NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ

VỚI ĐẮC LỘ - ALEXANDRE DE RHODES

 

Trước thời kỳ Bắc Thuộc tổ tiên của người Việt Nam chúng ta đă có chữ viết h́nh dạng lăng quăng như con ṇng nọc mà các học giả gọi là chữ Khoa Đẩu. V́ bọn người Tầu đô hộ đă dùng mọi cách để tiêu diệt văn hoá của cha ông ta nên loại chữ đó bị biến mất. Người Tầu lại dùng mọi cách để áp đặt văn hoá của chúng lên dân tộc ta và dĩ nhiên ghi vào các quyển sử của chúng rằng người Tầu đă khai hoá cho dân tộc ta. Những tiền bối của chúng ta đă sai lầm về vấn đề nầy. Ngày nay chúng ta đừng lập lại những luận cứ sai lầm đó nữa.
Về chữ cổ và văn hoá cổ của dân tộc ta, nếu quư vị nào c̣n có th́ xin xem lại các chương đầu của quyển Cổ Luật Việt Nam của giáo sư Vũ văn Mẫu mà bất cứ sinh viên năm thứ nhất nào của trường Đại Học Luật Khoa Sài G̣n đều có đọc và học thuộc.
( Vị nào c̣n giữ được quyển sách quư giá nầy xin t́m cách phổ biến để chúng ta c̣n giữ được những ǵ là tinh hoa của dân tộc Việt.)
Mổi lần nhớ tới những bài học sử mà các thầy giáo ngày xưa dạy mà tôi ngao ngán v́ đến bây giờ trong và ngoài nước vẫn c̣n dạy cho trẻ con Việt Nam những truyền thuyết và quan niệm sai lạc như:
   
 -
Sai lạc thứ nhất:  khi tiếp tục phổ biến quan niệm tổ tiên của chúng ta gốc là người Tàu:

 

Đế Minh, là cháu ba đời của vua Thần Nông bên Tàu, đi tuần thú phương Nam, lấy một nàng tiên ở núi Ngũ Lĩnh ( hiện nay thuộc tỉnh Hồ Nam của Tầu) đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Lộc Tục được phong cho làm vua  phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương và tên nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy con gái của Động Đ́nh Quân đẻ ra Sùng Lăm sau nầy có vương hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ (là con của Đế Lai) đẻ ra trăm người con. Người con đầu là Hùng Vương thứ nhất của nước Văn Lang tức nước Việt cổ của chúng ta.(Xem chương 1: Họ Hồng Bàng, Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim hoặc xem Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Kỷ Hồng Bàng)

 

Đây là truyền thuyết của người Tầu nhằm mục đích đồng hoá dân tộc Việt. Xin đừng dạy trẻ con Việt Nam như thế nũa, và chúng ta cũng đừng nên có thói quen suy nghĩ về điều nầy như thế nửa. Xin hăy t́m đọc và dạy con cháu ḿnh quan niệm đúng đắn về nguồn gốc của dân tộc, và thoát khỏi ành hưởng của người Tầu. Nguồn gốc chúng ta không phải là người Tầu. Tổ tiên của chúng ta đă bị bọn người hung hản từ phương Bắc, tức là bọn Hán tộc, tổ tiên của người Tầu ngày nay, đuổi dần phải chạy về định cư tại vùng châu thổ sông Hồng.

(Hảy t́n đọc quyển Cội nguồn Việt Tộc của Phạm Trần Anh để có khái niệm nầy)


-
Sai lạc thứ nh́: là xem các tên Thái Thú có thủ đoạn như Nhâm Quang, Tích Diên là những ân nhân của dân tộc ta trong thời Bắc Thuộc và nói chung dân tộc ta chịu ơn khai hóa của người Tầu: 

 

sử Tầu ca ngợi những Thái Thú nầy là những ân nhân của dân tộc ta v́ đă có công "khai hóa" dân tộc Giao Châu (tức dân tộc ta). Cho đến thế hệ tôi và sau nầy, hiện nay vẫn c̣n lập luận như thế. Không có ǵ là khai hóa cả mà đó chỉ là thủ đoạn đồng hoá một cách thâm độc của chính quyền Hán tộc khi đô hộ tổ tiên của chúng ta mà thôi. V́ họ dạy chữ là dạy chữ Tầu và nhồi nhét phong tục người Tầu vào đời sống của tổ tiên chúng ta. Có cái may là dân tộc ta không bị đồng hoá mà chỉ bị ảnh hưởng (khá nặng) mà thôi.


