Linh Mục CAO PHƯƠNG KỶ

   Trích Trung Tâm Việt Ngữ

 

Ngày đầu Xuân , chúc Tết cho nhau bằng tiếng Việt, tiếng của Oâng Bà Tổ Tiên là chuyện dĩ nhiên rồi. Nhưng ở đây, có ư nói: thử t́m hiểu xem chữ  "VIỆT" mà ta nói luôn miệng bởi đâu mà ra? Ư nghĩa của nó làm sao? Tại sao thiên hạ gọi ta là người "Việt"?

Ca dao có câu" Chim có tổ, người có tông"

T́m về nguồn gốc dân tộc , ḍng dơi của ḿnh là tâm lư thông thường của người đời, nhất là đối với những người sống xa quê hương làng xóm là nơi có phần mộ ông bà tổ tiên. Tâm trạng "trở về nguồn",  rất thịnh hành tại Hoa Kỳ (coi: phim ROOTS)ø, đặc biệt  đối với những người "công thành danh toại" như  leo lên được chức tổng thống: họ rất hănh diện về nguồn gốc của ḿnh. Cũng v́ lư do đó, đa số dân Mỹ thích du lịch Âu châu, đặc biệt  Anh quốc.Từ ngàn xưa, người dân Việt, dầu "tha phương cầu thực", thành công hay thất bại, vẫn nóng ḷng về thăm quê hương vào dịp Tết, để họp mặt với bà con( Coi: "Dọc đường gió bụi" (Khái Hưng), "Đời mưa gió" (Nhất Linh).

Công tŕnh t́m kiếm những di tích lịch sử từ ngàn năm, vạn năm trước B.C( dấu hiệu quốc tế "Before Christ", có nghĩa trước Chúa Cứu Thế Giáng Sinh), là một công việc khó khăn. Nhưng ngày nay, nhờ những khám phá của Khoa Học như dùng DNA để xác định căn tính (identity) của sinh vật, dùng cacbon 14 để xác định tuổi …nên công cuộc khảo cứu càng thêm chính xác. Trong bài khảo luận này, t́m nguồn gốc của chữ "VIỆT",  đặc biệt căn cứ vào những chứng liệu, khám phá của Khoa Khảo cổ (archeology) tại miền Đông Nam  (trong đó có gốc tích dân Việt thời cổ). Cũng dùng Khoa Ngôn ngữ học, đặc biệt lối chữ "tượng h́nh" (vẽ thành h́nh để coi, đọc) để khảo sát xem chữ "Việt" từ nguyên thủy viết (vẽ) như thế nào, và phát âm ra làm sao?

 

