Bài Hồ Trường
&
Cái chết của Nguyễn Bá Trác
Tại VN, trước 1975 cũng như tại Hải Ngoại, sau 1975, nhiều người biết đến bài
thơ "Hồ Trường" qua giọng ngâm của Đinh Hùng, Hà Phương hay bất cứ một cuộc họp
mặt, sinh hoạt văn nghệ nào, cũng thường nghe nhắc lại bài thơ nầy với tất cả
t́nh cảm của một người "yêu nước, đi làm cách mạng, đem chí trượng phu mà đền
đáp non sông..." nhất là trong hoàn cảnh "nước mất, nhà tan" sau ngày 30 tháng 4
năm 1975, trong các nhà tù cải tạo của CS, chúng tôi cũng thường nghe các bạn tù
đọc hoặc ngâm bài thơ nầỵ Một số người khẳng định tác giả bài nầy là ông Nguyễn
Bá Trác. Nhưng Nguyễn Bá Trác là ai th́ đa số thế hệ từ 1945 trở về sau ít người
biết. Gần đây, qua một bài báo của ông Phạm Hải Hồ, viết tại San Jose ngày
18-07-2002, đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, số số 641 trang 93, cho biết Nguyễn
Bá Trác đă bị Việt Minh giết tại Quảng Ngăi năm 1945 (Ất Dậu) và khẳng định
Nguyễn Bá Trác chính là tác giả bài "Hồ Trường".
Trong bài nầy, chúng tôi xin đặt lại một số vấn đề:
- Tại sao Việt Minh giết Nguyễn Bá Trác tại Quảng Ngăi năm 1945 (Ất Dậu)?
- Cái chết của Phạm Quỳnh và cái chết của Nguyễn Bá Trác có liên hệ ǵ với nhau
?
- Nguyễn Bá Trác thực sự có phải là Việt gian hay không?
- Nguyễn Bá Trác có phải là tác giả bài "Hồ Trường" như lời truyền tụng hay
không?
- Trong lúc bị Pháp lưu đày, cụ Vơ Bá Hạp có gặp Nguyễn Bá Trác tại Thanh Hóa và
từ chối sự giúp đỡ của ông nầy hay không?
- Hai bài báo của Thiên Vũ Vơ Huy Quang và ông Phạm Hải Hồ có liên quan đến ông
Nguyễn Bá Trác và cụ Vơ Bá Hạp có đúng sự thực hay không?
(Góp ư của cụ Vơ Như
Nguyện, trưởng nam của cụ Vơ Bá Hạp về các trường hợp nêu trên)
1. Nguyễn Bá Trác là aỉ
Theo tài liệu của những người đồng hương với ông ở trong nước cung cấp: Nguyễn
Bá Trác, hiệu là Tiêu Đẩu, sinh năm 1881 (Tân Tỵ), tại làng Bảo An, huyện Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xă Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), thi
đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) tại trường Thừa Thiên. Sau đó, ông theo phong
trào Duy Tân và Đông Du do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng, qua
Tàu rồi qua Nhật. Ngày 10-07-1907, Pháp kư với Nhật một hiệp ước thương măi, cho
Nhật vay 300 triệu quan Pháp và dành cho Nhật nhiều quyền lợi khác, v.v. để đổi
lại, Nhật phải trục xuất các thanh niên VN theo phong trào Đông Du, hiện đang
trọ học ở Nhật, phải về nước hoặc đi nơi khác. Cảnh Sát Nhật được lệnh lập danh
sách học sinh VN và thông báo cho họ biết nước Nhật không muốn chứa chấp họ nữa.
Tất cả các nhà cách mạng VN như Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, cụ Phan Bội Châu,v.v. và
các thanh niên VN đang ở Nhật đều bắt buộc phải ra đi, t́m đến một nước khác.
