Bệnh Viêm Gan C
BS Bùi Xuân Dương
VÀI YẾU TỐ & QUAN ĐIỂM CHÍNH
§ Khoảng 2 % dân chúng toàn cầu đang bị viêm gan C.
§ Vi khuẩn viêm gan C là nguyên nhân hàng đầu gây ra viêm gan măn tính tại Hoa
Kỳ.
§ Khoảng 80% bệnh nhân khi bị lây bệnh viêm gan C sẽ trở thành măn tính. Trong
số này, khoảng 20 - 30% sẽ bị chai gan và ung thư gan.
§ Trên nước Mỹ, với hơn 4 triệu người đang bị viêm gan C măn tính, sẽ có từ 8
đến 10 ngàn người ĺa trần mỗi năm v́ căn bệnh này.
§ 1 trong 20 đến 40 người Việt Nam đă và đang bị bệnh viêm gan C măn tính.
§ Đa số bệnh nhân viêm gan C cấp tính và măn tính đều không có triệu chứng ǵ
đáng kể.
§ Bệnh lây qua máu và vấn đề sinh lư, không lây qua thức ăn và nước uống. Những
người có nguy cơ dễ bị viêm gan C nhất, là bệnh nhân đă được nhận máu trước năm
1992.
§ Tùy theo kiểu gene (genotype) của vi khuẩn viêm gan C, gần 90% bệnh nhân viêm
gan C măn tính sẽ được chữa hết bệnh, nếu được khám phá và chữa trị kịp thời.
§ Cho tới nay vẫn chưa có thuốc chích ngừa bệnh viêm gan C.
Vi khuẩn viêm gan C là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến bệnh
viêm gan măn tính tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Người ta ước đoán từ 1 đến
2% tổng số dân chúng toàn cầu, nghĩa là khoảng 100 triệu người đang bị viêm gan
C. Với tỷ lệ 1.9%, nước Mỹ có khoảng 4 triệu bệnh nhân viêm gan C. Trong đó sẽ
có từ 8 đến 10 ngàn người thiệt mạng mỗi năm. Riêng tại Quận Cam, nơi có nhiều
người Việt cư ngụ, trong năm 2002 có 2,166 trường hợp mắc bệnh viêm gan C măn
tính trong số đó 228 là người Việt.
NGUỒN GỐC CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN C
Vi khuẩn viêm gan C là một loại vi khuẩn RNA kỳ lạ với khả năng thay đổi đặc
tính di truyền một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tuy đă lan tràn khắp nơi trên
thế giới từ hơn hai ngàn năm qua, măi tới những năm 1990, người ta mới khám phá
ra sự hiện diện của vi khuẩn này.
Tuy những cơn "dịch vàng da" lây từ thức ăn và nước uống đă được mô tả từ nhiều
năm trước Chúa Giáng Sinh, nhưng măi đến cuối thế kỷ thứ 19, người ta mới bắt
đầu hồ nghi là bệnh viêm gan cũng có thể lây qua máu và kim chích. Rồi hơn 3
phần tư thế kỷ trôi qua, với phát minh của một số phương thức thử nghiệm máu,
người ta bắt đầu nhận diện được một loại vi khuẩn viêm gan mới. Qua sự khám phá
này, họ tin rằng có 2 loại vi khuẩn gây ra bệnh viêm gan. Một loại lây qua thức
ăn; đó là vi khuẩn viêm gan A. Một loại lây qua máu; đó là vi khuẩn viêm gan B.
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, người ta nhận thấy điều này không hoàn toàn
đúng, v́ đa số bệnh nhân viêm gan không phải do vi khuẩn viêm gan A hoặc B gây
ra. V́ thế danh từ "non-A, non-B hepatitis" ra đời vào đầu năm 1974, để diễn tả
những trường hợp này.
