BÀN THÊM VỀ CHỮ "ĐỒ"
Trần Thị Nhật-Hưng
Trong tiếng Việt, có lẽ không có chữ nào có nhiều nghĩa và nhiều ứng-dụng bằng
chữ “đồ”. Thực-thế, riêng với nghĩa đầu tiên và phổ-thông nhất của nó, chữ này
đă chiếm một địa-bàn rộng lớn v́ nó được dùng để chỉ tất cả những dụng-cụ,
khí-mănh, tiện-nghi... mà con người đă sáng-tạo ra để làm cho đời-sống vật-chất
của ḿnh được thêm an-toàn, thêm thoải-mái và nhiều hiệu-năng hơn.
Chỉ cần kể một vài thí-dụ: cái bàn, cái tủ, cái giường... là đồ đạc trong nhà;
cái cày, cái cuốc, cái xẻng... là đồ làm ruộng, làm vườn; cây súng, lưỡi gươm,
cung nỏ... là đồ binh khí để tự vệ hay săn bắn; con búp bê, trái banh, cỗ bài...
là đồ chơi, tiêu-khiển lúc thư-nhàn .v..v..
Tất một lời, đời sống vật-chất của con người không thể quan-niệm được là không
có đồ. Ngay đến những giai-đoạn của văn-minh loài người cũng được mệnh danh qua
chất liệu của đồ dùng chẳng hạn, thời đại đồ đá cũ, thời-đại đồ đồng ... Sở
thích con người cũng khác nhau và đa dạng như thể loại của các món đồ: người
chơi đồ sứ, kẻ thích đồ vàng, thậm chí có kẻ sưu-tầm đồ phế thải.
Một nghĩa quan-trọng thứ hai của chữ đồ liên-quan đến lănh-vực ẩm thực, gọi
nôm-na là đồ ăn đồ uống. Ở đây, sở thích và thời-thượng cũng thay đổi hoài hoài.
Có người thích xơi đồ Tàu, có người ưa ăn đồ Tây, lại có người chỉ chịu cây nhà
lá vườn. B́nh thường, người ta hay ăn đồ nóng uống đồ lạnh, nhất là trong mùa Hạ,
nhưng cũng có khi vội-vă hoặc không gặp hoàn-cảnh thuận-tiện, người ta đành ăn
đồ nguội hoặc tích-trữ đồ khô (hoặc lương khô). Người vượng hỏa cần cữ đồ cay,
c̣n người có máu hàn chẳng nên ham ăn đồ sông hoặc đồ biển. Dầu sao chăng nữa,
khi gặp lại bạn cố-tri, cần có chai rượu ngon và dĩa đồ nhấm tốt, câu chuyện
hàn-huyên mới thêm phần hoạt-bát, đậm-đà.
Chữ đồ c̣n được dùng trong lănh-vực rộng lớn là lănh-vực y-trang, để chỉ mọi thứ
áo quần, đồ trang-sức, vật phụ-tùng... mà con người mặc, khoác, đeo, độ ... trên
thân xác. Nếu ở những nơi chốn riêng tư, ta có thể mặc đồ lót, đồ cộc, th́ trái
lại, trước mắt người ngoài, ta phải mặc đồ tề-chỉnh, thậm chí trong những dịp
khánh tiết phải mặc đồ lớn, có khi c̣n phải mang những đồ cổ-quái như khăn
vành-dây hay áo đuôi tôm. Ngạn-ngữ phương Tây khuyên ta nên giặt đồ dơ trong nhà
ḿnh, không khác ǵ luân-lư phương Đông dạy ta: “Đóng cửa bảo nhau”.
Ư nghĩa chữ đồ không phải chỉ được giới-hạn trong ba lănh-vực thiết-bị, ẩm-thực
và y-trang vừa kể, tuy rằng ba lănh-vực ấy đă đủ mênh-mông bát-ngát rồi. Quả vậy,
chữ đồ c̣n vượt khỏi b́nh-diện những vật vô-tri để tiến lên b́nh-diện con người.
