Luật hỏi ngă trong chữ Việt

Mar/04/06
 

Như đă tŕnh bày trong một bài trước đây, một từ tiếng Việt chỉ mang một trong số sáu thanh. Thanh là yếu tố định bậc cao thấp trong thang âm sáu bậc của tiếng Việt hiện đại, và là yếu tố cần và đủ để tạo thành ư nghĩa khu biệt của một từ. Sáu bậc cao thấp đó được cụ thể hoá một cách dễ hiểu bằng sáu tiếng sau đây: ngang (hoặc không) - huyền - ngă - hỏi - sắc - nặng. Phân biệt bốn thanh khác không có khó khăn ǵ, nhưng hai thanh hỏi và ngă th́ cần nhiều công phu. Từ nghỉ và nghĩ chẳng hạn, chỉ khác nhau ở một dấu hỏi hay ngă mà làm nên sự khác biệt về ư nghĩa của hai từ đó. So sánh hai câu dưới đây để thấy sự khác biệt giữa hai thanh hỏi và ngă làm nên sự khác biệt ư nghĩa của từ:

  1. Thôi, đừng nghĩ ngợi làm ǵ cho mệt xác !

  2. Thôi chứ, đă hết giờ nghỉ mệt rồi !

Cho nên lầm lẫn dấu hỏi ngă trong những trường hợp như thế sẽ thay đổi hẳn ư nghĩa của từ trong một câu. Phân biệt dấu hỏi và ngă là một việc tương đối dễ dàng đối với người nói giọng bắc, nhưng lại là một việc cần thiết cho những ai nói giọng trung và nam - nghĩa là người phát âm giọng tiếng Việt từ phía nam Thanh Hoá vào trong vùng tây nam bộ. Đối với những người - đàng trong - th́ phân biệt hỏi ngă dựa trên phát âm là chuyện khó chính xác, v́ số từ ngữ tiếng Việt mang dấu hỏi và ngă là một khối lượng khá lớn. Do vậy, nếu nắm được một số những quy tắc hoạt động của thanh hỏi và thanh ngă th́ sẽ giúp giải quyết những khó khăn về dấu hỏi - ngă. 

Trong bài này chúng tôi cố gắng hệ thống hoá lại những nét chính của chính tả dấu hỏi ngă trong tiếng Việt. V́ việc phân biệt hỏi ngă có khác nhau giữa hai loại từ vựng trong tiếng Việt, chúng tôi sẽ chia bài thành hai phần chính: trước hết là phân biệt hai nhóm từ vựng trong tiếng Việt, sau đó mới t́m hiểu cách phân biệt hỏi-ngă trong từng nhóm loại từ vựng này.
 

NHẬN BIẾT MỘT TỪ   TIẾNG VIỆT


Chúng ta biết rằng từ vựng tiếng Việt là tập hợp từ những nguồn khác nhau: nguồn thứ nhất là những từ ngữ rất lâu đời của cộng đồng ngôn ngữ Việt cổ thuộc họ ngôn ngữ Nam A¨; nguồn thứ hai là những từ ngữ vay mượn từ một ngôn ngữ khác, hoặc là từ tiếng Hán (tức là tiếng Hoa nói vào đời Hán), hoăc là từ một ngôn ngữ phương tây gần đây. Như vậy th́ một từ  tiếng Việt có thể là một từ "thuần Việt" (hay có khi c̣n gọi là tiếng nôm), cũng có thể là một từ Hán Việt, hoặc là một từ mới vay mượn từ một ngôn ngữ khác. Mỗi loại từ  trên có những nét tính cách khác nhau về thanh. Nhận biết được một từ là thuộc nhóm từ nôm hoặc từ Hán Việt sẽ giúp giải quyết được một số khá nhiều những trường hợp cần phân biệt dấu hỏi ngă. Nhưng làm thế nào để phân biệt được đâu là một từ thuần Việt và đâu là một từ Hán Việt hoặc một từ vay mượn ?