I.- ĐỊA BÀN SINH SỐNG CỦA  NGƯỜI CỔ VIỆT TẠI ĐÔNG NAM Á

Theo tác giả Peter Bellwood trong cuốn sách"Man's Conquest of the Pacific, The Prehistory of Southeast Asia and Oceania" (Oxford University Press,1979), th́ từ gần một thế kỉ nay, các nhà khảo cổ đều đồng ư rằng : toa độ sinh sống của dân vùng Nam-Á, tiếng gọi chung là chủng "BÁCH VIỆT", lan tràn trên một tam giác rất rộng lớn: một cạnh là mạn Nam của Dương Tử  Giang (Yangzijiang) gồm các tỉnh lớn của Trung Hoa ngày nay : từ miền Thượng Hải, Quảng Đông ,Quảng Tây, Vân Nam…và một góc nhọn là miền Thanh Hóa, hoặc xuống tới Sông Mekong, ( miền Lào, bắc Thái lan…). Cũng theo các nhà khảo cổ cho biết, nhờ các  cuộc thám hiểm, khai quật ,  địa bàn hoạt động và di tích của dân Bách Việt rất rộng lớn. Có giả thuyết cho rằng: nguồn gốc dân Bách Việt phát xuất từ miền hải đảo, vượt biển vào định cư tại miền lục địa Trung Hoa, và Bắc Việt . Khắp vùng biển Thái B́nh Dương , dân Bách Việt vượt biển  giao lưu các miền hải đảo như  miền Indonesia, Malaysia, Australia, Micronesia (Guam), Melanesia(New Guinea, New Hebrides, Fiji), tới tận  miền Đađảo (Polynesia), tức là đảo Hawaii ngày nay. Sau năm75,  định cư tại Hawaii, người Việt nhận thấy  nhiều thứ giống quê hương Việt Nam về thảo mộc, cây trái, phong tục như: Người gốc Hawaii, trong các ngày lễ, thổi tù và, vua đóng khố, đội mũ, khoác áo choàng kết bằng lông chim nhiều mầu, tay cầm thanh đao (ŕu), chọi gà…Về thảo mộc, có cây xoài, cây mít,  cây cóc, cây doi (mận), đu đủ, vải ,nhăn, sabôchê, táo, khế ngọt, cây vũ sữa, mảng cầu, na, ổi, chuối, dứa, mía, dừa, bàng, bông sứ (hoa đại), bông bụt( hoa tiêu biểu cho Tiểu Bang),  thông reo, cây đa, cây sao,  bưởi,  tầm giuộc,  soan, phượng vĩ hoa đỏ chói..Các rau thơm ,có đủ loại húng quế, ng̣ gai, đinh lăng, khổ qua, hương nhu, bạc hà, rau muống,, mồng tơi, rau đay, cà, gừng , riềng, giấp cá, lá mơ, tía tô, kinh giới, lá lốt, trầu không, cau, và đặc biệt cỏ may, khoai lang, khoaisọ, khoai môn(món ăn chính ,gọi là  Poi)..Bảo tàng viện Bishop Museum giải thích: Việc giao thông từ  Việt nam đến đảo Hawaii, Marquisas, Tahiti…(hay từ Hải Đảo tới miền Bách Việt), từ ngàn xưa đă có thể thực hiện được nhờ luồng nước biển chạy ṿng quanh từ Vịnh Mă Lai đến Miền Đa đảo rồi quay trở lại, cứ thế luân chuyển cho đến ngày nay. Hawaii nằm trên vĩ tuyến 20, ngang tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Vượt biển bằng loại thuyền "độc mộc, độc bản"( đục rỗng một thân cây)với cán nhô ra để giữ thăng bằng, khi gặp sóng gió. Dưới đây, chỉ xin giới hạn tŕnh bày  mấy công cuộc khảo cổ qui mô và nổi tiếng được các nhà văn hóa công nhận như:

-  Năm 1927-1930, Madeleine Colani đă khởi công thám hiểm và khai quật được những dụng cụ cổ đại  tại tỉnh Ḥa B́nh , phía tây-nam Hà nội, v́ thế đặt tên là "H̉A B̀NH"I, II, III. Có những dụng cụ bằng đá đẽo thuộc thời Cựu Thạch (300.000 năm B.C ),  thời Trung Thạch (10.000B.C), thời Tân Thạch( 5.000 B.C). Nhờ những dụng cụ bằng đá khám phá được, các nhà khảo cổ cho rằng sắc dân Lạc Việt miền Đông nam Á   đă biết trồng tỉa các loại hoa mầu như: cây hạnh nhân, đậu, hồ tiêu, cây trầu,  cau ( tục ăn trầu bắt đầu từ đấy; chỉ có dân vùng Nam Á ăn trầu, dân Hán tộc vùng Tây Bắc (Trung Hoa) không biết ăn trầu)