Sau hơn một phần tư thế kỷ, với kỹ thuật nghiên cứu các phân tử cực kỳ nhỏ bé
(molecular biologic techniques), các khoa học gia đă khám phá thêm một vi khuẩn
viêm gan thứ ba. Đó là vi khuẩn viêm gan C. Trong ṿng một thời gian ngắn, họ đă
phát họa được cơ cấu và h́nh thù của vi khuẩn viêm gan này một cách chi tiết với
từng chất hóa học xếp dọc theo thứ tự trên "chuỗi" nhiễm thể RNA. Khám phá này
là một điểm son lịch sử, dẫn đầu cho hàng loạt những khám phá quan trọng kế tiếp
trong việc chữa trị bệnh viêm gan C. Song song vơí những cuộc nghiên cứu công
phu và tỷ mỷ về những bệnh nhiễm trùng khác, nhất là bệnh AIDS, sự hiểu biết về
vi khuẩn viêm gan C và cách thức chữa bệnh tiếp tục tăng trưởng một cách rất khả
quan.
ĐẶC TÍNH CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN C
Vi khuẩn viêm gan C cực kỳ nhỏ bé, với đường kính là 50 nm, nên phải nh́n dưới
kính hiển vi điện tử mới thấy được. Vi khuẩn được bảo vệ bởi một lớp vỏ kiên cố,
nên phải nấu sôi lên 100 độ C trong ṿng 5 phút mới có thể tiêu diệt được chúng.
Khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn viêm gan C có khuynh hướng tàn phá và tiêu hủy
gan của chúng ta một cách tương đối chậm chạp nhưng chắc chắn, đưa tới viêm gan
(inflammation, hepatitis), xơ gan (liver fibrosis), chai gan (liver cirrhosis)
và ung thư gan (liver cancer).
Trong lúc tăng trưởng, chúng có khả năng thay đổi đặc tính di truyền RNA của
ḿnh, "hóa trang" và "biến dạng" thành nhiều "h́nh thù" khác nhau. Khả năng biến
hóa này đă giúp chúng thoát khỏi ṿng kiểm soát chặt chẽ của hệ thống miễn nhiễm
(immune system). V́ thế, sau một thời gian ngắn, cơ thể chúng ta, có thể chứa
đựng hàng tỷ vi khuẩn viêm gan C với nhiều mă di truyền khác nhau, với những
chiếc "áo giáp" khác nhau.
Sự biến đổi chất nhiễm thể trong hơn 2000 năm qua, đă tạo ra nhiều "kiểu gene"
khác nhau (genotypes) với những tên như vi khuẩn viêm gan C số 1, vi khuẩn viêm
gan C số 2, vi khuẩn viêm gan C số 3, v.v. Trong mỗi "genotype" này, người ta
c̣n phân chia thành những tiểu loại (subtypes) a, b, c, d, e, v.v., dựa theo một
số đặc tính chính yếu khác nhau. V́ thế vi khuẩn viêm gan C được phân loại thành
viêm gan C 1a, 1b, 1c, 2a, 2b, 2c, 2d, 3a, 3b, 3c, 3d, 3f, 4a, 4b v.v. Khám phá
này ban đầu chỉ dùng trong những cuộc khảo cứu, nhưng nay đă trở thành một lối
thử máu vô cùng quan trọng trong quá tŕnh chữa bệnh viêm gan C.
Trong các loại vi khuẩn viêm gan C, loại genotype số 1 chiếm tỷ lệ cao nhất trên
thế giới nói chung và ở nước Mỹ nói riêng với 35% loại 1a và 35% loại 1b. Loại
1b cũng được t́m thấy nhiều nhất ở Âu châu, Nhật Bản cũng như Đài Loan. Loại số
3 thường thấy ở Pakistan, Úc, Scotland. Loại số 4 ở Trung Đông và Châu Phi cũng
như South Africa. Loại số 6 tại Hồng Kông và Macau. Hơn 50% bệnh nhân Việt Nam
đang được chữa trị bệnh viêm gan C trong pḥng mạch của tôi thuộc loại 1a hoặc
1b. Phần c̣n lại thuộc loại số 6 hoặc số 7. Một số ít thuộc số 2/3. Nói một cách
tổng quát, các loại genotypes đều "nguy hiểm" như nhau, nhưng vi khuẩn viêm gan
C loại 2 và 3 dễ chữa nhất. Loại số 1, nhất là 1b khó chữa hơn cả.