  1. Từ thuần Việt trước kia thường gọi chung đây là những "tiếng nôm", nói trại từ "tiếng nam", tức là tiếng của người nước Nam - để phân biệt với tiếng nói của người phương Bắc, tức là người Hán. Đó là những từ có thể chuyển đổi thanh theo quy luật hài thanh, hoặc là những từ láy âm theo phép hoà phối ngữ âm. Chẳng hạn, từ nở, nóng, hỏi là những từ thuần Việt, v́ chúng có thể tạo thành những từ láy âm: nở nang, nóng nảy, hỏ han. Một từ như đă, chẳng, dẫu là những từ thuần Việt, v́ chúng có thể chuyển thanh điệu mà vẫn giữ nguyên ư nghĩa: đà, chăng, dầu.
     

     

  2. Từ Hán Việt là những từ đă vay mượn từ vốn từ vựng tiếng Hán từ cả gần hai ngh́n năm trước đây, khi nhà Hán bên Trung Hoa sang đô hộ xứ ḿnh. Số từ Hán Việt đă chiếm quá nửa số vốn từ của chúng ta hiện nay. Có thể nhận biết một từ Hán Việt hay không là nhờ mấy cách như sau:
     

    1. Nếu một chữ hay một tiếng có thể ghép với các tiếng như nhất (một), hữu (có), vô (không), bất (chẳng), th́ từ ấy phải là từ Hán Việt. Vậy th́ từ nhân, ích, đạo, b́nh là những tiếng Hán Việt v́ chúng có thể kết hợp có ư nghĩa với bốn tiếng trên kia: nhất nhân, hữu ích, vô đạo, bất b́nh.
       

    2. Nếu một chữ hay một tiếng có nghĩa nhưng không thể đứng một ḿnh làm thành một từ được mà chỉ có thể làm thành một thành phần của từ mà thôi, th́ đó là một chữ Hán Việt. Ví dụ: những tiếng quốc (nước), gia (nhà), sơn (núi), hà (sông), nhất (một), nhị (hai),& thường chỉ ghép chúng với một tiếng khác chứ không thể dùng riêng rẽ được. Chẳng hạn, để nói ư "hai quả núi", người Việt không thể nói nhị núi hoặc hai quả sơn; cũng thế, có thể viết là nhất gia, sơn hà, nhị nhân... nhưng không thể nói một gia, núi hà, hai nhân. Vậy th́ những tiếng quốc, gia, sơn hà, nhân, nhất, nhị là những tiếng Hán Việt.
       

    3. Nếu gặp một chữ hoặc một tiếng mà ta không hiểu nghĩa, nhưng ta lại biết rằng chúng có thể ghép chung với hai từ mà lại có cùng ư nghĩa, th́ đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: ta gặp từ trường sinh mà ta không biết tiếng trường là ǵ, nhưng biết là nó ghép chung với hai tiếng khác (trường dạ, trường kỉ), th́ có thể đoán biết là trường là một tiếng Hán Việt có nghĩa là "dài"; hoặc là đọc đến mấy chữ tác nghiệp, ta không hiểu tác là ǵ, nhưng biết là có sáng tác, tác giả, th́ đoán biết tác là một tiếng Hán Việt, có nghĩa đại khái là "làm ra cái ǵ đó".
       

    4. Nếu một tiếng nào đó mặc dù quen dùng riêng rẽ trong lời nói hằng ngày, nhưng lại thấy chúng thường ghép trong ít nhất là hai từ Hán Việt, th́ tiếng hoặc chữ đó là một tiếng Hán Việt. Ví dụ: tiếng học là một từ quen dùng. Tiếng này có thể gặp trong những từ Hán Việt như học sinh, đại học, học vị. Vậy th́ tiếng học là một tiếng Hán Việt. Thí dụ khác: tiếng chúng có thể gặp trong các từ Hán Việt như quần chúng, chúng sinh..., vậy th́ chúng cũng là một tiếng Hán Việt.
       

