|
Trước thời kỳ
Bắc Thuộc tổ tiên của người
Việt Nam chúng ta đă có chữ
viết h́nh dạng lăng quăng
như con ṇng nọc mà các học
giả gọi là chữ Khoa Đẩu.
V́ bọn người Tầu đô hộ đă
dùng mọi cách để tiêu diệt
văn hoá của cha ông ta nên
loại chữ đó bị biến mất.
Người Tầu lại dùng mọi cách
để áp đặt văn hoá của chúng
lên dân tộc ta và dĩ nhiên
ghi vào các quyển sử của
chúng rằng người Tầu đă khai
hoá cho dân tộc ta. Những
tiền bối của chúng ta đă sai
lầm về vấn đề nầy. Ngày nay
chúng ta đừng lập lại những
luận cứ sai lầm đó nữa.
Về chữ cổ và văn hoá cổ của
dân tộc ta, nếu quư vị nào
c̣n có th́ xin xem lại các
chương đầu của quyển Cổ
Luật Việt Nam của giáo
sư Vũ văn Mẫu mà bất
cứ sinh viên năm thứ nhất
nào của trường Đại Học Luật
Khoa Sài G̣n đều có đọc và
học thuộc.(
Vị nào c̣n giữ được quyển
sách quư giá nầy xin t́m
cách phổ biến để chúng ta
c̣n giữ được những ǵ là
tinh hoa của dân tộc Việt.)
Mổi lần nhớ tới những bài
học sử mà các thầy giáo ngày
xưa dạy mà tôi ngao ngán v́
đến bây giờ trong và ngoài
nước vẫn c̣n dạy cho trẻ con
Việt Nam những truyền thuyết
và quan niệm sai lạc như:
-
Sai
lạc thứ nhất:
khi
tiếp tục phổ biến quan niệm
tổ tiên của chúng ta gốc là
người Tàu:
Đế Minh, là cháu ba đời của
vua Thần Nông bên Tàu, đi
tuần thú phương Nam, lấy một
nàng tiên ở núi Ngũ Lĩnh
(
hiện nay thuộc tỉnh Hồ Nam
của Tầu)
đẻ ra người con tên là Lộc
Tục. Lộc Tục được phong cho
làm vua phương Nam, xưng là
Kinh Dương Vương và tên nước
là Xích Quỷ. Kinh Dương
Vương lấy con gái của Động
Đ́nh Quân đẻ ra Sùng Lăm sau
nầy có vương hiệu là Lạc
Long Quân. Lạc Long Quân lấy
Âu Cơ
(là con của Đế Lai)
đẻ ra trăm người con. Người
con đầu là Hùng Vương thứ
nhất của nước Văn Lang tức
nước Việt cổ của chúng ta.(Xem
chương 1: Họ Hồng Bàng, Việt
Nam Sử Lược của Trần trọng
Kim hoặc xem Đại Việt Sử Kư
Toàn Thư, Kỷ Hồng Bàng)
Đây là truyền thuyết của
người Tầu nhằm mục đích đồng
hoá dân tộc Việt. Xin đừng
dạy trẻ con Việt Nam như thế
nũa, và chúng ta cũng đừng
nên có thói quen suy nghĩ về
điều nầy như thế nửa. Xin
hăy t́m đọc và dạy con cháu
ḿnh quan niệm đúng đắn về
nguồn gốc của dân tộc, và
thoát khỏi ành hưởng của
người Tầu. Nguồn gốc
chúng ta không phải là người
Tầu. Tổ tiên của chúng
ta đă bị bọn người hung hản
từ phương Bắc, tức là bọn
Hán tộc, tổ tiên của người
Tầu ngày nay, đuổi dần phải
chạy về định cư tại vùng
châu thổ sông Hồng.