Trước t́nh thế đó, đa số học sinh đều muốn trở về VN, Nguyễn Bá Trác cùng một số
bạn bè chạy qua Trung Hoa, số khác chạy qua Thái Lan. Tâm trạng của thanh niên
VN đi làm cách mạng trong thời gian nầy gặp bước thất bại, đa số bị bắt, bị tù,
bị xử tử hoặc sống thiếu thốn bệnh hoạn, cảm thấy hiện tại quá bấp bênh, vô vọng
...nên đa số muốn trở về VN. Nguyễn Bá Trác cũng ở trong hoàn cảnh đó. Ở Trung
Hoa được ít lâu, v́ cùng đường, Nguyễn Bá Trác đă trở về Hà Nội t́m cách ra đầu
thú với Pháp. Vốn biết ông là một thanh niên có tài, có học nên, vào khoảng
1916- 1918, Pháp đă cho ông làm việc ở Pḥng Báo Chí, Phủ Toàn Quyền Đông Dương
và trao cho phụ trách một tờ báo bằng chữ Hán (tờ Cộng Thị báo). Mục đích của tờ
báo nầy là kêu gọi thanh niên trí thức VN ra hợp tác với Pháp. Năm 1917, Nguyễn
Bá Trác được Pháp đưa qua làm việc với Phạm Quỳnh, phụ trách phần chữ Hán của
báo Nam Phong (do Phạm Quỳnh làm chủ bút). Khoảng 1922- 1932, ông vào làm Tham
Tri Bộ Học ở Huế, (có sách ghi là Tá Lư Bộ Học tức là Phụ Tá cũng như Tham
Tri) Trong thời gian nầy, ông đă biên soạn nhiều tác phẩm bằng Hán văn có
giá trị như:
-Hoàng Việt Giáp Tư niên biểu (2 cuốn, tổng cộng 552 trang) xuất bản năm 1925
tại Huế. (bản dịch do Bộ Giáo Dục VNCH Saigon, 1963) nội dung ghi chép
các biến cố quan trọng xảy ra trong lịch sử nước ta từ thời Hùng Vương về sau,
có tham khảo nhiều tài liệu lịch sử của Trung Quốc, Nhật bản và VN. Sách biên
soạn rất công phụ Sách nầy được biên soạn trong thời gian ông làm việc tại Bộ
Học ở Huế (1923- 1925).
-Cổ học viện thư tịch thủ sách ( 11 cuốn) sách nầy do nhiều người cộng tác biên
soạn, nội dung ghi chép và phân loại các sách vở, tài liệu trong thư viện của
nhà vua tại Huế, nhiều tài liệu cổ rất giá tri.. Sách biên soạn xong năm 1924 .
-Các bài biên khảo bằng Hán văn đăng trên tạp chí Nam Phong như : Hán học Văn
học khảo (thơ, văn từ 1917- 1932), Hàn mạn du kư (1920) , Bàn về Hán học (1920),
Bàn về học thuật nước Tàu (1918), Mấy lời chung cáo với các bạn nhà Nho (1921),
Hương Giang mộng (1920), Ngă An Nam dân tộc Nam tiến chi lịch sử (1921), Nguyễn
Bá Học tiên sinh chi lược sử cập kỳ di ngôn (1921) Lĩnh Nam dật sử nghi án
(1921), Du thanh ḥa kư (1921)...
Sau đó
ông được thăng Tuần Phủ Quảng Ngăi rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, B́nh Định. Tháng 8-
1945, khi Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị bắt và bị xử bắn tại Quảng Ngăị
2. Tại sao Việt Minh (CS) lại xử tử hai Ông Nguyễn Bá Trác và Phạm Quỳnh
trong tháng 8, 1945? Nguyễn Bá Trác có thực sự là Việt gian hay không?