  3. Từ vay mượn: là những từ ngữ vay mượn từ vốn từ vựng của các ngôn ngữ khác, cụ thể là các ngôn ngữ phương tây. Từ khi giao tiếp với phương tây đến nay, tiếng Việt đă đưa vào kho từ vựng của ḿnh những tiếng như xà pḥng, (áo) sơ mi, xi măng, (dầu) xăng, cao bồi, (trái) bom, phim, (xe) ô tô, cuốc (xe), (bà) đầm, (bánh) quy, (nhà) băng, két (bạc), (kinh) xáng. Những tiếng vay mượn này hoặc được phiên âm trực tiếp từ một từ ngữ phương tây (xi măng <cement>, bom <bombe>, phim <film>, ô tô <auto>, băng <banque>), hoặc được đọc trại âm theo lối phát âm của người Việt (xà pḥng <savon>, sơ mi <chemise>, xăng <essence>, cao bồi <cow boy>, cuốc <course>, đầm <dame>, (bánh) quy <biscuit>, két <caisse>, (kinh) xáng <chaland>). Những tiếng vay mượn này được cố gắng Việt hoá, cho nên cũng mang tất cả các thanh của tiếng Việt.
     

DẤU HỎI NGĂ ĐỐI VỚI TIẾNG THUẦN VIỆT
 

Một tính cách rất nổi bật của tiếng Việt là tính cách hoà phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép mà chúng ta thường gọi là từ láy. Những từ có hai âm tiết láy với nhau khi một hay nhiều thành phần âm tiết của hai âm tiết đó lặp lại giống hệt âm kia (gọi là điệp âm), hoặc kết hợp với âm kia theo một trật tự nào đó. Một vài thí dụ về từ láy: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ... Hiện tượng láy từ có tác dụng trước hết là sự cân đối, sự hài hoà giữa các âm tiết của từ. So sánh hai câu dưới đây:

       2a     Căn nhà này khá rộng.
       2b     Căn nhà này khá rộng răi. 

Cả hai câu nói đều đúng cách nói thông thường. Nhưng khi nói rộng răi như trong câu 2b th́ nghe êm ái hơn, dễ nghe hơn, và do đó được chuộng hơn. 

Xem thế th́ hoà phối ngữ âm là sự kết hợp hài hoà giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng. Hoà phối ngữ âm có thể thực hiện ở cả bốn thành phần âm tiết của từ:

         Láy âm đầu: lững lờ, lờ vờ, lụng thụng
         Láy âm chính: đo đỏ, gồ ghề, chúm chím, nhơng nhẽo
         Láy âm cuối: mũm mĩm, hầm hập, ươn ướt
         Láy thanh: thênh thang, vàng vọt, lả lơi, ngả ngớn

Ở đây chúng ta chỉ chú ư đến sự hoà phối ngữ âm về mặt thanh điệu. Sự phân bố cân phương này được gọi là luật hài thanh . Luật hài thanh được thể hiện qua hai hiện tượng liên quan đến hoạt động của thanh điệu tiếng Việt:

  1. Trước hết là sự hài thanh giữa hai âm tiết của từ láy: đây là sự phân bố cân đối giữa các thanh giữa hai âm tiết của một từ kép thành từng đôi một trong mỗi nhóm dưới đây:

           Nhóm thứ nhất (thanh bổng): ngang - hỏi - sắc 
           Nhóm thứ nh́ (thanh trầm): huyền - ngă - nặng 

    Theo bảng trên đây, hai từ thuộc nhóm thứ nhất có thể mang một trong ba thanh:
     

    • Ngang - hỏi: lửng lơ, thơ thẩn, sang sảng

    • Hỏi - sắc: lở lói, ngả ngớn, vắng vẻ, gắng gỏi,

    • Ngang - sắc: diêm dúa, nghe ngóng, mang máng, líu lo, thối tha

    Ba thanh thuộc nhóm thứ nh́ được phân bố kết hợp như sau:
     