 Ngoài ra, cái gọi là dạy tổ tiên ta trồng lúa lại là một luận điệu láo khoét của sử Tầu. Thoạt tiên những người Hán không hề biết trồng lúa nước. Họ là dân du mục từ phiá Bắc tràn xuống vùng địa lư của nước Tầu hiện nay dùng sức mạnh chiếm lấy lănh thổ của những dân tộc ở đó và học cách trồng lúa nước của các dân tộc ở đó, trong đó có tổ tiên của người Việt chúng ta. Dĩ nhiên khi phải chạy dần dần xuống phương nam và dịnh cư tại đồng bằng sông Hồng th́ tổ tiên ta đă biết trông lúa rồi, đâu cần ǵ phải đợi người Tầu dạy cho th́ mới biết.

Viết đến đây tôi nhớ đến một đoạn truyền h́nh ghi lại phỏng vấn một cô bé sinh viên người Tầu du học tại San Francisco đă trả lời phỏng vấn hỏi suy nghĩ của cô ta về Tây Tạng, cô ta đă không ngần ngại trả lời rằng không có người Tầu th́ không có Tây Tạng. Đấy tư tường của bọn người Tầu là như thế. Đừng để một ngày nào đó chúng ta phải đau ḷng khi phải nghe một người Tầu hay chính một đứa bé người Việt nói rằng không có người Tầu th́ không có Việt Nam.


Tôi lại nhớ đến bài pháp giảng của một vị "cao tăng" Phật Giáo
(xin miễn nêu tên), mà có một thời tôi ngưỡng mộ, đă nói rằng tại sao lại phân biệt Tầu hay Việt, phản đối hành động của người Tầu v́ biết đâu trong kiếp sau ta là người Tầu. Tôi đă ngao ngán khi đọc trong sách của vị cao tăng nầy cái quan niệm như thế nên giăm bớt đi ḷng ngưỡng mộ đối với ông ấy. Khi chủ trương khôi phục ḍng thiền Trúc Lâm Yên Tử, không biết ông ấy nghĩ sao về hành động của vua Trần Nhân Tôn, người thành lập ḍng thiền tông nổi tiếng nầy của người Việt, đă hai lần anh dũng lảnh đạo toàn dân đập tan tham vọng xâm lăng nước ta của bọn Tầu Nguyên Mông. Nếu vua Trần Nhân Tông cũng nghĩ như vị "cao tăng" nầy th́ có lẻ bây giờ tôi, anh em tôi, đồng bào tôi nói tiếng Tầu chớ không c̣n biết tiếng Việt.

Tự nhiên nổi cơn mất th́ giờ để viết lăng nhăng như thế nầy trong lúc quỹ thời gian lại ít. Thôi th́ phải cố gắng hơn cho những việc c̣n đang dỡ dang.

Cũng tại cái tự ái dân tộc nó lớn quá khi nghe hoặc đọc rằng dân tộc Việt trước thời Hán Thuộc không có chữ viết riêng, và thậm chí không có nền văn minh, văn hóa riêng đă phát triễn, thậm chí c̣n hay hơn cả người Tầu.

Vơ Ngọc Bửu

 

Vo Signs & Graphics

  * Cell: 408-644-0388

  * Email: Vosigns@yahoo.com



 

NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ VỚI ĐẮC LỘ- ALEXANDRE DE RHODES


  Văn tự là  chữ viết.   Đó  là những kư hiệu qui ước, dùng để diễn tả tư tưởng, hoặc ghi nhận những sự việc trong cuộc sống của con người.  Quốc ngữ là loại chữ viết được dùng chung cho một nước.


