “Con trai mà
xưng em kể cũng khỉ thật.” Thằng Dũng nào đó tả một đứa học tṛ, thế
mà đối với cô giáo nó thầm yêu, nó c̣n không muốn xưng em. T́m cho
được thơ “chị em”, khó là phải.
T́nh
chị em, trước hiếm sau hiếm, món độc quyền ấy Nguyễn Bính giữ trọn hay
có chia xẻ phần nào cho lớp người đồng thời chăng? Cái khuynh hướng
t́nh cảm nghiêng về người chị là một khía cạnh độc đáo của tâm hồn
người đàn ông ấy, hay là tâm hồn người đàn ông thời ấy?
Cùng thời với Nguyễn Bính, không cùng làm thơ như ông nhưng cùng là
nghệ sĩ, có một ông Nguyễn khác — Nguyễn Tuân — cũng có một bà chị:
chị Hoài. Chị Hoài cũng là bà chị “tinh thần”, và cũng có một dung
nhan xuất sắc với món tóc rất được chú em tán thưởng.
Việc bắt gặp mấy bà chị ấy, chị Trúc, chị Tuyết, chị Hoài... không đủ
để cho chúng ta quyết đoán về đặc điểm tâm hồn của cả một thế hệ.
Nhưng sự việc nhỏ nhặt cũng là việc khác thường, lẽ nào không có chút
ư nghĩa?
Nguyễn Bính than với chị: “trôi nổi là
thân tôi” th́ Nguyễn Tuân cũng nhiều lần
nói về cuộc đời lang bạt kỳ hồ của ông. Về điểm này đời sống của hai
ông Nguyễn có tính cách tiêu biểu. Vào thời ấy, đàn ông đua nhau sống
đời lang bạt, hay mơ ước một đời lang bạt. Lưu Trọng Lư nói đến “nửa
đời phiêu lăng”, Thế Lữ “rũ
áo phong sương trên gác trọ”, nhân vật
lừng lẫy nhất của Nhất Linh — chàng Dũng — cũng như hầu hết các nhân
vật nam phái của Lê Văn Trương... sống một đời phong trần... Hệt
Nguyễn Bính, thanh niên hồi ấy họ hay than văn về chuyện thân thế trôi
nổi đấy (nhất là với đàn bà con gái, hoặc chị hoặc em); nhưng đừng có
ai nghe họ mà lầm: Giúp đỡ họ nơi ăn chốn ở đầy đủ êm ấm, họ oán hận
ngay! Họ vờ than thở mà lấy làm hănh diện về cuộc đời lang bạt ngoài
sương gió.
Họ làm ǵ ngoài sương gió? Có người hé cho thấy mập mờ là hoạt động
cách mạng; có người phân bua vu vơ qua quít là đi theo tiếng gọi của...
hải hồ; có người không giấu nổi rằng sự thực chỉ là đi chơi bời, rượu
chè, hút xách... Dẫu sao, văn chương một thời đă làm cho sương gió có
một bí ẩn thơ mộng, quan niệm một thời đem so sánh cuộc sống bên song
cửa đă ngầm gán cho lối sống người đàn ông hồi ấy một ư nghĩa ngang
tàng, hào hùng, ít ra cũng tŕnh bày một h́nh ảnh nam nhi dạn dày, già
dặn... Và chính lớp đàn ông phong thái dạn dày ngang tàng ấy đă là lớp
đàn ông đầu tiên trong lịch sử nước ta xướng lên việc thờ Nàng.
Người đàn ông dày dạn ngang tàng thời tiền chiến của ta không giống
các bậc tiền bối ở nước ta, ở xă hội phương Đông, nhưng cũng không hẳn
là một sự quái dị. Người ta có thể nghĩ đến những chàng hiệp sĩ đa
t́nh trong các truyện thời Trung cổ ở châu Âu, những anh hùng vô địch,
hoặc xông pha trận mạc, hoặc chém giết quái vật, vượt muôn trở lực
thực hiện kỳ công, để rồi cuối cùng đem thành tích về dâng lên nàng.
Thế rồi, thời đại của con người hùng đă qua, đến bây giờ, nam nữ đă
b́nh quyền, địa vị phái nữ cao vọt lên, đàn bà làm thủ tướng là chuyện
thường, con gái đốt xú-cheng... Bây giờ chuyện thờ Nàng lại thành
huyền thoại lố bịch. Trái lại, con trai thời nay đối với nữ giới lại
có thái độ khinh mạn. Trong nhiều cuốn truyện người ta gọi: đứa con
gái. Ngoài đời không có thần linh đă đành, cũng không c̣n “Nàng”, mà
chỉ có những “em”: em này thơm như múi mít, em kia đáng đồng tiền bát
gạo... Lối nói ngụ ư một sự đánh giá, một ư thức hưởng thụ trâng tráo.
Có thể nữ giới đối với nam phái thời nay cũng có thái độ tương tự, để
cho trọn nghĩa b́nh quyền. Dù sao, đă hết thời của thần linh.
Như vậy, có một điểm khá rơ trong tâm hồn những chàng trai phong trần
thời tiền chiến, ngoài việc yêu đương đến sa lầy trong yêu: ấy là thái
độ trọng vọng đối với gái.
Thái độ ấy không liên hệ trực tiếp với những người chị của Nguyễn Bính,
Nguyễn Tuân. Tuy nhiên cũng có thể nghĩ: Đă thờ nàng được th́ sao lại
không ṿi chị được nhỉ? Một khi phụ nữ đă được suy tôn th́ sự suy tôn,
tùy tuổi tác, tùy trường hợp t́nh cảm... có thể mang nhiều h́nh thức
khác nhau. Dẫu sao sáng kiến tôn xưng những người chị tinh thần cũng
dễ phát sinh ở một thời như thế hơn là những thời kỳ khác, thiếu vị
thần linh đẹp tóc.
Đó là
về thời của Nguyễn Bính, mà chưa có trường hợp của Nguyễn Bính. Về
phần ông, Nguyễn Bính cũng có cái ủy mị khá đặc biệt. Thơ t́nh của ông
có những câu dịu dàng, dễ cảm ḷng đàn bà:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của Trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
("Tương tư")
Nhan đề các thi phẩm của ông liên hệ quá
nhiều đến thân phận đàn bà, có khi cho thấy tác giả tự đồng hoá với
phận gái: "Hương cố nhân", "Người con gái lầu hoa", "Lỡ bước sang
ngang", "Mười hai bến nước"... Con người ủy mị ấy muốn làm cho đáng
thương. Yêu th́ khối người yêu như ông; nhưng ở ông sự yêu đương nhiều
khi có vẻ ǵ qui lụy, tội nghiệp lắm kia:
Nói ra sợ mất ḷng em,
Van em! Em hăy giữ nguyên quê mùa.
("Chân quê")
Con tằm được mấy tiền tơ,
Chao ôi! mà ước mà mơ lấy nàng?
("Nhà tôi")
Hồn anh như hoa cỏ may,
Một chiều cả gió bám đầy áo em.
("Hoa cỏ may")
Ngay khi ông xưng anh mà c̣n thế, huống hồ
khi xưng em. Ông sở trường trong tài gây xúc động bằng cái giọng của
một kẻ bị hất hủi, ruồng rẫy. Từ thái độ tự làm ra đáng thương đến
thái độ làm ra bé bỏng, đâu có xa ǵ?
________________________
[1]Tạp chí Văn, Sài G̣n, 1968.
[2] Như trên.