    • Huyền - ngă: ầm ĩ, lờ lững, ṿi vĩnh, ỡm ờ, thẫn thờ,

    • Ngă - nặng: kĩu kịt, nũng nịu, nhăo nhoẹt, hợm hĩnh, đẹp đẽ

    • Huyền - nặng: mờ mịt, vàng vọt, lặng lờ, mặn mà
       

  2. Luật hài thanh c̣n thể hiện cả trong hiện tượng chuyển thanh điệu của một số từ. Tiếng Việt có nhiều từ biến đổi thanh mà vẫn không đổi ư nghĩa sang một từ khác. Hiện tượng chuyển đổi thanh trong tiếng Việt cũng theo phép hài thanh, nghĩa là các từ chuyển thanh theo hai nhóm mà Lê Ngọc Trụ (1959) tóm lại thành hai mô h́nh mà ông gọi là tan - tán - tản và lăi - lời - lợi. Phép chuyển thanh này như sau:

    Đổi thanh theo mô h́nh tan - tán - tản (nhóm ngang - hỏi - sắc). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:

     chăng - chẳng

     lén - lẻn

     rảy - rưới

     chưa - chửa

     lỏm - lóm

     túa - tủa / toả

     không - hổng

     thoáng - thoảng

     há miệng - hả miệng

     phản - ván

     ham - hám

     nói hở - nói hớ

     tan - tản

     bấu - bâu

     vểnh mặt - vênh mặt

    Đổi thanh theo mô h́nh lăi - lời - lợi (nhóm huyền - ngă - nặng). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp: 

     đă - đà

     ngỡ - ngờ

     chậm răi - chẫm răi

     lời - lợi

     cội - cỗi

     ướt đẫm - ướt đầm

     dẫu - dầu

     c̣i - cỗi

     đen sậm - đen sẫm

     cũng - cùng

     đỗ - đậu

     xoă tóc - xoà tóc

     (sông) Nhị - (sông) Nhĩ

     thơng - tḥng

     ăn ruỗng - ăn ruồng

     

  3. Ngoài ra, có một số từ Hán Việt và tiếng thuần Việt dường như có liên quan, gần gũi với nhau . Những trường hợp vay mượn qua lại như thế cũng tuân theo phép hài thanh của tiếng Việt, nghĩa là cũng theo một trong hai mô h́nh tan - tán - tản và lăi - lời - lợi. Dưới đây là một vài thí dụ về sự giao tiếp ngôn ngữ như thế:

     huyền - ngă - nặng

     ngang - hỏi - sắc

     cưỡng - gượng

     thiểu - thiếu

     trữ - giữ

     thố - thỏ

     đăi - đợi

     xả - xá

    Biết được tính cách của luật hài thanh th́ chúng ta có thể nêu lên thành luật gọi là "luật hỏi-ngă của các tiếng nôm" như sau:

     Luật 1

    khi hai tiếng có thể láy được với nhau th́ hễ một tiếng mang dấu ngang (không dấu) hoặc dấu sắc th́ tiếng kia phải mang dấu hỏi; ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng th́ tiếng kia phải mang dấu ngă.

     Luật 2

    một từ có thể chuyển thanh điệu sang ngang hoặc sắc th́ chắc chắn là mang dấu hỏi (theo mẫu tan - tán - tản); ngược lại, một tiếng có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng th́ chắc chắn là có dấu ngă (theo mẫu lời - lăi - lợi).

    Hai luật hỏi ngă này có thể giúp giải quyết được một số khá lớn các trường hợp mà người viết đang c̣n phân vân không biết nên bỏ dấu hỏi hay dấu ngă. Chẳng hạn, khi phải viết câu dưới đây, người nói giọng đàng trong có thể phân vân không biết bỏ dấu hỏi ngă thế nào:

           3a     Chị gói thịt ra rồi ngao ngán thơ dài.

    Có thể dùng phép hài thanh (ngang hỏi sắc-huyền ngă nặng) để t́m ra được rằng: tiếng Việt có nói mở mang (làm cho rộng ra) theo luật ngang-hỏi-sắc, và có mỡ màng (có nhiều chất dầu, mỡ) theo luật huyền-ngă-nặng; lại cũng có thở than (than văn chuyện ǵ) mà không có *thỡ (viết với dấu ngă). Vậy câu 3a bỏ dấu hỏi ngă như sau:

           3b    Chị mở gói thịt mỡ ra rồi ngao ngán thở dài.