1- LƯỢC  SỬ  VĂN  TỰ  VIỆT  NAM


    Thuở xưa, từ thời vua Hùng Vương lập quốc Văn Lang, có lẽ, nước ta chưa biết đặt ra chữ viết, cho nên, lịch sử đă không ghi nhận những dấu vết về chữ viết nguyên thuỷ của Việt Nam.  Măi đến lúc Hán tộc phát triển, và cai trị nước ta, các quan Thái Thú Trung Hoa khuyến khích dân ta học chữ Hán
(c̣n gọi là chữ Nho).  Đến khi nước Nam ta giành được quyền tự chủ, không c̣n  lệ thuộc người Trung Hoa,  các vua quan ta vẫn dùng chữ Nho làm văn tự căn bản, trong việc hành chánh và thi cử.  Mặc dù, chữ Nho học viết từ chữ của người Trung Hoa, nhưng dân ta có cách đọc phát âm riêng biệt.


Măi về sau, tổ tiên ta, dần dần, dựa trên căn bản chữ Nho, mà biến chế ra một loại văn tự riêng biệt của nước Nam ta, được gọi là chữ Nôm
(do chữ Nam đọc trại ra). V́ dựa trên căn bản chữ Nho, cho  nên, chữ Nôm có h́nh dạng tương tự như chữ Nho.  Có những chữ Nôm được  mượn hẳn từ chữ Nho, hoặc dùng âm của chữ Nho mà ư nghĩa lại khác. Có  những  chữ Nôm được thành lập bởi việc dùng nghĩa của chữ Nho nầy phối hợp với âm của một chữ Nho khác.  Do đó, muốn học chữ Nôm, người ta cần phải biết chữ Nho trước.


Vào đầu thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Tây phương đến Việt Nam, và bắt đầu giới thiệu đạo Thiên Chúa cho dân ta.  Để truyền đạo hữu hiệu, việc dùng chữ viết là một yếu tố rất quan trọng, trong việc t́m hiểu phong tục tập quán của dân bản xứ, cũng như việc phổ biến tư tưởng, giáo lư kinh sách cho người học đạo.  Lúc bấy giờ, các giáo sĩ nhận thấy chữ Nho và chữ Nôm quá phức tạp để học, đối với đại chúng b́nh dân.  Cho nên, một nhóm tu sĩ ḍng Tên, cùng với các thầy giảng người Việt Nam đầu tiên, đă ra công nghiên cứu, áp dụng các mẫu tự Latinh, mà ghi chú cách phát âm tiếng Việt,  để dùng trong cách giao dịch hàng ngày.  Dần dần, qua nhiều năm sắp xếp và thực hành, các tu sĩ đă ghi chú được tất cả những tiếng nói của người Việt,  dựa trên căn bản  24 mẫu tự Latinh
(A, B, C,...).  Đến khi Cố Đắc Lộ Alexandre De Rhodes góp công hoàn chỉnh chữ quốc  ngữ, với đầy đủ các dấu trầm bổng như dấu sắt, huyền, hỏi, ngă, và nặng.  Từ đó, chữ quốc ngữ được thêm phần  hoàn hảo.  Cho nên, Cố Đắc Lộ Alexandre De Rhodes đă được xem là người đại diện trong việc sáng chế ra chữ quốc ngữ Việt Nam.  Sau vài thế kỷ, chữ quốc ngữ đă được phổ biến trong đại chúng, từ chính quyền, giới thượng lưu trí thức đến mọi giai tầng  trong xă hội, đều chính thức công nhận chữ quốc ngữ là loại chữ thống nhất của nước Việt Nam ngày nay,  dễ học, dễ viết  cho mọi người, cũng như đối với người ngoại quốc,  v́ chữ quốc ngữ Việt Nam có cùng mẫu tự Latinh, giống như hầu hết các loại chữ của các nước trên thế giới.


2- CÁC  GIÁO  SĨ  ĐẦU  TIÊN  SÁNG CHẾ  QUỐC  NGỮ

 