(Hảy t́n đọc quyển Cội
nguồn Việt Tộc của Phạm Trần
Anh để có khái niệm nầy)
-
Sai lạc thứ nh́:
là xem các tên Thái Thú có
thủ đoạn như Nhâm Quang,
Tích Diên là những ân nhân
của dân tộc ta trong thời
Bắc Thuộc và nói chung dân
tộc ta chịu ơn khai hóa của
người Tầu:
sử Tầu ca ngợi những Thái
Thú nầy là những ân nhân của
dân tộc ta v́ đă có công "khai
hóa" dân tộc Giao Châu
(tức
dân tộc ta).
Cho đến thế hệ tôi và sau
nầy, hiện nay vẫn c̣n lập
luận như thế. Không có ǵ là
khai hóa cả mà đó chỉ là thủ
đoạn đồng hoá một cách thâm
độc của chính quyền Hán tộc
khi đô hộ tổ tiên của chúng
ta mà thôi. V́ họ dạy chữ là
dạy chữ Tầu và nhồi nhét
phong tục người Tầu vào đời
sống của tổ tiên chúng ta.
Có cái may là dân tộc ta
không bị đồng hoá mà chỉ bị
ảnh hưởng
(khá nặng)
mà thôi.
Ngoài ra, cái gọi là dạy tổ
tiên ta trồng lúa lại là một
luận điệu láo khoét của sử
Tầu. Thoạt tiên những người
Hán không hề biết trồng lúa
nước. Họ là dân du mục từ
phiá Bắc tràn xuống vùng địa
lư của nước Tầu hiện nay
dùng sức mạnh chiếm lấy lănh
thổ của những dân tộc ở đó
và học cách trồng lúa nước
của các dân tộc ở đó, trong
đó có tổ tiên của người Việt
chúng ta. Dĩ nhiên khi phải
chạy dần dần xuống phương
nam và dịnh cư tại đồng bằng
sông Hồng th́ tổ tiên ta đă
biết trông lúa rồi, đâu cần
ǵ phải đợi người Tầu dạy
cho th́ mới biết.
Viết đến đây tôi nhớ đến một
đoạn truyền h́nh ghi lại
phỏng vấn một cô bé sinh
viên người Tầu du học tại
San Francisco đă trả lời
phỏng vấn hỏi suy nghĩ của
cô ta về Tây Tạng, cô ta đă
không ngần ngại trả lời rằng
không có người Tầu th́ không
có Tây Tạng. Đấy tư tường
của bọn người Tầu là như thế.
Đừng để một ngày nào đó
chúng ta phải đau ḷng khi
phải nghe một người Tầu hay
chính một đứa bé người Việt
nói rằng không có người Tầu
th́ không có Việt Nam.
Tôi lại nhớ đến bài pháp
giảng của một vị "cao tăng"
Phật Giáo
(xin miễn
nêu tên),
mà có một thời tôi ngưỡng mộ,
đă nói rằng tại sao lại phân
biệt Tầu hay Việt, phản đối
hành động của người Tầu v́
biết đâu trong kiếp sau ta
là người Tầu. Tôi đă ngao
ngán khi đọc trong sách của
vị cao tăng nầy cái quan
niệm như thế nên giăm bớt đi
ḷng ngưỡng mộ đối với ông
ấy. Khi chủ trương khôi phục
ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử,
không biết ông ấy nghĩ sao
về hành động của vua Trần
Nhân Tôn, người thành lập
ḍng thiền tông nổi tiếng
nầy của người Việt, đă hai
lần anh dũng lảnh đạo toàn
dân đập tan tham vọng xâm
lăng nước ta của bọn Tầu
Nguyên Mông. Nếu vua Trần
Nhân Tông cũng nghĩ như vị "cao
tăng" nầy th́ có lẻ bây giờ
tôi, anh em tôi, đồng bào
tôi nói tiếng Tầu chớ không
c̣n biết tiếng Việt.
Tự nhiên nổi cơn mất th́ giờ
để viết lăng nhăng như thế
nầy trong lúc quỹ thời gian
lại ít. Thôi th́ phải cố
gắng hơn cho những việc c̣n
đang dỡ dang.