    Một thí dụ khác là khi viết câu dưới đây:

           4a    Đứa bé đa ăn no rồi mà vân chưa chịu đi ngu.

    Chúng ta biết là từ đă ở đây phải bỏ dấu ngă v́ cũng có thể nói đà mà câu vẫn không đổi nghĩa. Từ vẫn mang dấu ngă v́ phó từ này không có thể nhầm lẫn với từ vẩn - Có nghĩa là chất cặn bẩn, hoặc từ vẩn vơ (có nghĩa là tâm trạng không dứt khoát) theo luật ngang-hỏi-sắc. Từ ngủ ở cuối câu th́ chỉ có thể láy thành ngủ nghê theo luật ngang-hỏi-sắc, nên phải mang dấu hỏi. Vậy th́ câu 4a được viết hoàn chỉnh như sau:

           4b    Đứa bé đă ăn no rồi mà vẫn chưa chịu đi ngủ.
     

  4. Ngoài ra, cũng nên biết thêm là người Việt - nhất là người miền Nam - hay nói gộp các tiếng hai âm tiết thành một trong những trường hợp sau đây: phải không > phỏng, bà ấy > bả, ở bên ngoài ấy > ở ngoải, hôm ấy > hổm, năm ấy > nẳm, hồi ấy > hổi [7]. Tất cả những tiếng nói gộp trên đây đều mang dấu hỏi. Vậy th́ có luật 3 như sau:
     

     Luật 3

     Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi


     

     

  5. Trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại c̣n có một nhóm nhỏ những từ ngữ nước ngoài nhưng đă được chuyển sang giọng đọc tiếng Việt. Các tiếng vay mượn thường được phiên chuyển sang thanh hỏi: moả (< moi), xừ luỷ (< lui), đi rỏn (< ronde), sở cẩm (< commissaire de police), làm cỏ vê (< corvée). Vậy có thể nêu thành luật cho loại từ ngữ này như sau: 
     

     Luật 4

    các tiếng vay mượn từ tiếng nước ngoài và đă chuyển sang giọng tiếng Việt, th́ thường viết với dấu hỏi.

     

DẤU HỎI NGĂ CỦA TỪ HÁN VIỆT
 

Như đă nói ở trên, nhận biết được một từ Hán Việt sẽ có lợi rất lớn là phân biệt được một phần khá lớn những từ mang dấu hỏi ngă thuộc nhóm từ Hán Việt. Giở từ điển Hán Việt, ta có thể thấy là:

(1) Những từ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm d, l, m, n. nh, ng, v thường viết dấu ngă . Có khoảng 180 từ Hán Việt mang dấu ngă. Ví dụ:
 

 Phụ âm d: dă, dĩ, dũ, dữ. 

 Phụ âm l: lăo, lễ, lỗ, lữ

 Phụ âm m: măo, mănh, mẫn, mỗ

 Phụ âm n: năo, nễ, nỗ, nữ

 Phụ âm ng: ngă, ngỗ, ngũ, ngữ 

 Phụ âm nh: nhă, nhĩ, nhũ, nhữ

 Phụ âm v: vẫn, vĩ, viễn, vũ


(2) Ngoài những trường hợp kể trên, các từ Hán Việt khác bắt đầu bằng các phụ âm khác đều viết dấu hỏi, trừ những lệ ngoại sẽ nói ở dưới. Ví dụ về các từ Hán Việt có dấu hỏi:
 

Nguyên âm:

 ả, ảo, ẩn, yểu, uẩn, uỷ.