Tuy nhiên, cần minh-định ngay rằng trong lănh-vực này, chữ đồ hàm-ư xấu chứ
không hàm-ư tốt. Chẳng hạn không ai nói: ”đồ thánh-hiền”, “đồ đạo đức”, “đồ
tử-tế”, “đồ chung-thủy” mà chỉ nghe thấy nói: “đồ xỏ-lá”, “đồ sở-khanh”, “đồ quạ
mổ” v..v.. và v..v.., v́ về ngữ-vựng, mạt-sát, chửi rủa, tiếng nước ta không
thua kém tiếng nước nào trên thế-giới.
Đến đây, để giăm bớt tính-cách kinh-điển của bài viết, tác-giả xin phép thuật
lại một chuyện vui, được nghe thấy khi c̣n bé và sống nơi đồng ruộng vùng Kinh
Bắc. Một anh trai làng mới lớn, theo chúng bạn sang xem hội làng Lim. Chàng chọc
ghẹo một thôn nữ xinh đẹp, bị cô này quay lại mắng: ”Cái anh này hay nhỉ, thật
là đồ phải gió cắn răng!”. Chàng trai bị xỉ-vả như vậy, cảm thấy bẽ mặt quá,
tiếng trống chèo hay câu hát quan-họ chung-quanh nghe không c̣n thấy hứng-thú ǵ
nữa. Chàng lủi-thủi ra về, kể lại câu chuyện không may của ḿnh cho ông chú nghe.
Ông này cười phá lên rồi nói: ”Sao mầy ngu thế? Con bé ấy nó rũa mầy phải gió
cắn răng là nó thương quư mày đấy! Thực-tế, nếu bị trúng gió mà răng c̣n cắn lại
th́ chữa dễ như chơi: chỉ việc lấy gừng, rượu, mớ tóc rối và đồng bạc bà đầm x̣e
đánh gió là tỉnh lại ngay như sáo sậu! Trái lại, nếu bị trúng gió mà há hốc
miệng th́ hết thuốc chữa, không về chầu tiên tổ ngay th́ cũng bán thân bất toại
suốt đời. Được nó rủa yêu như vậy, thay v́ tiến lên làm tới, mày lại đánh bài
tẩu mă th́ quả thực mày là thằng ngốc!”.
Trở lại chữ đồ. Chữ này c̣n có một nghĩa đặc-biệt nữa. Chữ ấy chỉ người nho sĩ,
tuy có tài nhưng không có số, đi thi không đỗ tiến-sĩ, cử-nhân, nên chẳng len
chân được vào hoạn-lộ, đành đi gơ đầu trẻ, dạy cho chúng năm ba chữ thánh-hiền
để làm kế độ thân. Tùy theo tuổi tác và uy-tín, người ta nói đến anh đồ, thầy đồ,
ông đồ hay cụ đồ.
Con đường t́nh ái có nhiều khúc ngoặt bất-ngờ; bởi vậy, anh đồ thời trước, mặc
dầu không có danh-vọng hay tài-sản đáng kể, lại thành-công trên t́nh trường.
Bằng chứng là những câu thơ, câu ca-dao trong văn-chương dân giả, chẳng hạn như
câu:
Chẳng ham ruộng cả ao liền
Ham v́ cái bút cái nghiên anh đồ.
Thế mới hay vốn liếng văn-chương, lời lẽ văn-vẻ, tác-phong lịch-sự có sức
hấp-dẫn hơn cả ruộng sâu trâu nái của anh trọc phú hay vai u thịt bắp của gă
lực-điền, trước mắt các nàng thiếu-nữ đồng quê Việt-Nam ngày xưa. Sau hết và khó
nói hơn hết là một nghĩa đặc-biệt khác của chữ đồ. Cũng như số phận của tất cả
những từ-ngữ v́ phổ-thông quá và nhiều nghĩa quá nên được dùng để chỉ gián-tiếp
những vật, những sự việc mà ta ngại kêu đích danh, bởi tính cả thẹn hoặc không
muốn làm người nghe phải ngượng-ngập, chữ đồ c̣n được dùng để chỉ... bộ phận
sinh-dục của người đàn bà. Thay v́ bàn tán dông dài về ư nghĩa này, tác-giả chỉ
xin viện-dẫn hai thí-dụ trích trong văn-chương Việt-nam.