CHÍCH NGỪA VIÊM GAN C?
Như tŕnh bầy ở trên, với khả năng biến đổi đặc tính di truyền bằng cách thay thế những chất hóa học trên nhiễm thể của ḿnh, vi khuẩn viêm gan C đă thoát khỏi "mạng lưới pḥng thủ" của hệ thống miễn nhiễm. Đây cũng là lư do chính, mà cho tới nay, người ta vẫn chưa t́m được thuốc chích ngừa cho bệnh viêm gan C.
1) LÂY QUA MÁU:
Bệnh dễ lây nhất qua máu. Trước năm 1992, nhận máu (blood transfusion) là nguyên
nhân chính đưa đến viêm gan C. Lúc bấy giờ y-khoa chưa có cách thử máu để truy
tầm vi khuẩn viêm gan C, nên một trong 200 đơn vị máu đă có ít nhất một túi máu
không may bị ô nhiễm. Ngày nay, với các loại test chính xác và hiệu nghiệm, nhận
máu trở nên an toàn hơn nhiều với tỷ lệ lây bệnh viêm gan C trong lúc nhận máu
là 1 trên 100.000.
2) LÂY QUA DỤNG CỤ Y KHOA:
Vi khuẩn viêm gan C có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua kim chích, đồ cạo
râu, lưỡi lam hoặc bàn chải đánh răng, xâm ḿnh (tattoo), cạo gió (coin
rubbing), lể (Skin Puncture), châm cứu (acupuncture) hoặc mổ xẻ với những dụng
cụ y-khoa, kim chích không được khử trùng đúng cách.
Trong hoàn cảnh thiếu thốn của những năm chiến tranh, cách thức khử trùng thô sơ
của kim chích đă gây mưng mủ (abscess) một cách thường xuyên. Ngày nay với những
phương pháp khử trùng tối tân hơn, lây bệnh qua các dụng cụ y khoa như trong lúc
nhổ răng, châm cứu, mổ xẻ v.v. trở nên rất hiếm hoi, nếu không muốn nói là không
c̣n nữa.
3) LÂY TỪ MẸ:
Lây bệnh từ mẹ qua bé sơ sinh trong lúc sanh đẻ có thể xẩy ra, với tỷ lệ trên
dưới 5%. Sanh đẻ tự nhiên (vaginal delivery) hay giải phẫu lấy con (C-section)
đều có tỷ lệ lây bệnh tương đương như nhau. Bệnh dễ lây hơn nếu chỉ số máu của
người mẹ có hơn 2 đến 3 triệu siêu vi C trong mỗi một cc. Bệnh không lây qua sữa
mẹ, nên không phải kiêng cữ trong việc cho con bú.
4) LÂY QUA ĐƯỜNG SINH LƯ:
Tuy bệnh viêm gan C có thể lây trong lúc giao hợp với người có bệnh, điều này
hiếm khi xẩy ra, với tỷ lệ chưa đến 5%. V́ thế, cơ quan CDC cho rằng những vợ
chồng chung thủy hoặc t́nh nhân gắn bó (monogamous patients) không cần kiêng cữ
hoặc thay đổi đời sống t́nh dục. Những người "đào hoa" hơn với nhiều nhân t́nh
khác nhau nên "đeo" áo mưa (condom) để tránh lây bệnh viêm gan C, cũng như các
loại bệnh khác như hoa mai, giang liễu, AIDS, viêm gan B v.v.
Ngoài ra, một số bệnh nhân "tự nhiên" bị lây bệnh mà không biết nguyên nhân từ
đâu. Trong số này có khoảng 10% bệnh nhân viêm gan C cấp tính và 30% viêm gan C
măn tính. Người ta cho rằng trong những trường hợp này, bệnh nhân đă tiếp xúc
với vi khuẩn viêm gan C trong lúc té ngă, trầy trụa hoặc đứt tay chân mà không
hề hay biết.