Cũng tại cái tự ái dân tộc
nó lớn quá khi nghe hoặc đọc
rằng dân tộc Việt trước thời
Hán Thuộc không có chữ viết
riêng, và thậm chí không có
nền văn minh, văn hóa riêng
đă phát triễn, thậm chí c̣n
hay hơn cả người Tầu.
Vơ Ngọc Bửu
NGUỒN
GỐC CHỮ
QUỐC NGỮ
VỚI ĐẮC
LỘ-
ALEXANDRE
DE
RHODES
Văn tự
là chữ
viết.
Đó là
những kư
hiệu qui
ước,
dùng để
diễn tả
tư tưởng,
hoặc ghi
nhận
những sự
việc
trong
cuộc
sống của
con
người.
Quốc ngữ
là loại
chữ viết
được
dùng
chung
cho một
nước.
1-
LƯỢC SỬ
VĂN TỰ
VIỆT
NAM
Thuở
xưa, từ
thời vua
Hùng
Vương
lập quốc
Văn
Lang, có
lẽ, nước
ta chưa
biết đặt
ra chữ
viết,
cho nên,
lịch sử
đă không
ghi nhận
những
dấu vết
về chữ
viết
nguyên
thuỷ của
Việt
Nam.
Măi đến
lúc Hán
tộc phát
triển,
và cai
trị nước
ta, các
quan
Thái Thú
Trung
Hoa
khuyến
khích
dân ta
học chữ
Hán
(c̣n
gọi là
chữ Nho).
Đến khi
nước Nam
ta giành
được
quyền tự
chủ,
không
c̣n lệ
thuộc
người
Trung
Hoa,
các vua
quan ta
vẫn dùng
chữ Nho
làm văn
tự căn
bản,
trong
việc
hành
chánh và
thi cử.
Mặc dù,
chữ Nho
học viết
từ chữ
của
người
Trung
Hoa,
nhưng
dân ta
có cách
đọc phát
âm riêng
biệt.
Măi về
sau, tổ
tiên ta,
dần dần,
dựa trên
căn bản
chữ Nho,
mà biến
chế ra
một loại
văn tự
riêng
biệt của
nước Nam
ta, được
gọi là
chữ Nôm
(do
chữ Nam
đọc trại
ra).
V́ dựa
trên căn
bản chữ
Nho, cho
nên, chữ
Nôm có
h́nh
dạng
tương tự
như chữ
Nho. Có
những
chữ Nôm
được
mượn hẳn
từ chữ
Nho,
hoặc
dùng âm
của chữ
Nho mà ư
nghĩa
lại khác.
Có
những
chữ Nôm
được
thành
lập bởi
việc
dùng
nghĩa
của chữ
Nho nầy
phối hợp
với âm
của một
chữ Nho
khác.
Do đó,
muốn học
chữ Nôm,
người ta
cần phải
biết chữ
Nho
trước.
Vào đầu
thế kỷ
17, các
nhà
truyền
giáo Tây
phương
đến Việt
Nam, và
bắt đầu
giới
thiệu
đạo
Thiên
Chúa cho
dân ta.
Để
truyền
đạo hữu
hiệu,
việc
dùng chữ
viết là
một yếu
tố rất
quan
trọng,
trong
việc t́m
hiểu
phong
tục tập
quán của
dân bản
xứ, cũng
như việc
phổ biến
tư tưởng,
giáo lư
kinh
sách cho
người
học đạo.
Lúc bấy
giờ, các
giáo sĩ
nhận
thấy chữ
Nho và
chữ Nôm
quá phức
tạp để
học, đối
với đại
chúng
b́nh dân.
Cho nên,
một nhóm
tu sĩ
ḍng Tên,
cùng với
các thầy
giảng
người
Việt Nam
đầu tiên,
đă ra
công
nghiên
cứu, áp
dụng các
mẫu tự
Latinh,
mà ghi
chú cách
phát âm
tiếng
Việt,
để dùng
trong
cách
giao
dịch
hàng
ngày.