- Theo các nhà khảo cổ, thời Kim Khí vào khoảng 5000B.C; thời  Kim Khí cực thịnh (khoảng 500.B.C.) của dân Lạc Việt , gọi là"Văn Hóa ĐÔNG SƠN", v́ khám phá được những "TRỐNG ĐỒNG",  tại miền Sông Mă Tỉnh Thanh Hóa, do những cuộc khai quật của M.Pajot năm 1924-8, O. Janse năm 1935-7 và sau này vào năm 1961-2. Theo lịch sử, vào năm 43 A.D( kư hiệu quốc tế Anno Domini, nghĩa là niên hiệu sau Chúa Cứu Thế Giáng Thế) , tướng Mă Viện nhà Hán của Trung hoa đă xâm lăng miền này và cướp  Trống Đồng đem về nước Tàu, cốt để phá hủy "Văn Hóa Lạc Việt", biểu tượng bằng Trống Đồng. Cũng theo các nhà khảo cổ, Trống Đồng Đông Sơn đă lan tràn khắp miền Đông Nam Á, xuống các hải đảo như Mă lai, Nam Dương, Uùc Châu, và khắp vùng Lưỡng Quảng. Những Trống Đồng t́m được hiện nay, th́ kiểu (style) Trống Đồng Đông Sơn là đẹp hơn các nơi khác, mỹ thuật, điêu luyện nhất là Trống Đồng Ngọc Lũ, thuộc Tỉnh Hà Nam. Ngoài Trống Đồng, Văn Hóa Đông Sơn cũng sản xuất ra những loại"R̀U", có trạm trổ các h́nh biểu tượng, người, rồng (giao long), nai. Mục đích của bài này là đi t́m gốc tích  và ư nghĩa của chữ "VIỆT", nên sẽ bàn luận dài ở đoạn dưới, v́ "Việt" chính là "Ŕu" vậy! (Coi:H́nh 1 ở cuối bài).

- Theo tạp chí National Geographic (Vol,139,No.3, March 1971), bài"New Light on a Forgotten Past" của Dr Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học ở Đại Học Hawaii, chuyên nghiên cứu vê tiền sử Đông Nam Á, đă cho ta biết những chứng liệu mới nhất về nguồn gốc văn minh của dân tộc Lạc Việt. Theo giáo sư  thuật lại: vào năm 1963, ông tổ chức một cuộc t́m kiếm cổ vật tại miền bắc Thái Lan, gọi là Non Nok Tha, với sự hợp tác của bộ Mĩ Thuật Thái Lan và Đại Học Hawaii. Sau khi xác định thời gian bằng cacbon14 , giáo sư công bố những kết quả như: một mảnh đồ gốm có in vết vỏ trấu của hột lúa có niên đại gần 3500 B.C., những dụng cụ đồ đồng được đúc vào khoảng 3000B.C, các R̀U đồng được chế tạo ít nhất vào khoảng 2500B.C. Những chứng liệu đó đă được ước lượng thời gian bằng cacbon14 đưa đến những kết luận làm đảo lộn những giả thuyết đă dự đoán từ trước tới nay: Sắc dân Lạc Việt miền ĐÔNG NAM A đă biết trồng lúa và hoa màu, đă biết cách đúc đồ đồng sớm hơn các miền Cận Đông, Aán Độ, Trung Hoa..cả 1000năm trước. Do đó, văn minh của nhân loại không phát xuất từ miền Cận Đông ,Mesopotamie và Ai cập  rồi chuyển sang  Hilạp và La mă, và đến Aán Độ , Trung Hoa, nhưng trước tiên bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á, nơi phát hiện những dụng cụ đồ đá, đồ gốm ở miền H̉A B̀NH, và ĐÔNG SƠN.

 

II .- NGUỒN GỐC CHỮ "VIỆT" BỞI ĐÂU, VÀ NGHĨA LÀ G̀?