Tuy một số vi khuẩn viêm gan C được t́m thấy trong mồ hôi và nước bọt, ăn uống
chung hoặc va chạm thể xác trong đời sống hằøng ngày với bệnh nhân viêm gan C,
không lấy ǵ là nguy hiểm.
TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM GAN C:
Cũng như viêm gan A và B, bệnh nhân viêm gan C thường không có bất cứ một triệu
chứng nào. Người ta chia ra làm 2 trường hợp: viêm gan cấp tính (acute) và viêm
gan măn tính (chronic).
1) VIÊM GAN C CẤP TÍNH:
Thông thường từ 7 đến 8 tuần sau khi bị lây bệnh, khoảng 30 % bệnh nhân viêm gan
C bỗng dưng cảm thấy hơi khó chịu như những cơn cảm cúm sơ sài. Bệnh không tấn
công gan một cách "ồ ạt" hoặc tàn phá một cách dữ dội, nên gần như sẽ không ai
thiệt mạng một cách "bất đắc kỳ tử" v́ căn bệnh này.
Một số bệnh nhân có thể bị nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức khớp xương và bắp thịt.
Nhiều khi họ cũng cảm thấy buồn nôn, khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, ăn kém ngon,
xuống kư. Đôi khi bị sốt hoặc nổi ngứa. Khoảng 30% bệnh nhân viêm gan C da và
mắt trở nên vàng (jaundice). Các triệu chứng này thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần
và từ từ thuyên giảm, rồi hoàn toàn biến mất sau một thời gian ngắn. Bấy giờ,
bệnh có thể sẽ nằm vào giai đoạn a) "ngủ yên", không hoạt động (dormant, less
active), hoặc b) tiếp tục tăng trưởng (chronic active).
Cho tới nay, người ta vẫn chưa rơ, nguyên nhân và điều kiện nào sẽ gây ảnh hưởng
trực tiếp đến "số phận" của bệnh nhân viêm gan C. Nghĩa là ai sẽ được may mắn
nằm trong trường hợp "ngủ yên", và ai sẽ tiếp tục bị bệnh viêm gan tàn phá cơ
thể của ḿnh. Nhưng một điều chắc chắn là khoảng 80 đến 90% bệnh nhân một khi bị
lây bệnh viêm gan C mặc dầu sống rất khỏe mạnh, sẽ từ từ đi vào giai đoạn nguy
hiểm hơn: viêm gan C măn tính.
2) VIÊM GAN C MĂN TÍNH (Chronic Active Hepatitis):
a) Triệu Chứng Sơ Khởi:
Mặc dầu gan mỗi ngày một "yếu" đi, đa số bệnh nhân trong thời gian này vẫn chưa
có bất cứ một triệu chứng nào đáng kể. Chỉ khoảng 6% bệnh nhân viêm gan C mới có
một vài triệu chứng tiêu biểu. Nhưng những triệu chứng này cũng rất mơ hồ và rất
nhẹ, nên thường không được để ư tới. Triệu chứng thường xuyên nhất là mệt mỏi,
thường vào xế chiều. Khả năng tập trung tư tưởng có thể giảm dần một cách tương
đối nhanh chóng.
Một ít người cảm thấy đau "lââm râm", "nhoi nhói" phần bụng trên dưới xương sườn
bên phải hoặc buồn nôn, khó chịu, da nổi ngứa, đau khớp xương và bắp thịt. Nếu
không được khám phá và chữa trị kịp thời, bệnh mỗi ngày một nặng hơn. Gan mỗi
ngày một viêm hơn, đưa đến xơ gan, rồi chai gan.
b) Hậu Quả Lâu Dài:
Thông thường, sau một thời gian trung b́nh là 20 năm, gan bắt đầu bị xơ và từ từ
biến qua chai. Trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, thời gian chuyển hóa từ
viêm đến chai có thể kéo dài hơn 50 năm. Tốc độ chai gan của mỗi cá nhân, v́
thế, c̣n lệ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau. Quan trọng nhất là
trạng thái sưng đỏ của tế bào gan, khi bệnh mới được khám phá. Khi xác nghiệm tế
bào dưới kính hiển vi, người ta có thể ước đoán được thời gian cần thiết để tế
bào gan sẽ đi từ viêm sang chai.