Nguyễn Bá Trác cũng như Phạm Quỳnh là hai người đă ra cộng tác với Pháp, lúc đầu
làm báo: Nguyễn Bá Trác làm báo chữ Hán (Cộng Thị Báo) tại Phủ Toàn Quyền Hà Nội;
Phạm Quỳnh làm chủ bút Tạp Chí Nam Phong (gồm 3 phần: chữ Pháp, chữ Hán và chữ
Việt). Sau đó, cả hai ông đều vào làm việc tại Bộ Học ở Huế: Phạm Quỳnh giữ chức
vụ Thượng Thư và Nguyễn Bá Trác làm Tham Tri (hay Trợ Lư). Xét cuộc đời của hai
ông, chưa có hành động ǵ gọi là "tội ác dă man" đối với đồng bàọ Chủ trương của
hai ông cũng chỉ là hợp tác về phương diện văn hóa, bảo vệ cái di sản văn hóa
của dân tộc (các sách vở bằng Hán văn của tổ tiên để lại). Những công tŕnh biên
khảo, sáng tác của hai ông, ngày hôm nay vẫn c̣n giá trị và được mọi người chú
ư. Chúng ta cũng không thấy được những ǵ là xấu, là có hại...trong các tác phẩm
của hai ông. Ông Nguyễn Bá Trác, trong khi giữ những chức vụ hành chánh như Tuần
Vũ Quảng Ngăi, Tổng Đốc Thanh Hóa, B́nh Định và ông Phạm Quỳnh trong chức vụ Ngự
Tiền Văn Pḥng, Thượng Thư Bộ Học, Thượng Thư Bộ Lại cũng chưa có hành động ǵ
gọi là "dă man, tàn ác" đối với người khác. Chẳng qua cũng chỉ làm nhiệm vụ được
cấp trên trao cho mà thôị. Trong một bức thư đề ngày 02 tháng 10, 2002, gởi cho
người bạn ở Huntington Beach, California, Hoa Kỳ, cụ Vơ Như Nguyện (trưởng nam
của cụ Vơ Bá Hạp) có kể chuyện:
"Khi cụ Phan Bội Châu bị bắt tại Thượng Hải đưa về giam tại nhà giam Hỏa Ḷ (Hà Nội), sau đó đưa về an trí ở Huế (1925)... "Khâm Sứ Trung Kỳ "ủy thác" cho ông Nguyễn Bá Trác (Tham Tri Bộ Học) "t́m nơi ăn ở" hẳn hoi cho cụ Phan. Nhất định là có ẩn ư theo dơi...Trước hết là Quư vị sĩ phu ở Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và một số nhân sĩ phản đối, yêu cầu Bảo Hộ cho quư vị lănh trách nhiệm t́m nhà cửa, nơi ăn chốn ở cho Sào Nam Phan Bội Châu.
Được quư vị trí thức, học giả, thân sĩ khắp 3 kỳ lên tiếng yêu cầu như vậy, nên Khâm Sứ cũng thỏa thuận. V́ nôn nóng, lật đật, quư vị gấp rút mua vội vàng một sở đất gần dốc Nam Giao, trả tiền ṣng phẳng, nhưng đại đa số không bằng ḷng, v́ ai cũng nói rằng Nam Giao xa thành phố, chỗ hẻo lánh, phải đề pḥng mọi bất trắc! Có một vị hảo tâm ở Bến Ngự bán rẻ sở vườn, nên quư vị chọn chỗ nầy". (thư đề ngày 02 tháng 10, 2002 của cụ Vơ Như Nguyện)
Qua đoạn
trích dẫn trên đây, chúng tôi nhận thấy cụ Vơ Như Nguyện đă ghi nhận"có sự nghi
ngờ" đối với ông Nguyễn Bá Trác khi Khâm Sứ Trung Kỳ trao cho ông nhiệm vụ "t́m
nơi ăn chốn ở cho cụ Phan Bội Châu là có ẩn ư theo dơi..." Lúc đó ông Nguyễn Bá
Trác đang làm Tham Tri Bộ Học tại Huế (1925). Nhưng về sau, Khâm Sừ Trung Kỳ
cũng đă "thuận theo" đề nghị của học giả, trí thức và thân hào nhân sĩ ở Huế, Đà
Nẵng, Quảng Nam cũng như cả nước yêu cầu trao việc đó cho họ lo liệụ Như vậy,
vai tṛ của ông Nguyễn Bá Trác trong việc "t́m nơi ăn chỗ ở" cho cụ Phan Bội
Châu, xét ra cũng chẳng có ǵ gọi là "tội ác dă man"; chẳng qua cũng v́ ông có
quen biết với cụ Phan nên mới được Khâm Sứ Trung Kỳ trao cho công tác đó. Việt
Minh lên án hai ông là "Việt gian, bán nước, làm tay sai cho Pháp"...Một ông bị
xử bắn (Nguyễn Bá Trác) và một ông bị chôn sống (Phạm Quỳnh), đó mới là hành
động dă man!