Dần dần,
qua
nhiều
năm sắp
xếp và
thực
hành,
các tu
sĩ đă
ghi chú
được tất
cả những
tiếng
nói của
người
Việt,
dựa trên
căn bản
24 mẫu
tự
Latinh
(A, B,
C,...).
Đến khi
Cố Đắc
Lộ
Alexandre
De
Rhodes
góp công
hoàn
chỉnh
chữ quốc
ngữ, với
đầy đủ
các dấu
trầm
bổng như
dấu sắt,
huyền,
hỏi, ngă,
và nặng.
Từ đó,
chữ quốc
ngữ được
thêm
phần
hoàn hảo.
Cho nên,
Cố Đắc
Lộ
Alexandre
De
Rhodes
đă được
xem là
người
đại diện
trong
việc
sáng chế
ra chữ
quốc ngữ
Việt
Nam.
Sau vài
thế kỷ,
chữ quốc
ngữ đă
được phổ
biến
trong
đại
chúng,
từ chính
quyền,
giới
thượng
lưu trí
thức đến
mọi giai
tầng
trong xă
hội, đều
chính
thức
công
nhận chữ
quốc ngữ
là loại
chữ
thống
nhất của
nước
Việt Nam
ngày
nay, dễ
học, dễ
viết
cho mọi
người,
cũng như
đối với
người
ngoại
quốc,
v́ chữ
quốc ngữ
Việt Nam
có cùng
mẫu tự
Latinh,
giống
như hầu
hết các
loại chữ
của các
nước
trên thế
giới.
2-
CÁC
GIÁO SĨ
ĐẦU
TIÊN
SÁNG CHẾ
QUỐC
NGỮ
Theo các
tài liệu
về văn
học chữ
quốc ngữ,
trước
khi
Alexandre
DeRhodes
đến Việt
Nam,
việc
sáng chế
và
truyền
bá chữ
quốc ngữ
đă được
khởi
xướng
bởi các
giáo sĩ
đầu tiên
như :
Giáo Sĩ
Francisco
De Pina
đă nói
thông
thạo
tiếng
Việt từ
năm
1620,
và là
thầy dạy
tiếng
Việt cho
Giáo Sĩ
Đắc Lộ
Alexandre
De
Rhodes.
Giáo Sĩ
Pina
cùng với
3 tu sĩ
ḍng Tên
(Jesuits)
: -Giáo
Sĩ Pedro
Marques
(lai
Nhật),
Thầy
Joseph
(người
Nhật),
Thầy
Paulus
Saito
(người
Nhật),
đă soạn
thảo một
sách
giáo lư
bằng
tiếng
Đàng
Trong
(từ
sông
Gianh
trở vào
Trung).
Vào năm
1621,
Giáo Sĩ
Joăo
Roiz
viết một
bảng
tường
tŕnh
bằng
tiếng Bồ
Đào Nha,
trong đó
có chứa
nhiều
chữ quốc
ngữ.
Năm
1621, Tu
Sĩ
Cristoforo
Borri đă
viết về
lịch sử
truyền
giáo
Đàng Tro
ng bằng
tiếng Ư,
trong đó
có nhiều
chữ quốc
ngữ hơn
bảng
tường
tŕnh
của Joăo
Roiz.
Năm
1626,
Giáo Sĩ
Luis
Gaspar
có viết
một bảng
tường
tŕnh ,
dài 30
trang ,
bằng La
văn,
trong đó
có nhiều
chữ quốc
ngữ, để
gởi lên
Bề Trên
Cả ḍng
Tên,
Mutio
Vieleschi
ở Rome.
Năm
1626,
Giáo Sĩ
Antonio
De
Phontes,
người Bồ,
và Giáo
Sĩ Đắc
Lộ cùng
theo học
tiếng
Việt
với Giáo
Sĩ Bề
Trên
Francisco
De Pina.