c) Yếu Tố và Điều Kiện Bất Lợi:
Nhiều dữ kiện khác nhau có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển của
bệnh viêm gan C. V́ thế bệnh có thể phát triển nhanh chóng hơn dự tính gấp nhiều
lần. Những người bị viêm gan C sau khi nhận máu nhiễm khuẩn, sẽ bị chai gan
nhanh hơn (thường từ 8 đến 14 năm sau khi bị lây bệnh). Có lẽ trong lúc nhận
máu, cơ thể đă bị "tấn công" và xâm lấn một cách "ồ ạt" bởi hàng tỷ vi khuẩn vi
viêm gan C cùng một lúc, nên gan bị viêm nặng hơn.
Rượu bia, nếu uống quá nhiều sẽ gây tổn thương tế bào gan, và gan sẽ bị chai
nhanh hơn. Người viêm gan C măn tính mà uống quá nhiều rượu bia, không khác ǵ
như "châm dầu vào lửa".
Một số thuốc khác nhau cũng có thể làm cho lá gan bị chai nhanh hơn. V́ thế,
người viêm gan C nên rất thận trọng khi uống bất cứ một loại thuốc nào, ngay cả
các loại thuốc cỏ cây bày bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.
Gan cũng sẽ bị hư nhanh chóng hơn nếu cùng một lúc bệnh nhân bị nhiễm trùng bởi
nhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau. Đây là trường hợp khi bệnh nhân bị cùng
một lúc nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau như viêm gan B, viêm gan C, viêm
gan D hoặc bệnh HIV-AIDS.
May mắn thay, không phải ai bị viêm gan C cũng sẽ bị chai gan. Và trên lư thuyết
chỉ khoảng 5% bệnh nhân viêm gan C mới bị thiệt mạng bởi căn bệnh này. Tuy thế,
với 2% tổng số dân chúng toàn cầu, viêm gan C đă trở thành một trong những căn
bệnh nguy hiểm nhất trong thế kỷ 21. Riêng tại Mỹ, sẽ có khoảng 8 đến 10 ngàn
người thiệt mạng mỗi năm.
BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM GAN C
Ngoài đặc tính cơ bản của bệnh truyền nhiễm (infectious disease), bệnh viêm gan
C có thể gây ra một số triệu chứng điển h́nh của những bệnh liên quan đến hệ
thống miễn nhiễm (auto-immune diseases). Cơ thể người bị viêm gan C có thể tích
trữ một số chất đạm (protein) và kháng thể khác nhau nhiều hơn b́nh thường. Khi
những chất hóa học này thể trở nên quá thặng dư, chúng sẽ gây ra một số bệnh tật
như đau nhức khớp xương, mệt mỏi/yếu đuối, nổi mề đay, suy thận cũng như
lymphoma.
Một số bệnh về nội tiết (endocrinology) cũng có thể bị ảnh hưởng một cách trực
tiếp với bệnh viêm gan C. Trong đó có các bệnh của tuyến giáp trạng (thyroid
diseases), bệnh tiểu đường (diabetes mellitus), bệnh Sjogren (gây ra khô miệng,
khô môi v.v.).
CÁCH ĐỊNH BỆNH & CHỮA BỆNH VIÊM GAN C
Phương thức định bệnh và chữa bệnh viêm gan C tiến bộ nhanh chóng và thay đổi
không ngừng. Từ một căn bệnh mà chỉ vài năm trước đây, người ta vẫn thường "lắc
đầu, bó tay" và xem như là "không thuốc chữa", bệnh viêm gan C ngày nay có thể
được chữa trị một cách tương đối dễ dàng. Với ứng dụng của thuốc PEG-Interferon,
đa số bệnh nhân viêm gan C, ngày nay, có thể hoàn toàn hết bệnh trong một thời
gian lâu dài. Điều này, một lần nữa nói lên sự quan trọng trong việc truy tầm
bệnh viêm gan C trong cộng đồng người Việt chúng ta, tại hải ngoại cũng như quốc
nội.
