Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài G̣n cũ

Trịnh Thanh Thuỷ

 

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng ǵ của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đă đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay c̣n được gọi là tiếng Việt Sài G̣n cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng th́ chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ c̣n t́m thấy trong tự điển, không c̣n ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành tŕnh di tản của ḿnh và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không c̣n tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nh́n tiếng Việt Sài G̣n cũ từ từ biến mất, ḷng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm ǵ được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể t́m ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường vơ bị Thủ Đức, v.v... Tất cả đă thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.

Nhắc đến tiếng Việt Sài G̣n cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. V́ cuộc đấu tranh ư thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xă hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém ǵ miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đă chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lănh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v...dần dà đă trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ "quản lư" là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lănh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lănh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: "Anh xin quản lư đời em". Hoặc từ "chế độ" cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như "chế độ dân chủ". Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lănh vực như "chế độ xem", "chế độ bao cấp". Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản - giản đơn; bảo đảm - đảm bảo; dăi dầu - dầu dăi; vùi dập - dập vùi. v.v...

Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đă thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xă hội Việt Nam đă phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đă được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài G̣n cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đă có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào băi, tuyến pḥng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đă bị thay thế bằng đăng kư, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đă bước vào quên lăng như: sổ gia đ́nh, tờ khai gia đ́nh, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v...

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng t́m đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ư đến việc ḿnh viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ ḿnh đang dùng hay không v́ lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đă có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với ḍng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những ǵ được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái ǵ cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái ǵ cũng một nửa.

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết ḿnh nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài G̣n cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Ḿnh có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lănh vực văn chương, thi phú mà ở các lănh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đă gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.

Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền h́nh thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là "chữ của Việt Cộng" và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ "cộng sản" nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô h́nh này, một khi bị chụp, th́ nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn v́ địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.

Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều h́nh ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố ǵn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và tŕnh độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ th́ rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đă trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. "Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đă hết ḷng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt" (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)

Về vấn đề giáo tŕnh th́ mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. C̣n ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: "Khi nào gặp những từ ngữ trong nước th́ ḿnh tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài g̣n cũ trước 75 v́ nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách th́ phiền chết."

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến t́nh trạng tự ḿnh cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài G̣n cũ nên họ dường như không có nhu cầu t́m hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:

Thứ nhất là do sự khác biệt của ư thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đă từ bỏ tất cả để ra đi chỉ v́ không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lănh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển h́nh. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hăng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:

Trong nước:

Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy

Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ pḥng điện hóa và dụng cụ bảo vệ ḷ hạt nhân đă được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: "Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
(http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2006/09/3B9EDF89/)

Ngoài nước:

Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga

Hải quân Nga nói rằng ḷ phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đă tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đă được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=48362&z=75)

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rơ ràng v́ sự khác biệt như những chữ: pḥng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng...

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xă hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi c̣n nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dơi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm th́ các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đă học tiếng An sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (http://i12.photobucket.com/albums/a215/unisom/thualuonJPG.jpg)

Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái ǵ, ngồi ngẫm nghĩ măi mới t́m ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài G̣n cũ ở trong nước th́ chết dần chết ṃn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không c̣n thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm v́ sự giao lưu văn hoá đă xảy ra khiến người ta quen dần với những ǵ người ta đă phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đă đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta t́m được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không c̣n ngại ngùng ǵ khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đă ăn vào trong máu rồi, không chịu th́ phải ráng mà chịu.

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là "cái chết của một ngôn ngữ". Đau ḷng lắm thay!
 


Tiếng Việt Tôi Yêu



Tác giả Trịnh Thanh Thủy của bài viết "Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài G̣n cũ" trong nhiều websites mà tôi có dịp đọc trước đây, đă ghi nhận sự đổi thay về cách xử dụng ngôn ngữ trong xă hội. Bà nhập đề bài viết bằng đọan văn:

"Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng ǵ của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đă đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay c̣n được gọi là tiếng Việt Sài G̣n cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng th́ chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ c̣n t́m thấy trong tự điển, không c̣n ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành tŕnh di tản của ḿnh và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không c̣n tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nh́n tiếng Việt Sài G̣n cũ từ từ biến mất, ḷng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm ǵ được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể t́m ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường vơ bị Thủ Đức, v.v... Tất cả đă thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá."