3. Nguyễn Bá Trác có phải là tác giả bài "Hồ
Trường" ?
Cho đến bây giờ, chúng tôi chưa t́m ra bài thơ "Hồ Trường" được chính thức đăng
vào sách văn học trước 1945 hoặc trước 1975 tại VN. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng
có nghe bạn bè ngâm hay đọc bài thơ nầy, hoặc đọc thấy trên báo, nhưng không
biết rơ xuất xứ; và mỗi nơi một khác, có tính cách tùy tiện, tự ư thay đổi một
vài chữ hay một vài câu, khiến cho người đọc không biết đâu là đúng, đâu là saị
Sau đây chúng tôi xin trích lại một trong những bài
Hồ Trường
do
anh em bạn bè nhớ và ghi lại:
Đại trượng phu nào ai hay xé gan bẻ cật phù cương thường.
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương?
Trời Nam ngàn dặm thẳm,
Đất nước một màu sương.
Chí chưa thành, danh chưa đạt.
Trai trẻ chẳng bao lâu mà đầu bạc!
Trăm năm thân thế bóng tà dương!
Vỗ gươm mà hát,
Gơ bầu mà hỏi:
Thiên địa mang mang,
Ai người tri kỷ ?
Hăy lại cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâủ
Rót về Đông phương,
Nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
Rót về Tây phương,
Mưa Tây Sơn từng trận chứa chan.
Rót về Bắc phương,
Ngọn Bắc phong vi vút, cát chạy, đá baỵ
Rót về Nam phương,
Trời Nam mờ mịt.
Có người quá chén như điên, như cuồng.
Nào ai tỉnh? Nào ai say?
Chí ta, ta biết. Ḷng ta, ta haỵ
Nam nhi sự nghiệp: ờ hồ thỉ,
Hà tất cùng sầu với cỏ câỵ
Người ta nói tác giả bài thơ nầy là Nguyễn Bá Trác. Nhưng tôi hỏi các cụ nhà
Nho ở Huế, trong đó có những vị là Thầy dạy của tôi, nhiều người biết ông Nguyễn
Bá Trác, nhưng không ai nghe nói đến bài "Hồ Trường" nầy .Chính cụ Vơ Như Nguyện,
người biết nhiều chuyện xưa liên quan đến các bậc tiền bối cách mạng, mà cũng
không biết ǵ về bài thơ nầỵ (Trong thư đề ngày 02 tháng 10 năm 2002, gởi cho
người bạn ở Huntington Beach, Californiạ Cụ viết: "Bài thơ "Hồ Trường và dinh
Tổng đốc Thanh Hóa dưới thời ông Nguyễn Bá Trác, tôi chưa được nghe".