Để t́m hiểu nguồn gốc chữ "Việt", ngoài khoa khảo cổ, cũng cần  khoa Ngôn Ngữ học soi sáng nữa. Trong lịch sử các ngôn ngữ, đại khái có hai cách chính  tạo ra chữ viết để đọc: một cách, như chữ Quốc ngữ ta đang dùng,  do sáng kiến của các nhà Truyền giáo Thiên Chúa Giáo, đặc biệt Linh Mục Alexandre de Rhode, ( cũng gọi là Cha Đắc Lộ), đă hoàn chỉnh. Các vị đó đă dùng mẫu tự La mă: a,b,c..để ráp thành vần. Đặc điểm của loại chữ này là giúp "PHÁT ÂM", bằng cách "ĐÁNH VẦN". Cách khác, như chữ Hán(chữ Nho, chữ Tàu), không thể đánh vần được, nhưng nh́n mặt một số chữ, người ta có thể H̀NH DUNG ra một vật ǵ để đoán được ư nghĩa. Loại chữ đó gọi là chữ "TƯỢNG H̀NH". Đó là thứ chữ dùng để viết "Câu Đối", để ngắm h́nh vẽ chữ mà biết được ư nghĩa. Do đó , ngày Tết, cần xin các vị "văn hay chữ tốt" Các Oâng Đồ),viết cho đôi câu đối để treo ở nhà. Cách đây hơn một thế kỷ, nhà bác học, Linh Mục Dr.L. Wieger, S.J đă nghiên cứu nhiều năm về Hán tự ,tại Trung Hoa và đă xuất bản một cuốn: Tầm nguyên về chữ Hán, gọi là:"Characteres Chinois", đă được dịch sang Anh ngữ:"Chinese Characters" (Their Origin, Etymology, History..Dover Publications,Inc,N.Y) . Theo sách đó, th́ chữ Hán được thành lập bằng sáu cách, gọi là "Lục Thư"; ở đây,  ta chú ư đến cách "Tượng H́nh", nghĩa là  những h́nh vẽ thô sơ, đơn giản, một vài nét chấm phá của một chữ, rồi giải nghĩa cách biến dạng đổi h́nh của chữ ấy cho đến mặt chữ hiện tại. Muốn t́m hiểu căn nguyên chữ"Việt", cũng cần tra khảo nhữ bộ Tự Điển hiện đại như: "The Sino Chinese-English Dictoinary 1980 by Sino Publishing Company. Tự Điển này xếp vần a, b, c chữ Latinh, theo các phiên âm được chính phủ, và Đại Học Bắc Kinh chính thức công nhận. Cuốn "Từ Điển Hán-Việt Hiện Đại", Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1994, sách dày 1744 trang. Từ Điển này cũng phiên âm và xếp vần a,b,c chữ Latinh như Tự Điển trên. Căn cứ vào cách "Chiết tự"đặc biệt theo Linh Mục L.Wieger, ta có thể phân giải để t́m nguồn gốc và ư nghĩa nguyên thủy của chữ "VIỆT" biến dạng như sau:

-Như đă tŕnh bày ở trên, chữ "Việt" (hay bất cứ chữ nào) viết theo mẫu tự Latinh a,b,c, là chỉ để đánh vần, tức phiên âm mà đọc. Do đó, mỗi chữ có một giọng đọc (Phiên âm), và một cách viết chính tả, nhưng có nhiều nghĩa khác nhau.Đối với chữ Hán th́ khác một điểm: mỗi chữ có một giọng đọc riêng(tùy theo miền như Quảng Đông, Phúc Kiến, Bắc Kinh..) , nhưng nếu có nhiều nghĩa th́ mỗi nghĩa có một chữ viết khác nhau. Aùp dụng vào việc t́m hiểu chữ "Việt", ta thấy : chữ này có ít nhất 4 ư nghĩa liên quan đến dân Bách Việt, nên cũng có 4 cách viềt chữ Hán khác nhau:

- (Coi: H́nh 1, ở dưới) : 1.a/ là chữ Hán hiện đại; 1.b/ là h́nh vẽ thời cổ. Chữ Hán này được phiên âm ra giọng quan thoại(phổ thông) bằng mẫu tự Latinh:YUÈ, đọc âm sang giọng Việt Nam là "VIỆT". Nếu chia H́nh 1.b/ tách ra hai bộ phận, ta được H́nh 1.c/ giống h́nh cái móc(hook), và chữ 1.d/ là h́nh vẽ cái lao và cái ŕu(halberd), có cái móc ṿng cung ở ngọn,( h́nh cái "R̀U"); riêng chữ Hán này   đọc là "qua", nghĩa là khí giới. Các chữ Hán liên quan đến binh khí đều có kèm theo bộ "qua" này.

 

- (Coi:H́nh 2, ở dưới): 2.a/ là chữ Hán hiện đại; 2.b/ là h́nh vẽ thời cổ, được phiên âm ra mẫu tự Latinh là "YUÈ",đọc ra giọng Việt Nam là "VIỆT", nhưng ư nghĩa khác. Ở đây, "việt "là cái "Phủ việt" (battle-ax); nếu chia chữ 2.b/ làm hai bộ, ta được 2.c/ là bộ kim, nghĩa là kim loại và 2.d/ là chữ "Việt", là cái "Ŕu", như trên.