Cho đến nay, thử máu định kỳ hằng năm vẫn là phương pháp thường xuyên nhất trong
việc khám phá bệnh viêm gan C. Khi thử máu tổng quát, phân hóa tố ALT có thể
tăng lên cao, cho biết gan có thể bị viêm. Và từ đó người y sĩ sẽ tiếp tục t́m
kiếm thêm những nguyên nhân đưa đến bệnh viêm gan.
Sau đây là những thí nghiệm căn bản mà quư vị sẽ gặp trong lúc được chữa trị
bệnh viêm gan C:
1) THỬ MÁU:
a) Phân hóa tố ALT:
Đây là một chất hóa học t́m thấy khắp nơi trong cơ thể. Nhiều nguyên nhân và
điều kiện khác nhau có thể làm chất ALT tăng cao một cách bất b́nh thường. Trong
đó viêm gan (hepatitis) là nguyên nhân chính.
Tôi vẫn thường so sánh phân hóa tố này như là khói bốc lên từ một căn nhà đang
bị cháy; mà "nhà" là lá gan của chúng ta. Nếu khói (chất ALT) bốc lên ngùn ngụt,
nhà đang cháy to, gan bị viêm nặng. Nếu khói chỉ "phản phất" lưa thưa, nhà không
cháy lớn, gan viêm "sơ sơ". Tiếc thay, điều này không giản dị như vậy. Mặc dầu "không
có lửa, sao có khói?", đôi khi khói không phải từ căn nhà đang bị cháy, mà bốc
lên từ các "bếp than", "ḷ củi". Đó là trường hợp của gan KHÔNG bị viêm, mà chất
ALT lại rất cao. Hơn nữa, nếu "nhà" không có khói, đâu có nghĩa là nhà không bị
cháy. Có thể lứa đang âm ỉ bên trong nên chưa bộc phát ra ngoài. Hoặc nhà nay đă
"rụi" thành tro, nên không c̣n ǵ để cháy (Đó là trường hợp khi gan đă chai mà
chất ALT hoàn toàn không thay đổi). Người ta nhận thấy, khoảng 30% những bệnh
nhân viêm gan C, tuy năng chất của gan (ALT/AST) không hề tăng cao, gan của họ
vẫn bị viêm măn tính nếu được thử nghiệm dưới kính hiển vi. V́ thế, ngày nay một
số trường phái có khuynh hướng sinh thiết lá gan cho tất cả bệnh nhân đă và đang
mắc bệnh viêm gan C (nghĩa là khi thử máu HCV-antibody trở nên dương tính), bất
chấp kết quả cao hay thấp của chất ALT/AST.
b) BILIRUBIN:
Đây là chất cặn bă từ những hồng huyết cầu già nua bị phế thải trong chu kỳ tuần
hoàn của máu. Chất mật vàng này, thông thường được biến chế bởi các tế bào gan
trước khi theo phân và nước tiểu ra ngoài (Mầu vàng của phân và nước tiểu là do
chất bilirubin gây nên). Trong một số bệnh liên quan đến gan, chất bilirubin này
tăng cao. Khi cao hơn 3.5 đến 4 mg/dl, da và mắt có thể bị vàng (jaundice).
c) HCV-AB
Viết tắt từ chữ Hepatitis C Virus-Antibody. Nếu kết quả thử máu này dương tính,
nghĩa là chúng ta đang bị bệnh viêm gan C. Chất kháng thể này được chế tạo từ
những bạch huyết cầu của hệ thống miễn nhiễm, nhưng không đủ khả năng tiêu diệt
vi khuẩn viêm gan C.
d) QUANTITATIVE HCV-RNA
Đây là một test máu quan trọng, để theo dơi sự tiến triển của bệnh trong lúc
đang được điều trị. Với một phương pháp đặc biệt, người ta sẽ đếm tổng số vi
khuẩn viêm gan C trong một cc máu trước và trong khi chữa bệnh. Thuốc được xem
là không hiệu lực, nếu số lượng không thuyên giảm sau 3 tháng chữa bệnh.
e) GENOTYPES
Thời gian trị liệu bệnh viêm gan C sẽ tùy thuộc vào kết quả của cuộc thử máu này.