Thí-dụ thứ nhất liên-quan đến một anh đồ -theo nghĩa nhà giáo chữ Nho- tuổi trẻ
tài cao, văn-chương bề-bề nhưng lại không đồng xu dính túi. Một hôm túng đói quá,
anh đánh liều đến gặp vị quan đầu tỉnh xin giúp-đỡ. Ông quan này thuộc loại
hách-dịch, tự cao tự đại, gặp kẻ hàn-sĩ vội lên mặt kênh-kiệu, ra ngay câu đối
thử tài:
“Miệng người sang có gang có thép”.
Anh đồ không chịu nổi thái-độ hống-hách, lời lẽ khoe-khoang của vị đường quan
nên quên cả sợ, quên cả đói, ứng khẩu ngay: “Đồ
kẻ khó vừa nhọ vừa thâm”.
Tuy câu đối rất chỉnh về phương-diện h́nh-thức biền-ngẫu nhưng lối ví-von
xất-xược của anh đồ, dám đem miệng của quan đối với “đồ ”của kẻ khó (tức là
người đi ăn xin) làm cho quan đùng-đùng nổi giận. Kết-quả anh đồ không được
giúp-đỡ ǵ mà c̣n bị lính lệ thẳng tay đuổi ra khỏi cửa.
Thí-dụ thứ hai cũng liên-quan đến một anh đồ. Vị này đi dạy học ở tỉnh xa, có
dịp về thăm quê ít ngày. Lúc trở lại trường, bắt gặp bọn học tṛ đang khúc-khích.
Thầy đồ tra hỏi măi th́ chúng cho biết bữa qua, chúng bắt gặp cô hàng xóm ra cầu
ao giặt rũ, lỡ ngồi xổm trong một tư-thế hớ-hênh, nên lộ-liễu thân thể trước mắt
bọn “nhất quỉ nh́ ma này”. Thầy đồ nghe các môn sinh của ḿnh kể lại câu chuyện
hăn-hữu ấy, phần th́ giận lũ học tṛ mất nết, nhưng phần khác cũng thấy tiếc là
ḿnh đi vắng để lỡ dịp may. Thầy liền kư-chú câu chuyện ấy vào một bài phú khá
dài trong đó có câu sau đây liên-quan đến chữ đồ bài này:
Đồ nọ
tưởng đồ kia thêm thắc mắc.
Trên đây chúng ta mới xét vài nghĩa của chữ đồ trong lănh-vực tiếng Việt
thuần-túy. Nếu ta bước sang lănh-vực tiếng Hán Việt, ta sẽ như lạc vào một khu
rừng v́ từ-ngữ “đồ” c̣n có nhiều nghĩa khác nữa trong lănh-vực này. Kẻ viết tuy
đă từng hành nghề “thầy
đồ”
trong một thời-gian, nhưng chỉ là “đồ” tân-học, nên không dám cả gan liệt-kê và
giải-thích tất cả những nghĩa của chữ “đồ” trong tiếng Hán-Việt. Chỉ xin nhắc sơ
qua vài nghĩa thông-dụng nhất. Một nghĩa thường thấy của chữ “đồ” liên-quan tới
khái-niệm học tṛ. Người Việt ai mà không biết cụm từ quen thuộc như
đồ đệ, môn đồ,
cao đồ, tông- đồ,
v.v..
Riêng những người ham đoc truyện vơ hiệp thời tiền-chiến và truyện chưởng thời
Kim-Dung c̣n nhớ đến những vị sư-phụ, những vị chưởng môn vơ phái, phải nghiến
răng chau mày v́ tức giận những
nghịch đồ
(học tṛ
ngỗ-nghịch, chống lại ư-kiến hay uy-quyền của thầy), hoặc
phản-đồ
(học tṛ
làm phản lại môn phái).
Chữ đồ
dùng như một động-từ có nghĩa là làm thịt súc vật như mỗ trâu, mỗ ḅ
... Mọi
người đều biết cụm từ
đồ tể,
chỉ người làm thịt súc vật để bán, có khi c̣n được dùng theo nghĩa rộng để chỉ
những kẻ tàn-sát sinh-linh bất-luận v́ chức-chưởng, v́ ḷng tham hay v́ bản tính
độc ác. Dân ghiền chuyện chưởng Kim-Dung ai mà không nhớ Cô Gái Đồ Long ? “Đồ
Long”
có nghĩa là chém rồng, theo nghĩa bóng là thí-sát một vị vua chúa. Thành-ngữ “đồ
long” không phải do Kim-Dung sáng-tác mà chỉ lấy lại trong sử sách cũ. Quả vậy,
có những sử gia đă ca-tụng sự-nghiệp của Hán Cao-tổ với bốn chữ: “Đồ Long Trục
Lộc”, tức là trừ bạo chúa và đuổi bọn hươu (chư-hầu) để lập ra Nhà Hán. Đă nói
đến Bắc sử cũng nên nói đến Nam sử cho cân bằng. Chúng ta nhớ đến Liệt-sĩ Đặng
Dung, mưu chuyện đánh đuổi quân Minh xâm-lược và khôi-phục cơ-nghiệp Nhà Trần
chẳng may thất-bại bị giặc bắt. Trước khi chết, ông có làm bài thơ với lời-lẽ
hào-hùng nghĩa-khi, trong đó có hai câu:
Thời lai
đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh-hùng ẩm hận đa.
Với hai chữ “đồ
điếu”,
tác giả chắc muốn nhắc đến tích Hàn Tín, chỉ là một anh luồn trôn ở chợ, và tích
Khương Tử Nha, một ông lăo ngồi câu bên ḍng sông Vị (điếu ngư) mà cũng
thành-công, lập được nghiệp lớn, trở thành khai-quốc công-thần của Nhà Hán và
Nhà Chu. Chữ đồ trong ngữ-vựng Hán-Việt c̣n có một nghĩa nữa rất phổ-thông, nhằm
chỉ tất-cả những ư định, âm-mưu, kế-hoạch có mạch-lạc, hệ-thống và hướng tới
những mục-đích nhất-định. Chữ đồ trong nghĩa nầy rất được các vị chính-khách
chuyên-nghiệp hay tài-tử, những chiến-lược gia nhà nghề hay sa-lông ... ưa dùng.
C̣n nhớ trong thời-kỳ “cách-mạng” sau tháng 8 năm 1946, đi đâu cũng nghe thấy
nói đến những
ư đồ, mưu đồ, đồ
án, cơ-đồ
... Có kẻ thức-giả nhận-xét chua-chát là càng nhiều đồ nhiều mẹo lại càng thêm
tan-nát, điêu-tàn!
Chữ đồ
cũng c̣n có một nghĩa rất phổ-biến nữa:
nó chỉ sự biểu-thị một thực-thể, một ư-niệm, một hiện-tượng ... bằng những nét
chấm phá và đường thẳng, đường cong. Ngay khi mới mài đũng quần trên ghế trường
Tiểu-học, chúng ta đă phải làm quen và phải vẽ những
bản-đồ, địa-đồ;
khi lớn lên học các môn khoa-học lư-thuyết hoặc thực-hành, chúng ta phải vẽ vô
số đồ-thị,
đồ biểu, thiên-văn đồ, sơ-đồ, giản-đồ, lược-đồ.
Trong nghĩa này, và v́ lẽ ta bước vào kỷ-nguyên thính-thị, chữ đồ chắc ngày càng
được dùng nhiều. Thậm chí một vị trí-thức tỵ-nạn bên Hoa-kỳ đă có một kỷ-niệm
không hay v́ ham dùng chữ đồ. Câu chuyện này có tính thời-sự nên xin phép nhắc
qua dưới đây:
Số là trong khoảng thời-gian trước năm 1995, chính-quyền Cộng-sản Hà-nội
nôn-nóng thiết-lập quan-hệ ngoại-giao b́nh-thường với Hoa-kỳ đặng giải-quyết một
số vấn-đề chính-trị, kinh-tế và xă-hội khẩn-cấp. Hoa-Thịnh-Đốn, trái lại,
đủng-đỉnh làm cao và muốn diên-tŕ v́ e-ngại phản-ứng bất lợi của một phần
dư-luận trong nước. Thay v́ đặt ra những điều-kiện (conditions) cho việc
b́nh-thường hóa quan-hệ ngoại-giao, Bộ Ngoại-giao Mỹ đă đặt ra một họa-đồ của
con đường đi tới quan-hệ ngoại-giao b́nh-thường (thành-ngữ Mỹ là Road Map) trên
đó có những chặng như: điều-tra số-phận của những binh-sĩ mất-tích, t́m đủ
hài-cốt của những tử-sĩ Mỹ.