 

Phụ âm

 

b

 bảo, bỉ, bỉnh, bổng, bửu

c/k/q

 cảo, cổ, củ, kỉ, kiểu, quả, quản, quảng, quỷ

đầu ch

 chỉ, chiểu, chuẩn, chủng, chử

đầu đ

 đả, đẩu, để, điểu, đổ 

gi

 giả, giảo, 

h

 hảo, hỉ, hổ, hủ

đầu kh

 khả, khẩu, khổ, khởi

ph

 phả, phỉ, phổ

s

 sỉ, sổ, sửu

t

 tả, tảo, tể, tỉ, tổ, tử

th

 thải, thổ, thủ, thưởng

tr

 trảo, trảm, triển, trưởng

x

 xa, xả, xảo, xỉ, xử


Nhóm thứ nh́ này có khoảng 30 trường hợp ngoại lệ, cần nhớ thuộc ḷng. Dưới đây là bảng liệt kê các từ đó với những thí dụ về từ ghép đặt trong ngoặc:

Phụ âm

 

b

 băi (băi thị, băi nại), bĩ (bĩ vận), 

c

 cữu (linh cữu), cưỡng (cưỡng đoạt) 

đ

 đăng (khoáng đăng), đễ (hiếu đễ), đỗ (Đỗ thị)

h

 hăm (hăm hại), hăn (hăn hữu), hoăn (hoăn binh), hĩ (một tiếng đệm), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn hợp, hỗn mang), huyễn (huyễn mộng), hữu (bằng hữu)

k

 kĩ (ca kĩ, kĩ thuật, kĩ xảo)

ph

 phẫn (phẫn nộ), phẫu (giải phẫu)

d

 quẫn (quẫn bách), quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, thủ quỹ)

s

 sĩ (bác sĩ, viện sĩ), suyễn (suyễn tức, suyễn yết) 

t

 tiễn (tiễn biệt), tĩnh (tĩnh mịch), tuẫn (tuẫn tiết)

th

 thuẫn (mâu thuẫn), thũng (phù thũng)

tr

 trăi, trẫm, trĩ (ấu trĩ), trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ)

x

 xă (xă hội, xă tắc)


Từ hai điểm trên, chúng ta có thể nêu lên hai luật hỏi ngă dành cho tiếng Hán Việt như sau:

 Luật 5

các từ Hán Việt có phụ âm đầu d, l, m, n, nh, ng, v đều có dấu ngă.

 Luật 6

các từ Hán Việt khác có thanh hỏi. Trừ khoảng 30 trường hợp ngoại lệ.


Tóm lại, viết dấu hỏi ngă tiếng Việt cho dù phức tạp nhưng vẫn có những lề luật từ tự thân tiếng Việt. Những mẹo luật mà Nguyễn Đ́nh và Lê Ngọc Trụ đă phát hiện và được nhắc đến ở đây chẳng qua chỉ là những phát hiện những quy luật ẩn dấu trong hoạt động ngôn ngữ mà thôi. Để có thể áp dụng sáu "luật hỏi ngă" trên đây, cần đến công phu thực tập đều đặn trong một thời gian đủ để chiêm nghiệm những quy luật được thể hiện qua thực tiễn ra sao.

Trong t́nh h́nh dạy và học tiếng Việt tại hải ngoại hiện nay, việc phân biệt dấu hỏi và dấu ngă là một công việc khó khăn. Nhưng đây cũng lại là một việc cần thiết vô cùng, v́ đó là một trong những công việc cần thiết để nâng cao tŕnh độ hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ của tiếng Việt. Có thể là chuyện viển vông khi nói đến chuẩn mực ngôn ngữ ở hải ngoại lúc này, nhưng đây lại là nhu cầu chính đáng của lớp trẻ ngày càng đ̣i hỏi phải nh́n lại cho rơ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ. Đó cũng chính là mục đích của chính tả vậy.

 
Đoàn Xuân Kiên

Luân Đôn
 


 

 Tài liệu:

  • Lê Ngọc Trụ (1959): Chánh Tả Việt Ngữ. (bản in ḱ 2). Sài G̣n: nxb. Trường Thi

  • Nguyễn Đ́nh (1939): Luật Ngă Hỏi, tạp chí Tao Đàn (Hà Nội), bộ mới, số 8, ngày 16.6.1939

  • Phan Ngọc (1982): Chữa Lỗi Chính Tả Cho Học Sinh. Hà Nội: nxb. Giáo Dục

Ghi chú:

[1] Đoàn Xuân Kiên, "Bàn về việc đánh dấu thanh tiếng Việt", in trong tập san Định Hướng số 17 (mùa thu 1998), tr. 109-121.