Nếu genotype là loại số 1, bệnh nhân cần chữa khoảng một năm. Nếu là loại số 2
hoặc 3, chỉ cần chữa 6 tháng mà thôi. Những loại khác có thể chữa từ 6 đến 12
tháng, tùy theo từng trường hợp.
f) ALFA-FETO-PROTEIN
Đây là một chất đạm có thể tăng cao trong trường hợp khi gan biến thành ung thư.
Nhưng trong một số điều kiện hoặc bệnh tật khác nhau, chất hóa học này cũng có
thể cao hơn b́nh thường. Người bị viêm gan măn tính v́ bất cứ một lư do nào, cần
phải theo dơi chất hóa học này một cách thường xuyên.
g) Tiểu Cầu (thrombocytes)
Hay c̣n được gọi là platelets, là những mảnh/khúc nhỏ từ tế bào "mẹ"
megakaryocyte nằm trong tủy xương. Khi bị chảy máu, các tiểu cầu này sẽ bài tiết
ra một số chất hóa học cần thiết trong việc đông đặc máu. Người bị chai gan
thường có ít tiểu cầu hơn người thường.
h) PT/aPTT
Viết tắt từ chữ Prothrombin Time và activated Partial Thromboplastin Time. Hai
loại test này đo thời gian cần thiết để máu đông đặc lại. Khi năng chức của gan
giảm dần, thời gian cô đọng máu trở nên dài hơn, và bệnh nhân dễ bị chảy máu hơn.
2) SIÊU ÂM GAN (Ultrasonography hoặc Ultrasound Study):
Phương pháp này cho ta một khái niệm về h́nh thù và kích thước của gan. Nếu gan
bị chai, gan có thể sẽ nhỏ hơn b́nh thường. Mặt ngoài của gan có thể bị lồi lơm.
Phương pháp thử nghiệm này cũng có thể nhận diện được một số bệnh tật khác, như
bướu hoặc ung thư (tumor), sạn trong túi mật (gallstone), gan đóng mỡ (fatty
liver).
Với ứng dụng của Doppler, sự di chuyển của máu qua lá gan cũng có thể được nhận
diện một cách khác chính xác. Ngoài ra, siêu âm bụng cũng là một phương pháp rất
tốt, để xem bệnh nhân có bị cổ trướng (ascites) hay không.
3) SINH THIẾT (Liver biopsy)
Để thử nghiệm dưới kính hiển vi, tế bào gan sẽ được lấy ra bằng một kim rất nhỏ,
đâm giữa xương sườn vào thẳng lá gan. Một ít thuốc tê sẽ được dùng trong phương
pháp này nên bệnh nhân chỉ cảm thấy hơi thôn thốn, khó chịu chứ không đau đớn
cho lắm. Để giảm thiểu những biến chứng không may (complications), chỗ kim chích
sẽ được hướng dẫn bằng máy siêu âm.
Sinh thiết làm rất nhanh, chưa đầy mười phút từ lúc siêu âm, tiêm thuốc tê đến
lúc sinh thiết. Sau đó, bệnh nhân sẽ được quan sát tại nhà thương trong ṿng 6
đến 8 tiếng trước khi về nhà nghỉ ngơi. Đây là một phương pháp tương đối an toàn.
Một vài biến chứng như chảy máu, lủng phổi, ruột v.v. có thể xẩy ra, nhưng
thường hiếm hoi, và có thể chữa trị được. Thí nghiệm này tuy tốn kém nhưng có
thể mang lại cho người y sĩ nhiều dữ kiện quan trọng trong việc định bệnh và
chữa bệnh viêm gan.