Các loại R̀U bằng đá đẽo, thờ Cựu Thạch, Trung Thạch, Tân Thạch, và thời Kim Loại, do các cuộc khảo cổ t́m thấy, đều xuất phát từ miền Đông Nam Á của dân Bách Việt. Dưới đây là h́nh Ŕu bằng đồng t́m được ở ĐÔNG SƠN. H́nhA/:  một người đang cầm Ŕu lưỡi xéo cong đang múa nhảy được khắc trên trống đồng Đông Sơn. H́nh B/: hai chiếc ŕu lưỡi xéo cong bằng đồng thời Đông Sơn, trang trí các h́nh vẽ biểu tượng một quan niệm vũ trụ nhân sinh rất cao siêu của dân Bách Việt như: khúc trên diễn tả triết lư Aâm-Dương v́ có 2 con giao long (cá sấu-Rồng )giao 2 chân 2 tay với nhau; khúc dưới biểu dương triết lư Tam-Tài : Thiên-Địa-Nhân, v́ có cặp 3 con thú, và cặp 3 người. Cũng bộc lộ nguồn gốc quan niệm Ngũ Hành về cấu trúc không gian  vũ trụ của dân Bách Việt , miền Nam Á: Hành Thổ, số 5 ở giữa, gọi là Trung Cung ; số 5= 2+3, số 2, số chẵn làÂm, tức là Đất; số 3, số lẻ là Dương, tức là Trời; do đó, dân Bách Việt, chuyên về nghề Nông, trồng tỉa hoa màu, nên rất quí trọng con số 5 chỉ hành Thổ, gọi là soá"tham thiên lưỡng địa(3 trời 2 đất = 3 dương 2 âm).

 

(Coi: H́nh 3, ở dưới). 3.a/ làchữ Hán hiện đại; 3.b/ là h́nh vẽ thời cổ, được phiên âm ra mẫu tự Latinh là "YUÈ", đọc ra giọng Việt Nam là" VIỆT", và có nghĩa là dân miền Lưỡng Quảng của Trung Hoa ngày nay. Dân "Tàu"cũng gọi là "YUÈ",tức "VIỆT". Theo tự điển Khang Hy, nếu chia h́nh 3.b/ ra hai phần ta thấy: ở trên là h́nh 3.c/ là một "bông lúa", tức chữ "MỄ", là lúa gạo, v́ Miền Nam Sông Dương Tư û(hay Dương Tử Giang), dân Bách Việt sống bằng nghề nông; vàh́nh 3.d/ là h́nh vẽ cái "R̀U"có cái móc ṿng cung(cong) Do đó, hai bộ ghép lại có nghĩa dân Việt là dân sản xuất ra dụng cụ "ŔU", chuyên về nghề Nông.

 

(Coi: H́nh 4, ở dưới)  4.a/ là chữ Hán hiện đại; 4.b/ là h́nh vẽ thời cổ, được phiên âm ra mẫu tự Latinh là "YUÈ", đọc ra giọng Việt Nam là "VIỆT" và có nghĩa là "vượt "lên như "siêu việt", vượt qua, nhảy qua.Nếu chia h́nh 4.b/ ra làm hai: bên tả, h́nh 4.c/, là bộ"tẩu", vẽ h́nh người  bước đi, nghĩa là chạy, và bên hữu, h́nh 4.d/ là chữ VIỆT".  

 

Ngày nay dùng chữ Hán này để chỉ người Việt Nam, nước Việt Nam. Theo các sử gia như W.Durant, th́ hướng tiến của người Trung Hoa thời thượng cổ , dân Hán tộc, du mục, đă tiến từ miền Tây Bắc sang miền Đông; và từ nhà Hạ về sau đă từ Bắc Hoàng Hà xâm lăng xuống miền Nam tức miền Dương Tử Giang, xuống tận miền Nam, nơi sinh sống của dân Bách Việt, chuyên về nghề nông. Dân Tây-Hán đă đồng hóa nhiều sắc dân của Bách Việt, chỉ trừ sắc dân Lạc Việt đă lập ra nước Văn Lang của các vua Hùng, ( 2879 B.C), chính là tổ tiên của dân tộc Việt Nam, ngày nay vậy.

Nói tóm lại, tại miền Nam Sông Giang Tử, hàng vạn năm trước khi dân Hán tộc(Trung Hoa) xâm chiếm, và đồng hoá, thỉ đă có dân Bách Việt sinh sống bằng nghề Nông, nghề "Lúa Nước". Dân này cũng đă chế tạo được các dụng cụ có h́nh cái R̀U, bằng đá, vàbằng đồng. Do đó, người ta có thói quen lấy tên dụng cụ để gọi  tên người đă chế tạo hay sản xuất ra nó. Ví dụ: xứ Anh Đào (Nhật), dân Củ Sâm( Cao Ly), tháp Eiffel(Paris, tên kỹ sư )… Tiếng MƯỜNG (cùng một loại với tiếng VIỆT) gọi Vua Việt là "Bua Yịt" (Dịt), hay Yịt Yàng (Dịt Dàng). Bởi vậy, người "Yịt" ,chính là người chế ra vô số những "Ŕu". Dân Hán nghe đọc âm và viết ra chữ Hán (Nho), như ta thấy ngày nay, rồi dân Việt đọc ngược trở lại giọng Hán-Việt thành "Việt".

Để tạm kết , cầu chúc cho đồng hương Việt nam luôn hănh diễn là ṇi giống LẠC HỒNG. Cổ nhân có câu: "Luận cổ suy kim" Lịch sử chẳng qua là tấn tuồng diễn đi diễn lại. Ngàn vạn năm xưa, dân gốc Lạc Việt, đă hùng cứ một phương trời bao la, với một nền văn hóa cao. Nhưng v́ thời vận và không biết giữ Nước (chỉ có người Việt là dân sống nhờ "lúa nước", nên gọi quốc gia là "Nước") , nên đà bị Bắc phương xâm chiếm, và đồng hóa. Gần đây, cũng v́ không biết giữ Nước, nên một lần nữa, tà thuyết cách mạng vôsản độc tài chuyên chính của họ Mao, Bắc phương lại tràn xuống bao phủ dày xéo giang sơn, khiến cho hơn triệu con cháu Lạc Việt một lần nữa, phải bỏ Nước ra đi tán loạn khắp năm châu bốn bể, để được sinh sống trong  không khí Tự Do, Dân Chủ, hy vọng có cơ hội  bảo tồn "tiếng Việt" và Tinh Hoa Văn Hóa của Tổ Tiên. "Quá Tam, Ba Bận" : liệu lần này, con cháu Lạc Việt có thành công trong việc "giữ Nước" hay không? Đây cũng là lời nguyện ước chung của mọi người dân Việt trong ngày Đầu Xuân!

Linh Mục Cao Phương Kỷ

 

    

Việt Sử Bằng Tranh

 

(Việt Sử Bằng Tranh – Vietnamese History do Trần Việt Nam – Cửu Long Giang – Vi Vi thực hiện, nhà xuất bản Việt Long ấn hành năm 2000. Cảm ơn họa sĩ Vi Vi đă có nhă ư để cho Ban Biên Tập TVMY lần lượt đăng tải quyển Việt Sử Bằng Tranh trên trang báo – VTrD)

 

Ngô Quyền

 

Năm 936, Ngô Quyền là rể của Dương Diên Nghệ, tiến binh đánh Kiều Công Tiển để báo thù.

Kiều Công Tiển cầu cứu vua nam Hán bên Tàu. Được dip tốt, vua Nam Hán sai thái tử Hoằng Tháo đem đại quân sang đánh nước ta.

 

Ngô Quyền Phá Quân Nam Hán

 

 Năm 938, quân Nam Hán kéo đại quân vào đến sông Bạch Đằng ở vịnh Bắc việt. Ngô Quyền  nghiên cứu  thủy triều rồi cho đóng cọc nhọn dưới ḷng sông để dụ cho thuyền địch vào. Thuyền địch mắc vào cọc nhọn nên bị ch́m rất nhiều.

Thái tử hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt giết. Quân ta đại thắng, Ngô Quyền lên làm vua.