[2] Tiếng Việt hiện đại có khoảng 2000 từ mang dấu hỏi, và khoảng trên 1000 từ mang dấu ngă.

[3] Nói về hiện tượng vay mượn th́ cần chú ư riêng đến vốn từ ngữ mượn từ tiếng Trung Hoa do người Hán đem sang từ khi họ đô hộ nước Việt cổ. Trong một thời gian dài cả ngh́n năm, tiếng Hán đă trở thành một thứ ngôn ngữ chính thức trong xă hội Việt. Đến khi nước ta giành lại nền độc lập (năm 939) th́ tiếng Hán vẫn là thứ văn tự chính thức trong hành chính và giáo dục. V́ thế mà chúng ta gọi kho từ ngữ Hán dùng tại nước ḿnh là tiếng Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại rất là đặc biệt, khác hẳn với một số nhỏ những từ ngữ mượn từ các ngôn ngữ phương tây về sau: đă từ lâu đời rồi, ngôn ngữ văn hoá của người Việt không thể thiếu vốn từ Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt trong chừng mức nào đó tương tự như tiếng Latin trong các ngôn ngữ Ấn-Âu vậy. Trước đây, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam toan loại bỏ chỗ đứng của từ Hán Việt. Nay th́ họ lại rơi vào một quá khích khác, là dùng nhiều từ Hán Việt đến mức làm cho tiếng Việt nhiều khi tối tăm, nặng nề. (Báo Nhân Dân có thừa những dẫn chứng cụ thể về chuyện này). Chúng ta không sùng bái nhưng cũng không thể có thái độ ḱ thị đối với tiếng Hán Việt. Vả chăng, số vốn từ vựng Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại chiếm đến khoảng 60% từ ngữ, th́ thái độ chính đáng của bất cứ ai quư trọng tiếng Việt là cần phải học hỏi và trau giồi vốn từ Hán Việt.

 Cần lưu ư là trong lối nói thông thường hiện nay có khi chúng ta nói bất kể nhưng đây là trường hợp nói sai quy tắc, v́ kể không phải là từ Hán Việt.

 "Luật" này đă được một nhà giáo trẻ -tên là Nguyễn Đ́nh- t́m ra đầu tiên. Ông gửi đăng trên tạp chí Tao Đàn số 8 bộ mới (1939) một bài báo mà ông gọi là luật ngă hỏi. Về sau ông Lê Ngọc Trụ đă phát triển thêm và gọi đó là luật bổng trầm (1943). Cũng Lê Ngọc Trụ đă khai triển thêm về những lề lối chuyển thanh âm của tiếng Hán Việt, và hoàn ch́nh các mẹo luật chính tả tiếng Việt trong tập Chánh tả Việt ngữ (1952).

 Các nhà Hán ngữ học (như Vương Lực) đă ḍ t́m trong một số từ ngữ Việt rất gần với giọng phát âm của người Hán, và đă đưa ra giả thuyết là tiếng Hán cổ có thể cũng vay mượn một số từ của Giao Châu trong thời ḱ người Hán sang đô hộ.

[7] Gs. Lê Ngọc Trụ cho rằng có một ngoại lệ là hỗi (dấu ngă), v́ ông cho rằng đó là nói gộp âm của "hồi năy đến giờ". Các bạn miền Nam của chúng tôi th́ lại cho rằng khi nói hổi, họ nghĩ đến "hồi đó tới giờ". Vậy th́ có một biệt lệ ở đây hay chăng?

[8] Để cho dễ nhớ, có thể học thuộc ḷng câu sau đây: "ḿnh nên nhớ là viết dấu ngă ", trong đó các âm đầu đều mang phụ âm của các từ Hán Việt có dấu ngă.

[9] Chính tả nghĩa là viết (tả) cho đúng (chính), nghĩa là viết đúng theo một mẫu mực nào đó được xă hội công nhận và quy định làm mực thước cho mọi người phải tuân theo.

 

Trích Viễn Xứ.com