4. Về hai bài báo của Vơ Huy Quang và Phạm Hải Hồ
Trong tháng 10, 2004, chúng tôi có gặp cụ Vơ Như Nguyện (trưởng nam của cụ Vơ Bá
Hạp) từ Pháp qua thăm. Cụ có trao cho tôi hai tài liệu:
Cả hai
tác giả nói trên đều có đề cập đến trường hợp của cụ Vơ Bá Hạp với nhiều điều
sai lạc quá trầm trọng:
Về quê hương của cụ Vơ Bá Hạp: ông Thiên Vũ Vơ Huy Quang viết: "Ông người
làng Bao Vinh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên" Điều nầy không đúng. Cụ Vơ Bá Hạp
người làng Phong Lâm, huyện Gia Lộc, phủ Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt). Tên
của cụ theo cách đọc ở miền Bắc (quê hương của cụ) là Vũ Bá Hợp chứ không phải
Vũ Bá Hạp. Theo cách đọc ở Huế (và cả miền Trung, miền Nam) th́ tên của cụ là Vơ
Bá Hạp. Khi theo thân phụ (là cụ Vũ Văn Giáp), vào Huế học, cụ đă nhập làng
Dương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên chứ không phải làng Bao Vinh. Từ đó,
cái tên Vũ Bá Hợp đọc là Vơ Bá Hạp. "Trúc Khê"là tên hiệu, không phải bí danh.-
Thông thường, khi tham gia một tổ chức chính trị bí mật hay một đảng cách mạng,
người ta chọn một Bí Danh để liên lạc với nhau trong tổ chức. Đây là cái tên bí
mật, chỉ có người trong tổ chức biết mà thôị Trúc Khê là tên hiệu của cụ Vơ Bá
Hạp, không phải là Bí Danh.
Về cai chết của cụ Vơ Bá Hạp: ông Vơ Huy Quang viết:"Năm 1948, ông bị Pháp bắt và xử tử v́ ông đă ủng hộ phong trào yêu nước đấu tranh chống lại Pháp". Điều này hoàn toàn sai. Cụ Vơ Bá Hạp chỉ bị Pháp bắt vào năm 1906 đến cuối năm 1914 th́ được tha về. Cụ mất tại tư gia ngày 12-11-1948 (12 tháng 10 âm lịch năm Mậu Tư), thọ 72 tuổi. Cụ qua đời v́ bệnh và tuổi già chứ không phải bị Pháp xử tử. Gia Phả họ Vơ (mà chúng tôi đang giữ một bản sao) đă ghi lại đầy đủ các chi tiết nầy.
Về năm mất của cụ Tăng Bạt Hổ: ông Vơ Huy Quang viết;"Năm 1908, Tăng Bạt Hổ qua đời, ông (Vơ Bá Hạp) tự tay lo liệu chôn cất đàng hoàng". Điều nầy hoàn toàn sai, v́ năm 1908, cụ Vơ Bá Hạp đang bị Pháp lưu đày tại trại giam Lao Bảo (thuộc Quảng Trị, giáp biên giới Lào). Theo gia đ́nh con cháu cụ Vơ Bá Hạp cho biết:" Cụ Tăng Bạt Hổ chết tại nhà cụ Vơ Bá Hạp vào năm 1906, một thời gian sau đó, cụ Vơ Bá Hạp bị Pháp bắt". Về ông Nguyễn Bá Trác (Tổng Đốc Thanh Hóa) và cụ Vơ Bá Hạp, ông Phạm Hải Hồ viết:" Nói đến Việt gian th́ thời nào chẳng có. Thời nước ta bị Tàu, Pháp, Nhật xâm lăng, cai trị, cũng vô số tay sai, Việt gian. Thời CS càng nhiều gấp bội, v́ nó cùng ṇi, cùng giống, lại tinh ranh hơn kẻ ngoại xâm. Kẻ thù thường chiêu dụ những người có khả năng chuyên môn về ngành nào đó, hoặc có kiến thức, có ít nhiều danh tiếng để làm tay sai mới đắc lực, chứ dùng dân gà mờ, ngu dốt làm chị .
"Tôi xin kể một chuyện liên hệ đến một nhân vật khoa bảng Hán học, một nhà cách mạng, một tác giả của bài thơ bất hủ c̣n phổ biến rộng răi cho đến bây giờ được nhiều người biết và ca ngợi là quá haỵ Nhân vật đó là ông Nguyễn Bá Trác, từng là nhà cách mạng bôn ba ở hải ngoại để mưu đồ đánh đuổi thực dân Pháp, giành Độc lập, Tự do cho dân tộc. H́nh như ông là nhà cách mạng đồng thời với Phan Bội Châụ Ông Nguyễn Bá Trác là tác giả bài thơ Hồ Trường, chan chứa khí phách của một trượng phu, một chí sĩ yêu nước với tâm tư bi phẫn trước cảnh đất nước đang quằn quại dưới gót giầy sắt của bọn xâm lăng Pháp.