Vị trí-thức tỵ-nạn kể trên, vốn là người ưa dùng tiếng Hán-Việt, dịch ngay “road
map” là “lộ
đồ”.
Lạ thay, khi vị ấy đi diễn-thuyết ở các tỉnh bên Mỹ trước cử-tọa, người trong
pḥng họp tủm-tỉm cười thay v́ nghiêm-túc nghe diễn-giả tŕnh bày vấn-đề. Măi về
sau, vị này mới vỡ lẽ ra rằng mấy khán thính-giả tinh-quái ấy, thay v́ hiểu đúng
đắn cụm từ “lộ đồ” theo ngữ-vựng và văn-phạm Hán-Việt lại có ư hiểu bậy hai chữ
ấy theo nghĩa tiếng Việt thuần-túy, Từ đấy trở đi, ông ta đành bỏ thành-ngữ “lộ
đồ” đă do chính ḿnh khổ công sáng-tạo để dùng thẳng chữ Mỹ “road map”!
Bài mạn-đàm về chữ “đồ” đă khá dài nên xin tạm ngưng, mặc dầu chữ ấy c̣n nhiều
nghĩa nữa chưa khai-thác, chẳng hạn như nghĩa “đi bộ”, hay nghĩa “tội h́nh”,
v.v.. Ngoài ra, Việt ngữ đáng mến của chúng ta cũng c̣n nhiều chữ đa nghĩa rất
ư-vị khác, như “làm”, “ăn”, “chơi”, “thương”, “quấy” v. v.. xin dành cho các bậc
cao-minh hơn kẻ hèn này b́nh-luận. Theo đúng lề-lối người xưa, xin chấm dứt bài
này bằng mấy vần thơ. Vậy có thơ rằng:
Thiếu ǵ
từ đẹp, tiếng hay ho
Dân Việt sao ưa thích chữ đồ?
Phỉ-chí chơi sang trưng đồ lớn
Đói ḷng ăn tạm kiếm đồ khô
Mặt ủ mày châu ra đồ khó
Lưng mềm, lưỡi dẽo hệt đồ nô
Đất nước khỏi tay phường đổ bác
Cùng nhau đồ lại tấm dư đồ.
(Đồ Gàn)
Tôi nảy ra ư bàn thêm: Ba năm qua, kể từ khi tôi gia-nhập Văn Bút Âu-châu, anh
Từ Nguyên thường nhắn tôi gởi bài nhưng tôi không gởi. Bảo tôi đi họp, tôi cũng
không đi. Anh Phù Vân, anh Vũ Nam viết thư cho tôi khuyên tôi viết bài cho Tập
san Văn Bút, tôi cũng không viết. Thật rơ là đồ bướng, phải không quí vị?
Vâng, tôi xin nhận tôi cũng bướng thật. Tuy-nhiên, bướng th́ có bướng nhưng tôi
chưa hẵn là
đồ bỏ
v́ hôm nay,
nhân sinh-nhật của tôi, thêm cảm-hứng về bài “Phiếm- luận về chữ Đồ” của Ông
đồ Gàn,
tôi xin kể một vài chuyện vui cũng về chữ đồ như góp thêm vào bài của Ông Đồ Gàn,
thay các “đồ
ăn, đồ nhậu, đồ nhắm”
v́ xa xôi, tôi không thể bày ra để mời Quí vị trong ngày sinh-nhật.