Sau ngày 30-04-75 định mệnh, người dân thuộc phía miền Nam bên dưới vĩ tuyến 17 chúng ta đă đau đớn nghe và đọc những từ ngữ lạ hoắc đến độ buồn nôn mà chúng ta đă nghe trong khó chịu như: đề xuất, đột xuất, phát hiện, bồi dưỡng, kiểm thảo, xử lư, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ảnh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, liên hệ, đăng kư, phục viên, liệt sỹ, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v...
Trong bài viết "Sống trong tiếng Việt" của nhà văn Đặng Tiến ghi nhận như sau:
« Tương quan giữa chính trị và ngôn ngữ, nhất định là có thật, nhưng không đơn giản. Trong đề tài này, mà phản ứng theo bản năng, t́nh cảm th́ lời nói làm cho người nói xa nhau, trong khi nhiệm vụ của ngôn ngữ là làm cho con người gần nhau.
Trong một cuộc gặp gỡ với nhân viên báo Nhân Dân do báo này thuật lại, ngày 11.3.1961, Hồ Chí Minh có nói "ta phải nói kí lô, v́ nếu nói cân th́ không đúng nghĩa 1000 gơ-ram". Ông chống lại thói lạm dụng chữ Hán, nên khuyên không nên dùng từ phụ đạo chỉ để nói là kèm trẻ em học thêm. Kết quả: người phía Nam không được ông giáo huấn, th́ nói kí lô và kèm trẻ; người phía Bắc, lập trường kiên định, lại dùng từ cân và phụ đạo.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cũng đặc biệt quan tâm đến việc giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt (1963) nhận xét: khi nói trao đổi th́ phải nói trao đổi cái ǵ, ư kiến, hàng hoá… chứ nói trao đổi không khống, là vô nghĩa. Khi kết hôn, th́ nói kết hôn, thành hôn, xây dựng gia đ́nh, không nên nói "xây dựng" không khống, theo kiểu: "ngày mai tôi đến trao đổi với anh"; "cô ấy đă xây dựng năm ngoái"...
Người phương Nam mù mù tăm tăm, không dùng từ trao đổi, xây dựng như người phương Bắc được "quản lư" nghiêm túc. Chung quanh hôn nhân, người phương Bắc c̣n có lối nói: báo cáo, tuyên bố, đăng kư, tổ chức (dă chiến hay theo lối cũ, v.v…) ông thủ tướng nghe cũng phát ớn!
Nhân ngày giỗ Nguyễn Đ́nh Chiểu, năm 1963, Phạm Văn Đồng có viết bài ca ngợi nhà thơ, mở đầu bằng h́nh tượng bay bướm: trên trời có những v́ sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nh́n th́ mới thấy, và càng nh́n th́ càng thấy sáng. Một câu văn đẹp, và ông giáo sư Lê Trí Viễn đă cóp, làm tiêu đề cho một cuốn sách: Nguyễn Đ́nh Chiểu ngôi sao càng nh́n càng sáng (1982); Ư ông muốn thu câu văn cho gọn, thành sai cú pháp!
Để viết bài này, tôi phải đọc lại sách của Hoàng Tuệ: Vấn đề chuẩn ngôn ngữ qua lịch sử ngữ học, 1993, và được biết trên báo Pravda ngày 20.6.1950, Stalin đă có bài bác bỏ lư thuyết của Marr (1864-1934) cho rằng ngôn ngữ là một hiện tượng giai cấp.

Theo Stalin "ngôn ngữ là của toàn dân tộc; ngôn ngữ không phải là một hiện tượng giai cấp (…) V́ lẽ: ngôn ngữ là một dụng cụ giao tiếp xă hội, nó không phục vụ riêng một giai cấp nào, nó phục vụ tất cả các giai cấp, nó là của toàn thể dân tộc, của những kẻ bóc lột cũng như những người bị bóc lột, của chế độ cũ hấp hối cũng như của chế độ mới đang lên (tr. 141).
Ngôn ngữ và văn hoá là hai cái khác nhau (…) văn hoá có thể là tư sản hay xă hội chủ nghĩa (theo Lê-nin), c̣n ngôn ngữ, công cụ giao tiếp giữa người với người th́ luôn luôn là của chung cho cả dân tộc (tr. 143)."
Tôi ngờ ngợ, chả nhẽ Stalin lại viết một câu b́nh thường, phản động, phi giai cấp, phi mác xít lê-nin-nít như vậy? Hay là cụ Hoàng Tuệ "hư cấu"? Tôi rà lại th́ quả là cụ Stalin có viết như thế thật [] , và tôi đă nghi oan Hoàng Tuệ.
Tôi không tiếc công, v́ đă học được một bài học lớn. Ở đời ai cũng có chính kiến, thành kiến; đến khi lư luận th́ phải dè dặt, phải đề pḥng thành kiến của chính ḿnh. Về mặt trí thức, bản thân ḿnh là đối phương của chính ḿnh, một đối phương cực kỳ nguy hiểm v́ trường kỳ mai phục. Vượt qua thành kiến để thấy: ông Stalin cũng có thể nói đúng, ông thủ tướng có thể viết câu văn hay, ông giáo sư, nhà giáo nhân dân, có thể sử dụng sai cú pháp. Bản thân ḿnh có thể sai, v́ dốt, v́ vội, v́ giận hay v́ thiên kiến.