Theo các tài liệu về văn học chữ quốc ngữ, trước khi Alexandre DeRhodes đến Việt Nam, việc sáng chế và truyền bá chữ quốc ngữ  đă được khởi xướng  bởi  các  giáo sĩ đầu tiên  như : Giáo Sĩ  Francisco De Pina đă nói thông thạo tiếng Việt từ năm 1620,  và là thầy dạy tiếng Việt cho Giáo Sĩ Đắc Lộ Alexandre  De  Rhodes. Giáo Sĩ Pina cùng với 3 tu sĩ ḍng Tên (Jesuits) : -Giáo Sĩ Pedro Marques (lai Nhật),  Thầy Joseph (người Nhật),  Thầy Paulus Saito (người Nhật),  đă soạn  thảo một sách giáo lư bằng tiếng  Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Trung).  Vào năm 1621, Giáo Sĩ Joăo Roiz viết một  bảng tường tŕnh bằng tiếng Bồ Đào Nha, trong đó có chứa nhiều chữ quốc ngữ.  Năm 1621, Tu Sĩ Cristoforo Borri đă viết về lịch sử truyền giáo Đàng Tro ng bằng tiếng Ư, trong đó có nhiều chữ quốc ngữ hơn bảng tường tŕnh của Joăo  Roiz.   Năm 1626, Giáo Sĩ Luis Gaspar có viết một bảng tường tŕnh , dài 30 trang , bằng La văn, trong đó có nhiều chữ quốc ngữ, để gởi lên Bề Trên Cả ḍng Tên, Mutio Vieleschi ở Rome.  Năm 1626,  Giáo Sĩ  Antonio De Phontes, người Bồ, và Giáo Sĩ Đắc Lộ cùng theo học tiếng Việt  với Giáo Sĩ  Bề Trên  Francisco De  Pina.
  Sau Giáo Sĩ Đắc Lộ Alexandre De Rhodes, các vị Tu Sĩ sau đây đă góp công lớn vào việc truyền bá chữ quốc ngữ như :  Thầy Giảng Igesiô  Văn  Tín,  Thầy Giảng Bentô Thiện, Giám Mục Pierre Pigneau De Béhaine, Taberd, Giáo Sĩ  Philippe B́nh, Philippe  Minh, và hai văn hữu Petrus Trương Vĩnh Kư, Paulus Huỳnh Tịnh Của.


3- TIỂU SỬ CỐ ĐẮC LỘ ALEXANDRE  DE  RHODES  ( 1591 – 1660 )  


Cố Alexandre  De  Rhodes  có tên Việt Nam là Đắc Lộ, sinh năm 1591, tại Avignon, Pháp, là một giáo sĩ thuộc ḍng Tên
(Ordre Des Jésuites).  Năm 1624, Ông được cử đến Việt Nam, giảng đạo tại  Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào miền Trung).  Sau sáu tháng, Ông học thông thạo tiếng Việt với Giáo Sĩ  Francisco  De Pina, và được cử ra Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra miền Bắc).  Sau 3 năm truyền đạo (1627 – 1630), giáo đoàn của ông rất thành công, có rất nhiều người theo đạo, v́ thế ông bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất khỏi Việt Nam năm 1630,  và đi Macao.  Tuy nhiên, sau đó, ông vẫn lén lút ghé qua Việt Nam nhiều lần, để t́m hiểu phong tục tập quán,  lịch sử người Việt Nam.  Đến năm 1645, ông trở về Pháp.  Trong thời gian 7 năm (1631 – 1647), ông đă viết được nhiều sách có giá trị, trong số đáng kể nhất là cuốn tự điển tiếng Việt, được dịch ra tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng Latinh.  Những sách viết chữ quốc ngữ của ông được xem như việc xây dựng chữ quốc ngữ đạt đến mức hoàn chỉnh, với những phiên âm rất đúng giọng, v́ có thêm 5 dấu trầm bổng: sắt, huyền, hỏi, ngă, nặng.  Cũng như, về cách chấm câu, văn phạm, ông đă áp dụng theo lối hành văn của tiếng Pháp.  Giáo Sĩ Đắc Lộ Alexandre De Rhodes đă viết ba tác phẩm nền tảng cho chữ quốc ngữ như sau :

      -Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum (-Tự Điển An-Nam, Bồ Đào Nha,  và Latinh) ,  in tại Roma  năm  1651.
      -Sử Bắc Kỳ bằng tiếng Việt và được dịch ra chữ Pháp
(Linguae Annamiticae Seu  Tunkinensis  brevis declaratio) , năm 1652.
      -Phép giảng tám ngày cho kẻ chịu phép rửa tội mà beào
(vào) đạo thánh Đức Chúa Blời (Trời), năm 1652 ./.

 
 

Tác giả Âu Vĩnh Hiền (trích Hồn Quê)