Chữ đồ theo Ông Đồ Gàn không chỉ rất nhiều nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa đen (Ông Đồ
Gàn đă giải-thích rất kỹ) mà theo tôi, nó c̣n góp phần đánh dấu từng giai-đoạn
lịch-sử và văn-hóa nước ta qua các bài thơ, phú, ca-dao, hát nói... Chẳng hạn
qua bài Thầy Đồ:
Thầy Đồ là người tài bộ
Quảy cầm thư sang giáo thọ Phủ Vĩnh-tường
Trước nha môn thiết-lập học-đường
Dạy dăm đứa chi, hồ, giả, dă
Gặp nhân lúc thầy đồ nhàn-hạ
Ra hồ sen ngắm ả hái hoa
Ả hớ-hênh ả để đồ ra
Đồ nọ thấy ngâm-ngay tức khắc:
“Xuân tiền lạn mạn hoa sinh sắc
Thủy diện đa ba bạng thổ thần”(1)
Đồ ngâm rồi, đồ đứng tần-ngần
Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc-mắc
Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp
Những mơ-màng đồ nọ tưởng đồ kia
Đồ ơi, gặp gỡ làm chi?
Chúng ta h́nh-dung được phần nào về chiếc váy rất thuận lợi với khí-hậu nóng bức
vùng nhiệt-đới và sinh-hoạt đồng-áng, trồng lúa, tát nuớc nhưng vô cùng hấp-dẫn,
khêu-gợi (nếu hớ-hênh), cách trang-phục của phụ-nữ Việt-nam thời xưa đơn-giản
chỉ bằng mănh vải quấn thân hoặc khâu kín thành ống mà trong dân-gian đă ví-von
với niềm tự-hào, hănh-diện về bản-sắc văn-hóa của dân-tộc:
Cái ống
mà thủng hai đầu
Bên ta th́ có bên Tàu th́ không.
Rồi cũng từ tự đồ, chúng ta nh́n lại lịch-sử của dân-tộc, trải bao năm bị đô-hộ:
hết Tàu, Tây, Cộng-sản, chữ đồ đă được dùng trong một cuộc đối-thoại để thấy
tinh-thần đấu-tranh bất-khuất của dân ta thể-hiện dưới mọi h́nh-thức, ở mọi
tầng-lớp chống bọn ỷ-thế phương Bắc, bọn cường-quyền xâm-lược một cách tài-t́nh
thâm-thúy. Một Đoàn Thị Điểm giả cô hàng nước đón tiếp sứ Tàu, đă dùng tài năng
văn-học đối đáp bén nhạy khi sứ Tàu đọc câu:
An Nam
nhất thốn thổ, bất tri kỹ nhân canh.
(An Nam
một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày) có ư xấc-xược, cḥng ghẹo.
Bằng lời lẽ nghiêm-trang, tác-phong lịch-sự, bà đáp ngay rằng:
Bắc quốc
đại trượng phu, giai do thử đồ xuất.
(Đại
trượng-phu nước Tàu cũng từ chỗ đó mà ra)
đă khiến bọn ỷ thế khâm phục nước ta về mọi phương- diện.
Tuy nhiên trong cuộc sống, bên cạnh các bậc anh-tài hào-kiệt, vẫn không thiếu
những bọn hèn nhát dù là bậc khoa-bảng, muối mặt làm tay-sai cho kẻ thù của
dân-tộc để cụ Nguyễn Khuyến vào thời Pháp thuộc đă phải than lên trong bài “Ông
Nghè Tháng Tám:”
Cũng cờ
cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè chớ kém ai?
Mănh giấy làm nên khoa giáp bảng
Nét son điểm rơ mặt anh tài
Tấm thân xiêm áo coi mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh-chọe
Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi.
Nh́n chung, những kinh-nghiệm đau thương đó măi đến nay vẫn chưa thức-tỉnh được
mọi người đă khiến Việt-Nam luôn luôn đắm ch́m trong đau khổ, hết bị dày xéo bởi
Tàu, Tây, Nhật, nay c̣n quằn-quại dưới ách thống-trị của Cộng-sản.