Sau
Giáo Sĩ
Đắc Lộ
Alexandre
De
Rhodes,
các vị
Tu Sĩ
sau đây
đă góp
công lớn
vào việc
truyền
bá chữ
quốc ngữ
như :
Thầy
Giảng
Igesiô
Văn Tín,
Thầy
Giảng
Bentô
Thiện,
Giám
Mục
Pierre
Pigneau
De
Béhaine,
Taberd,
Giáo
Sĩ
Philippe
B́nh,
Philippe
Minh, và
hai
văn hữu
Petrus
Trương
Vĩnh Kư,
Paulus
Huỳnh
Tịnh Của.
3-
TIỂU SỬ
CỐ ĐẮC
LỘ
ALEXANDRE
DE
RHODES
( 1591 –
1660 )
Cố
Alexandre
De
Rhodes
có tên
Việt Nam
là Đắc
Lộ, sinh
năm
1591,
tại
Avignon,
Pháp, là
một giáo
sĩ thuộc
ḍng Tên
(Ordre
Des
Jésuites).
Năm
1624,
Ông được
cử đến
Việt
Nam,
giảng
đạo tại
Đàng
Trong
(từ
sông
Gianh
trở vào
miền
Trung).
Sau sáu
tháng,
Ông học
thông
thạo
tiếng
Việt với
Giáo Sĩ
Francisco
De Pina,
và được
cử ra
Đàng
Ngoài
(từ
sông
Gianh
trở ra
miền Bắc).
Sau 3
năm
truyền
đạo
(1627
– 1630),
giáo
đoàn của
ông rất
thành
công, có
rất
nhiều
người
theo đạo,
v́ thế
ông bị
Chúa
Trịnh
Tráng
trục
xuất
khỏi
Việt Nam
năm
1630,
và đi
Macao.
Tuy
nhiên,
sau đó,
ông vẫn
lén lút
ghé qua
Việt Nam
nhiều
lần, để
t́m hiểu
phong
tục tập
quán,
lịch sử
người
Việt
Nam.
Đến năm
1645,
ông trở
về Pháp.
Trong
thời
gian 7
năm
(1631
– 1647),
ông đă
viết
được
nhiều
sách có
giá trị,
trong số
đáng kể
nhất là
cuốn tự
điển
tiếng
Việt,
được
dịch ra
tiếng Bồ
Đào Nha,
và tiếng
Latinh.
Những
sách
viết chữ
quốc ngữ
của ông
được xem
như việc
xây dựng
chữ quốc
ngữ đạt
đến mức
hoàn
chỉnh,
với
những
phiên âm
rất đúng
giọng,
v́ có
thêm 5
dấu trầm
bổng:
sắt,
huyền,
hỏi, ngă,
nặng.
Cũng như,
về cách
chấm câu,
văn phạm,
ông đă
áp dụng
theo lối
hành văn
của
tiếng
Pháp.
Giáo Sĩ
Đắc Lộ
Alexandre
De
Rhodes
đă viết
ba tác
phẩm nền
tảng cho
chữ quốc
ngữ như
sau :
-Dictionarium
Annamiticum,
Lusitanum
et
Latinum
(-Tự
Điển
An-Nam,
Bồ Đào
Nha, và
Latinh)
, in
tại
Roma
năm
1651.
-Sử
Bắc Kỳ
bằng
tiếng
Việt và
được
dịch ra
chữ Pháp
(Linguae
Annamiticae
Seu
Tunkinensis
brevis
declaratio)
, năm
1652.
-Phép
giảng
tám ngày
cho kẻ
chịu
phép rửa
tội mà
beào
(vào)
đạo
thánh
Đức Chúa
Blời
(Trời),
năm 1652
./.
Tác giả
Âu Vĩnh
Hiền
(trích
Hồn Quê)
|