Bà Trịnh Thanh Thuỷ là người chân thật. Bà hỏi thật: "ḿnh có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi…". Là người đồng hội đồng thuyền, tôi đồng cảm với bà. Câu trả lời của tôi là: một mặt phải thường xuyên thay đổi lối viết, mặt khác dùng những từ nào mà ḿnh thấy là hay, là đúng, là hợp với câu văn. Nếu ông Phạm Quang Tuấn có hỏi dựa vào đâu mà bảo rằng từ này hay hơn từ kia, th́ trả lời cũng dễ thôi về mặt thực hành. Về lư thuyết ta có thể nói: một từ hay, khi có sự hài hoà giữa h́nh thức (cái biểu hiện, signifiant) với nội dung (cái được biểu hiện, signifié), giữa ngữ thái và ngữ nghĩa. Và tránh tạp âm v́ những từ đồng âm hay cận âm, tránh từ Hán Việt khệnh khạng, chuộng những ngữ âm thanh tao hay gợi cảm."
Chúng ta đều biết kẻ ăn cướp như CSVN thường tỏ thái độ siêu đẳng hơn người, thường khoe khoang, khoác lác, có thể xuất phát từ tâm lư mặc cảm tự ti và rồi chính họ mâu thuẩn ngay trong lời nói của họ, ví dụ Hồ Chí Minh luôn luôn đả phá việc dùng chữ Hán. Tên "Ái Quốc" mà âm hưởng vốn đă mang nguồn gốc Hán văn. Sao không đặt thẳng toạc móng heo ra là "Nguyễn Yêu Nước" th́ ông trung thành tuyệt đối với Việt ngữ? Trong báo "Lính Kách Mệnh" được xem là tiền thân của tờ Quân Đội Nhân Dân, người ta xem những bài văn của Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông ta đă vi phạm sự đả phá việc dùng từ ngữ xuất phát từ gốc Hán văn như: quốc tế vô sản, xuất khẩu, hữu nghị, tham quan, tranh thủ, khẩn trương, chỉ đạo,...
Trong bài trả lời về chủ đề "Văn Chương Không Biên Giới" trên website Da Màu, vị thức giả Nguyễn Quốc Chánh đă đề cập về sự tham lam độc đoán của bọn CS sau khi "hiếp dâm" miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, 1975 qua nhận xét chua xót về ngôn ngữ tiếng Việt:
"Tiếng Việt có tới 3 lần mất trinh. Một lần với Tàu, một lần với Tây và hiện nay với CS. Cái vĩ đại của CS là vơ tất cả về ḿnh, từ sông núi, lịch sử, và dĩ nhiên, ngôn ngữ rồi làm cho nó tồi tệ đi. Cái ǵ họ kiểm soát được, cái đó c̣n trinh, cái ǵ không là đồi trụy hoặc lai căng. Tiếng Việt ở miền Bắc XHCN là trinh, tiếng Việt ở miền Nam trước 1975 là đồi trụy, và tiếng Việt ở trong nước hiện nay là thuần, c̣n tiếng Việt ở hải ngoại là lai căng… "
Kẻ chiến thắng đă xấc xược giương oai thị uy với toàn dân trên toàn lănh thổ đất nước bằng những Quyết nghị hành chánh để tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ của họ và buộc người dân trong xứ phải dùng. Đoạn văn ghi nhận sự kiện này là:

"Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đă thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xă hội Việt Nam đă phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đă được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục."

Trong đời sống khi mà những áp bức về thể xác chúng ta cố nhịn nhục, cố đè nén, nhưng những áp bức về tinh thần như Nghị quyết 36 về sự trói buộc tôn giáo về quyền tự do tâm linh hay như cái Nghị quyết ngày 01/07/183 để "tiếng Việt toàn dân" ra đời, khiến tâm tư chúng ta đau đớn khi nghe hoặc đọc những điều không vừa ư bị bó buộc phổ thông hóa trong nước, hoặc giả như khi tôi t́nh cờ nghe một số người lớn b́nh dân hay những người trẻ mới sang Mỹ dùng những từ ngữ của thuở ban sơ sau ngày nghiệt ngă 30-04-75 như: " Sau ngày giải
phóng...." hay "Khi cách mạng vô...". Chúng ta không trách họ v́ tŕnh độ dân trí hoặc sự ư thức về chính trị yếu kém hay sự phân biệt về ngôn ngữ của họ rất thô sơ, bởi v́ chính họ là nạn nhân của chính sách ngu dân mà bọn CSVN gieo rắc trên quê hương. Và trong những phút riêng tư khi ḿnh đối đầu với ư nghĩ của chính ḿnh là những u uất, những xót xa, hoặc những ngậm ngùi của những tiếng Việt đẹp đẽ, của những tiếng Việt đáng yêu và trong sáng mà ḿnh muốn nghe, muốn đọc, để thèm được nghe, và thèm được thấy đă mai một, đă biến mất trên quê hương yêu dấu...

Hay tôi ưu tư phải chăng v́ Tiếng Việt Tôi Yêu của Việt Nam Cộng Ḥa đă bị ép xác mất dần đi trên quê hương tôi? Buồn lắm thay.

Trần Việt Hải