Một lần nữa, chúng ta không quên được những biến-cố xăy ra tại miền Bắc vào thập
niên năm mươi đă phá-hũy mọi truyền-thống văn-hóa dân-tộc khi Cộng-sản du-nhập
lối sinh-hoat nhảy múa “son đố ḿ” từ quan thầy Mao-Trạch Đông lôi kéo thanh
thiếu-niên thoát-ly khỏi hệ-thống nề-nếp gia-đ́nh đă khiến vô số chị em phụ-nữ
là nạn-nhân của những vụ chửa hoang rồi tự-tử để lại trong dân-gian những câu
nguyền-rũa chế-độ:
Đồ mi là
đồ phá đồ!
nhại theo nốt nhạc của điệu nhảy múa trên.
Hoặc:
Người ta
v́ nước v́ non,
Cô ta lại chết v́ “sôn, đố, ḿ“.
Thêm vào đó, gần đây nhất, biến cố 30-4-1975, Cộng-sản thôn-tính miền Nam, đưa
cả nước vào thảm-trạng nghèo đói. Người dân thắt lưng buộc bụng chỉ trông-ngóng
vào những thùng quà từ nước ngoài do thân-nhân vượt biên gởi về. Trong giai-đoạn
nghiệt-ngă của chính-trị và kinh-tế như vậy, những bài ca-dao phát-xuất từ
văn-chương b́nh-dân là bằng-chứng hùng-hồn nhất để tố-cáo chế-độ, một sự
phản-kháng âm-thầm nhưng mạnh-mẽ, đă in sâu, truyền-bá rộng-răi trong tâm-khăm
của mọi người. Mới nghe qua, tưởng là những bài tiếu-lâm thông thường, nhưng nếu
đọc kỹ, xét kỹ, ta mới thấy được thảm-trạng cười ra nước mắt của thời-đại:
Hôm qua
anh đến thành Hồ
Anh ra bưu-điện lănh đồ em cho
Đồ em vừa đẹp vừa to
Vừa đă con mắt, vừa no cái mồm.
Trước t́nh-cảnh đó, cộng thêm bài học chua cay từ sự sụp-đổ chủ-nghĩa xă-hội của
Đông Âu và Liên-xô, người CSVN buộc ḷng phải thay-đổi chính-sách để cứu-văn
chế-độ. Gọng kèm được nới ra. Đô-la tư-bản đầu-tư ồ-ạt tuôn vào khiến tệ-nạn
xă-hội vốn-dĩ đă trầm-trọng lại càng trầm-trọng hơn.
Ngành giáo-dục bị tuột dốc, thay vào đó, khách-sạn, nhà chứa, ăn chơi đàng-điếm,
tham-nhũng trồi lên như nấm. Cái vẻ phồn-vinh giả-tạo của nền “kinh-tế
thị-trường theo định-hướng xă-hội chủ-nghĩa” chỉ là cái vỏ ốc bóng loáng không
c̣n ruột được trưng-bày trong tủ-kiếng hay như một khúc gỗ mục đang bị mối mọt
đục khoét được sơn son thếp vàng.
Ca-dao lại có dịp cười lên ha hả:
Đi chơi
cho biết Đồ Sơn (2)
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà
Đồ nhà tuy có hơi già
Nhưng là đồ thật hơn là Đồ Sơn!
Thưa Quí vị,
Bài viết về từ Đồ của tôi xin tạm ngưng ở đây. Bây giờ là lúc tôi ... nhận quà
sinh-nhật từ Quí vị. Quí vị đă thưởng-thức xong “món ăn tinh-thần” của tôi th́
cũng nên đáp lễ cho đúng thủ-tục chứ! Địa-chỉ gởi quà cho tôi, xin hỏi anh Từ
Nguyên hay là tôi ghi sẵn đây Unterer ... để quí vị tiện bề sổ sách. Ô ḱa, sao
anh lại xụ mặt: “Kể chuyện vô duyên, trơ-trẽn thấy mồ mà cũng đ̣i quà! Thật là
... đồ láu cá!”
Trần
thị Nhật Hưng
(1) Trước gió lăn tăn làm hoa thêm đẹp
Trên mặt nước cái trai thè lưỡi ra.
“Xuân tiền lạn mạn hoa sinh sắc
Thủy diện đa ba bạng thổ thần”(1)
(2) là một thắng-cảnh ở miền Bắc