"Đại trượng phu nào ai xé gan bẻ cật. Phù cương thường hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương..." "Vậy mà trong những giây phút yếu ḷng nào đó, khiến cho nhà cách mạng Nguyễn Bá Trác đă về nước hàng phục xâm lăng Pháp và triều đ́nh bù nh́n. Ông được bổ nhiệm làm chức Tham Tri rồi sau làm Tổng Đốc Thanh Hóa ( 2 chức vụ này tương đương nhau, nếu làm việc trong triều th́ gọi là Tham Tri, làm việc ở ngoài triều th́ gọi là Tổng Đốc).
"Trong thời gian làm Tổng Đốc Thanh Hóa, ông Nguyễn Bá Trác can thiệp, vận động với Pháp để Pháp dễ dăi, khoan hồng cho đồng chí cũ của ḿnh là nhà cách mạng Vơ Bá Hạp bị Pháp bắt giam. Ông Vơ Bá Hạp thường được đưa tới dinh Tổng Đốc Nguyễn Bá Trác để dọn dẹp lặt vặt, nhổ cỏ, quét dọn, vệ sinh. Mỗi khi thấy mặt quan Tổng Đốc, ông Vơ lại mắng nhiếc thậm tệ như : anh là tên Việt gian, phản quốc, tay sai thực dân,v.v...
"Quan Tổng Đốc Trác nghe xong chỉ cúi đầu lảng đi, không nói năng ǵ cả. Một bữa ông Hạp được lệnh tha, Tổng Đốc Trác đưa xấp tiền biếu để ông Hạp về với gia đ́nh. Nhưng ông Hạp từ chối,vừa cầm nắm tiền vứt trả vừa buông lời xỉ vả quan Tổng Đốc một lần cuối:"Tôi không thèm nhận những đồng tiền dơ bẩn của anh". Tổng Đốc Trác vẫn im lặng. Sự im lặng này hàm chứa một ư nghĩa rơ ràng: Ông Nguyễn Bá Trác đă biết hối hận, biết sỉ nhục, biết ḿnh đă đi vào con đường sai lầm. Bỏ con đường phi nghĩa, tà đạo, phản bội lại quốc dân, để mưu cầu sự vinh thân, ph́ gia trong hoàn cảnh quê hương đang mắc ṿng nô lệ ngoại xâm.
"Một thời gian sau, ông Nguyễn Bá Trác về hưu, sống ẩn dật trong nhà, không xuất hiện ngoài xă hộị Đến năm 1945, VC lên cướp chính quyền, đă xử tử ngay Nguyễn Bá Trác, cũng như chúng đă xử tử Phạm Quỳnh, Cung Đ́nh Vận,v.v...