Sau đây là bản tường tŕnh về diễn tiến chai gan dựa vào quan sát mô học
(histology) của khảo nghiệm tế
Nếu dựa theo bản thống kê kể trên, một người bệnh với kết quả khảo nghiệm gan là
"viêm khá nặng" sẽ có nguy cơ bị chai gan là 25% sau 5 năm, 44% sau 10 năm và
95% sau 20 năm. Nếu người đó mới 30 tuổi khi được khám phá ra bệnh, bệnh nhân đó
chắc chắn sẽ bị chai gan trước 50 tuổi. Mặt khác, 60 đến 70% bệnh nhân viêm gan
nặng hoặc bị sơ gan sẽ bị chai gan trong ṿng 5 năm. Điều này cho thấy sự quan
trọng trong việc truy tầm vàø khám phá ra bệnh trong những giai đoạn đầu tiên.
THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM GAN C:
Vào năm 1986, nghĩa là trước khi vi khuẩn viêm gan C được khám phá, người ta đă
t́m thấy ứng dụng của một loại thuốc trong việc chữa trị bệnh viêm gan, mà bấy
giờ vẫn được gọi là "non-A, non-B". Đó là Interferon, một trong nhiều loại thuốc
được dùng để chữa một số bệnh nhiễm trùng và ung thư.
INTERFERON
Interferon là một trong những chất hóa học quan trọng trong hệ thống miễn nhiễm
của chúng ta. Khi bị cảm cúm hoặc nhiễm trùng chất hóa học này sẽ được chế tạo
nhiều hơn từ các bạch huyết cầu và luân chuyển khắp nơi trong cơ thể. Nhờ vào
chất Interferon này, hệ thống miễn nhiễm sẽ nhận diện các vi khuẩn hoặc vi trùng
"bất hợp pháp" một cách nhanh chóng và tiêu diệt chúng một cách dễ dàng. Tuy
nhiên, như viết ở trên, với khả năng "trá h́nh" tài t́nh, vi khuẩn viêm gan C có
thể "công khai" tàn phá cơ thể chúng ta mà hệ thống miễn nhiễm vẫn tiếp tục "ngủ
quên". Chích Interferon vào cơ thể người đang bị bệnh, v́ thế không khác hơn là
tiếp tế "súng đạn" cho một "nước đang bị giặc xâm lăng".
Cho tới nay nhiều loại Interferon khác nhau như Interferon alfa-2b (Intron-A của
hăng Schering), Interferon alfacon-I (Infergen của hăng Amgen) và Interferon
alfa-2a (Roferol của hăng Roche) đă được dùng trong việc chữa trị bệnh viêm gan
C. Khi dùng thuốc này, bệnh nhân tự chích một ít thuốc vào dưới da (subcutaneous
injection) bằng một kim rất nhỏ (giống như kim chích cho người bị tiểu đường),
một tuần 3 lần. Thường chích vào buổi tối trước khi đi ngủ. Nếu ứng dụng đúng
cách tất cả các loại thuốc này đều đạt được một thành quả tương tự như nhau.
Tiếc thay, nếu dùng đơn phương (monotherapy), các loại thuốc này chỉ có khả năng
chữa hết bệnh cho khoảng 15 đến 35% tổng số bệnh nhân được chữa. Và trong một số
lớn bệnh nhân bệnh lại tái phát sau một thời gian nghỉ thuốc. Điều này đă mang
lại nhiều thất vọng cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân.
Trong những năm vừa qua, nhờ vào những khám phá và kinh nghiệm rút tỉa từ phương
thức trị liệu bệnh HIV/AIDS, lối chữa bệnh viêm gan C trở nên tinh vi hơn. Với
khuynh hướng pha trộn nhiều loại thuốc khác nhau (combination therapy), tỷ lệ
lành bệnh tăng nhanh. Một thí dụ điển h́nh là lối chữa bệnh viêm gan C cùng một
lúc với 2 loại thuốc: Interferon và ribavarin.
RIBAVARIN
Ribavarin là một loại thuốc viên, được bán trên nước Mỹ dưới nhăn hiệu là
Rebetol, của hăng Schering và Copegus, của hăng Roche. Thuốc thuộc gia đ́nh
Guanosin, đă và đang được dùng như thuốc bơm vào phổi (inhalant) cho trẻ em mắc
bệnh phổi do syncytial virút gây ra. Chất hóa học của thuốc này có h́nh dáng
tương tự như những đơn vị của nhiễm thể RNA. