MẠN ĐÀM VỀ CHỮ VÀ NGĨA
Biên khảo của TRÚC HUY
Mặc dầu được biết anh Nguyễn Tấn Hưng là
một trong những cây bút phong phú hiện
nay ở hải ngoại, đă cho xuất bản một số
văn truyện được nhiều độc giả biết đến
và khen ngợi, song tôi phải thú nhận là
cho đến nay chỉ có cơ duyên đọc mỗi một
tác phẩm gần đây của anh: đó là cuốn
biên khảo ngiên cứu "Một Kỉ Niệm Đẹp"(1)
.
Tuy chỉ biết anh qua công tŕnh ngiên
cứu này, song tôi đă đọc một cách say
sưa và thích thú v́ giọng văn tự nhiên,
tươi mát của anh và nhất là v́ sự nhiệt
t́nh, thiết tha của anh trong công cuộc
t́m ṭi và sáng tạo để t́m ra một phương
pháp xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá
nhân. Sự cố gắng của anh trong công cuộc
t́m ṭi và sáng tạo này không ngoài mục
đích tô điểm và làm đẹp thêm ḍng chữ
Việt mà anh tỏ ra hết sức nâng niu, trân
trọng .
Cuốn biên khảo "Một Kỉ Niệm Đẹp" của
Nguyễn Tấn Hưng đă cho chúng ta cơ hội
học hỏi được ít nhiều về các kĩ thuật
xếp chữ Việt bằng máy điện toán . Anh
Nguyễn Tấn Hưng đă thành công trong nỗ
lực làm đẹp thêm ḍng chữ Việt về phương
diện kĩ thuật .
ooOoo
Sự thiết tha muốn làm đẹp thêm tiếng
Việt c̣n đưa anh đi xa hơn nữa khi anh
đề ngị bỏ dấu hỏi mà chỉ dùng toàn dấu
ngă (xem chương "Đón Xuân, đem tâm t́nh
viết tiếng Việt" (2) ) . Ở nơi chương
này, anh đưa ra bàn căi và thảo luận về
một số í kiến và đề ngị của chính anh và
của một số người khác về các phương thức
nhằm giản dị hoá và thống nhất hoá cách
viết tiếng Việt . Sở dĩ tôi đặc biệt chú
trọng và thích thú khi đọc đến chương
này, là v́ chính bản thân tôi cũng đă
từng thiết tha và mong muốn có một lối
viết chữ Việt giản dị và thống nhất .
Thật ra, nếu đem so sánh chữ viết của ta
với một số chữ viết khác trên thế giới
như Anh ngữ, Pháp ngữ chẳng hạn, chúng
ta hẳn phải tự hào rằng chữ viết của
chúng ta quả thật đă giản dị lắm rồi:
phát âm sao, viết ra như vậy. Tuy nhiên,
tôi thiết ngĩ cũng c̣n đôi ba điều chúng
ta có thể sửa đổi được hầu làm cho chữ
viết của chúng ta được giản dị và hoàn
hảo hơn nữa.
Sau đây là những í kiến và đề ngị mà tác
giả Nguyễn Tấn Hưng đă đề cập đến và đem
ra thảo luận trong chương kể trên:
1 - Trước hết là đề ngị của chính tác
giả về việc bỏ dấu hỏi và chỉ dùng dấu
ngă trong tất cả các trường hợp . Thí
dụ: "biến đỗi" (biến đổi), "thưỡng thức"
(thưởng thức) v. v... Anh đưa ra lí do
v́ hai dấu hỏi ngă phát âm gần như nhau
(nhất là đối với người miền Nam như anh
và cả người miền Trung) . Hơn nữa, theo
anh, dấu hỏi không có trong mẫu tự quốc
tế .
Cũng như sự nhận xét của ông Lê Văn Lân,
trong bài Bạt in ở phần cuối sách3, tôi
thấy lời đề ngị xướng xuất bỏ dấu hỏi
của anh khó có thể được mọi người chấp
nhận, v́ lẽ trong chữ viết của ta, dấu
nào cũng cần thiết và quan trọng cả .
Mỗi một chữ, nếu viết sai dấu, không
những sai lỗi chính tả, mà ngĩa lại thay
đổi hoàn toàn . Lời văn viết ra cần sự
trong sáng và í ngĩa cần được rơ ràng .
Viết sai dấu hỏi ngă, ngĩa của chữ sẽ
thay đổi khác đi, cũng như ngĩa một chữ
sẽ thay đổi khi ta viết cuối chữ có "g"
hay không "g", hay viết cuối chữ bằng
"c" hay "t" v. v... Tóm lại, tuy khi
phát âm, sự phân biệt nhiều lúc không
được rơ ràng và minh bạch cho lắm, nhưng
khi viết ra cần viết đúng chính tả để í
ngĩa mỗi chữ được rơ ràng, sáng sủa, hầu
tránh sự hiểu lầm sai lệch .
2 - Ngoài việc đề ngị bỏ bớt dấu hỏi,
anh Nguyễn Tấn Hưng c̣n đề xướng thay
thế chữ "đ" có nét ngang đặc biệt bằng
chữ "d" thường, và thay chữ "d" thường
bằng chữ "gi" . Anh đưa ra các thí dụ:
"giễ hiểu" (dễ hiểu), "khó dọc" (khó
đọc) v. v...
Thật ra đề ngị này không có ǵ mới lạ .
Việc thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc
biệt bằng chữ "d" thường, trên lí thuyết
tôi cho là rất hợp lí và xác đáng, v́ đa
số các ngôn ngữ trên thế giới đều dùng
chữ "d" (phát âm như chữ "đ" của ta) .
C̣n chữ "d" thường của ta th́ có thể
thay thế bằng chữ "gi" (như đề ngị của
anh Hưng), hay bằng chữ "z" (như đề ngị
của một số người khác), hay bằng chữ "đ"
(nhưng phát âm như chữ "d" thường), trên
lí thuyết tôi thấy cũng hợp lí .
Tuy nhiên, tiếc thay, lời đề ngị thay
thế này lẽ ra phải được đặt ra cho các
vị giáo sĩ tây phương ngay từ hồi thế kỉ
thứ 17, lúc họ mới phát minh ra chữ viết
của ta, hay ít ra cũng trong giai đoạn
đầu, lúc mà chữ quốc ngữ c̣n đang phôi
thai, chưa được phổ biến rộng răi. Bây
giờ, nếu muốn thay thế chữ "đ" có nét
ngang đặc biệt bằng chữ "d" thường cho
phù hợp với cách thức phát âm quốc tế,
th́ thử hỏi các sách vở, tài liệu viết
bằng quốc ngữ mà chúng ta đă có từ hơn
100 năm nay, chúng ta phải giải quyết ra
làm sao? Thôi th́ đành nâng niu chữ "đ"
có nét ngang đặc biệt của ta mà thương
iêu nó vậy!
3 - Một vấn đề khác được tác giả đưa ra
thảo luận: đó là việc nên dùng dấu gạch
nối cho những tiếng phức vận hay những
tiếng ghép, hay là nên viết dính chùm
lại các thành phần của những tiếng này ?
Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được
giải quyết một cách thoả đáng . Một số
học giả (Trần Trọng Kim, Nguyễn Duy Cần
v. v...) thích dùng dấu gạch nối, một số
khác, rất ít, lại thích dùng lối viết
dính lại (Hoàng Văn Chí, Phạm Hoàng Hộ
v. v...), trong khi đó đa số bỏ hẳn dấu
gạch nối, ngĩa là viết rời từng tiếng
đơn vận trong bất cứ trường hợp nào.
Tiếng Việt là một thứ tiếng đơn vận
(monosyllabic). Cho nên dùng dấu gạch
nối cho những tiếng phức vận hay những
tiếng ghép xem ra không cần thiết cho
lắm . Tuy nhiên, khi phiên âm những
tiếng ngoại quốc, dùng dấu gạch nối là
một điều cần thiết . Thí dụ:
"a-xê-ti-len" (acetylene), "Ma-hô-mét"
(Mahomet) v. v... Dấu gạch nối cũng
thường hay dùng cho những tiếng Hán-Việt
(Thí dụ: "giám-sát", "tiêu-chuẩn" v.
v...) .
Điều phải công nhận là khi nh́n một bài
viết hay một trang sách có chi chít
những dấu gạch nối ở mỗi hàng, hay có
những tiếng phức vận hay những tiếng
ghép viết dính chùm lại nhau (Thí dụ:
"hoảdiệmsơn", "pháthành" v. v...), cảm
giác chung không được thoải mái cho lắm,
v́ thiếu tính cách thẩm mĩ, gọn gàn và
sáng sủa.
4 - Trước đây, ông Nguiễn Ngu Í (c̣n kí
biệt hiệu khác là Ngê Bá Lí) cũng có
tham vọng cải tiến và đơn giản hoá chữ
quốc ngự Trong những đề ngị của ông, có
những đề ngị rất hữu lí, và cũng có
những đề ngị khác mà anh Nguyễn Tấn Hưng
cho là "cầu ḱ, quái đản"4 .
Trước hết, trong vần "ngh", ông đề ngị
bỏ chữ "h" mà chỉ giữ "ng" . Thí dụ:
"ngẹn ngào" thay cho "nghẹn ngào", "ngề
ngiệp" thay cho "nghề nghiệp" v. v...
Đây là một đề ngị xét ra rất hữu lí và
xác đáng. Tôi không t́m thấy một lí do
nào buộc chúng ta phải viết "ngh" (khi
nó đứng trước các nguyên âm "e", "ê"
hoặc "i") thay v́ "ng" (khi nó đứng
trước các nguyên âm khác) .
Bỏ chữ "h" trong vần "ngh", sự phát âm
hoàn toàn như nhau, không có ǵ thay đổi
cả . Việc đơn giản hoá và cải tiến chữ
viết của ta, ít ra trong trường hợp này,
là một điều nên làm . Đứng trên b́nh
diện quốc gia, việc bỏ bớt chữ "h" trong
vần "ngh" lại đưa đến cho ta một lợi ích
không thể chối bỏ: lợi th́ giờ (khi viết
hoặc đánh máy), lợi giấy mực (cho tổng
số sách báo in ra hằng năm trong toàn
quốc và tại hải ngoại), lợi sơn dầu (cho
những tấm bích chương, quảng cáo) v.
v...
5 - Một đề ngị khác của ông Nguiễn Ngu
Í: thay thế "y" bằng "i" . Thí dụ: "hi
vọng" thay cho "hy vọng", "kỉ niệm" thay
cho "kỷ niệm" v. v... Việc thay thế "y"
bằng "i" cũng là một đề ngị hữu lí, và
đă được một số học giả ưa dùng lâu nay
(như Nguyễn Hiến Lê, Trúc Thiên v. v...)
.
Phần đông trong chúng ta thường viết li
- ly, qui - quy v. v... mà không theo
một tiêu chuẩn nào nhất định . Thiết
tưởng đă đến lúc chúng ta nên thống nhất
hoá cách dùng "i" và "y" như sau đây:
- viết "i" thay thế cho "y" trong trường
hợp nguyên âm này đứng một ḿnh hay đầu
chữ (Thí dụ: "í kiến", "t́nh iêu" v.
v...), hay đứng sau một phụ âm (Thí dụ:
"hi vọng", "kỉ niệm", "li biệt", "mĩ
thuật" v. v...). Riêng chữ "giặt gỵa"
được xem như là một trường hợp đặc biệt,
v́ nếu viết "gịa" có thể đọc nhầm lẫn ra
"giạ".
- "y" vẫn được giữ nguyên khi đứng sau
một nguyên âm khác như trong các vần
-ay, -ây, -uy (kể cả các vần -uya, uyê-,
-uyn(h), -uyt, -uyu v. v...), hoặc khi
đứng sau vần qu- (kí hiệu phát âm là
/kw-/). Thí dụ: "lay động", "bây giờ",
"nguy hiểm"; "đêm khuya", "tuyên bố",
"tuyết rơi", "màn tuyn", "lưu huỳnh",
"xe buưt", "khuỷu tay"; "quy chế", "cam
quưt" v. v...
Ông Nguiễn Ngu Í đă sai lầm khi muốn
thay thế hẳn "y" bằng "i" . Sự thiếu căn
bản về ngữ âm học đă khiến ông có lối
viết mà tôi cho là lập dị, quái gở, khi
ông viết tên họ của ông là "Nguiễn" thay
v́ "Nguyễn", hay là viết: "thai đổi"
thay v́ "thay đổi" v. v... Cũng v́ tính
lập dị đó mà ông c̣n đề xướng bỏ chữ "u"
trong vần "qu": "qan trọng" thay cho
"quan trọng", "qê hương" thay cho "quê
hương" v. v... Chúng ta đều biết rằng
"q" luôn luôn phải có "u" đi kèm theo để
tạo thành vần "qu" khi ghép vào một chự
Cho nên, cách viết lập dị và quái gở này
chỉ có riêng mỗi một ḿnh người chủ
xướng là ông Nguiễn thực hành mà thôi.
6 - Hiện nay, có người ưa dùng "f" thay
thế cho vần "ph" . Thí dụ: "fi cơ" thay
v́ "phi cơ", "fúc đáp" thay v́ "phúc
đáp" v. v... Tôi công nhận là có phần
giản dị thật. Song có vẻ lai căng, âu
hoá quá, v́ lẽ phụ âm "f" vốn không có
trong mẫu tự của ta.
7 - Riêng về vấn đề bỏ dấu cho các vần
"oa", "oe", và "uy" (kí hiệu phát âm là
/wa/, /we/ và /wi/), trên phương diện
ngữ âm học, tôi đề ngị chúng ta nên chọn
tiêu chuẩn chung là bỏ dấu trên nguyên
âm thứ hai. Thí dụ: "hoà b́nh" (thay v́
"ḥa b́nh"), "khoẻ mạnh" (thay v́ "khỏe
mạnh"), "huỷ bỏ" (thay v́ "hủy bỏ") v.
v...
Trong các kí hiệu phát âm /wa/, /we/ và
/wi/, ta thấy ngay rằng dấu nhấn (các
thanh huyền, sắc, nặng, hỏi, ngă) chỉ có
thể đặt trên các nguyên âm /a/, /e/ và
/i/ mà không thể nào đặt trên phụ âm /w/
được . Tôi nhớ cách đây đă lâu đă có lần
giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đ́nh Hoà
biên thư cho tập san Thế Kỉ 21 lưu í về
việc, trong chữ "toà" của "toà soạn",
toà báo bỏ dấu trên nguyên âm "o" thay
v́ bỏ dấu trên nguyên âm "a", điều mà
ông cho là không được đúng .
ooOoo
Việc đưa ra những í kiến, đề ngị để đổi
mới hầu cải tiến và giản dị hoá tiếng
Việt là một điều cần được khích lệ, nếu
những í kiến, đề ngị đưa ra xét thấy có
phần hữu lí và xác đáng .
Cũng như tác giả "Một Kỉ Niệm Đẹp", tôi
đă đưa ra trên đây một vài í kiến và đề
ngị xây dựng ngơ hầu làm đẹp thêm cho
tiếng Việt . Việc "làm đẹp" này, theo
tôi, là nhiệm vu . chung của tất cả
những ai trong chúng ta hằng có ḷng ưu
tư và thiết tha với ngôi nhà văn hoá
Việt Nam .