"Ấy là
gương mờ đục của một nhân vật Việt gian. Nó trái ngược với tấm gương trong sáng
Phan Bội Châu. Pháp bắt cụ Phan (do tên gian ác Hồ Chí Minh âm mưu mời cụ tới
Thượng Hải, là nhượng địa của Pháp, để diễn thuyết, rồi mật báo cho mật vụ Pháp
biết chương tŕnh, ngày giờ đến bắt cụ Phan để lấy tiền thưởng của Pháp) đem về
Huế an trí. Nhiều lần Pháp dụ dỗ mời cụ Phan giữ chức Thượng Thư Bộ Học trong
triều đ́nh Huế, nhưng cụ vẫn một mực chối từ. "Nói tóm tắt, người Việt nào làm
lợi, thông đồng với kẻ thù bị đồng bào ta gán cho cái tên là Việt gian. Suy cho
cùng ông Nguyễn Bá Trác c̣n có nhất điểm lương tâm, c̣n biết hối hận, biết sỉ
nhục, biết xấu hổ về cái việc hàng Tây và làm quan lớn của ḿnh, c̣n nhận biết
đến cả những lời mắng nhiếc, lăng nhục ḿnh là đúng, ḿnh là sai quấy, nên mới
im lặng để bạn chửi rủa ḿnh". Sở dĩ chúng tôi phải trích lại nguyên văn cả một
đoạn dài như thế để cho người đọc nắm bắt được ư chính của tác giả (Ông Phạm Hải
Hồ). Ư của tác giả là "nói tốt", "vinh danh" cho cụ Vơ Bá Hạp; đồng thời cũng tỏ
ra thông cảm với ông Nguyễn Bá Trác: mặc dù đă ra đầu hàng giặc, nhưng c̣n chút
t́nh cảm với anh em bạn bè, c̣n chút lương tâm, biết xấu hổ, biết hối hận về
những việc của ḿnh đă làm...Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là "nói có sách, mách có
chứng", không thể v́ cảm t́nh mà thêu dệt những chuyện không có thực, nhất là
câu chuyện có liên quan đến lịch sử. Nghiên cứu gia phả và tiểu sử của cụ Vơ Bá
Hạp, cũng như trực tiếp với con cháu của cu.... chúng tôi được biết :- Cụ Vơ Bá
Hạp chưa bao giờ bước chân đến tỉnh Thanh Hóạ Trong thời gian bị Pháp bắt, cụ
chỉ bị dẫn độ đến các tỉnh: Quảng Trị, Quảng B́nh, Quảng Nam, Quảng Ngăi, để đối
chất với những người trong tổ chức cách mạng của cụ, đă bị bắt mà thôi. Sau khi
hoàn thành các cuộc điều tra, cụ bị lưu đày khổ sai biệt xứ tại nhà giam Lao Bảo
là nơi rừng thiêng nước độc, ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Trị, giáp với biên giới
Lào. Ngoài ra, trong gia đ́nh con cháu cụ Vơ Bá Hạp cũng xác nhận tính t́nh tư
cách của cụ là một người ḥa nhă, ăn nói lịch sự, dù bất đồng chính kiến, không
cùng một lập trường, một tổ chức...th́ cụ cũng vẫn giữ lễ độ, đối xử rất đúng
đắn, mà không bao giờ thốt ra lời sỉ nhục kẻ khác. Ngay với người Pháp hay quan
lính VN, khi hỏi cung, cụ cũng trả lời họ rất lịch sư.. Cụ luôn giữ lập trường
cứng rắn, nhưng trong lời nói, cụ luôn tỏ ra nhă nhặn. Cụ bị tù trong thời gian
8 năm từ 1906 đến 1914. Thời gian đó, ông Nguyễn Bá Trạc c̣n ở Nhật, ở Tàu chưa
về nước. Ông hợp tác với Pháp, phụ trách tờ báo chữ Hán của Pḥng Báo Chí phủ
Toàn Quyền Hà Nội từ 1916- 1918, sau đó qua phụ trách phần Hán văn cho Tạp chí
Nam Phong (do Phạm Quỳnh làm chủ bút). Sau đó, ông vào làm việc tại Bộ Học ở Huế.
Cả chục năm sau, ông mới được thăng chức Tuần Phủ Quảng Ngăi rồi Tổng Đốc Thanh
Hóạ Thời gian nầy cụ Vơ Bá Hạp đă ra khỏi tù (từ 1914) và ở Huế, không hề đi đâu
xa. Do đó không thể có chuyện Tổng Đốc Thanh Hóa Nguyễn Bá Trác gặp người tù Vơ
Bá Hạp trong thời gian nầy được.
(Xin xem "Thuyền Ai
Đợi Bến Văn Lâu" của Nguyễn Lư-Tưởng, xb năm 2000 từ trang 27 đến trang 83:
Pḥng Trào Yêu Nước Chống Pháp... phần nói về Vơ Bá Hạp, Tăng Bạt Hổ...)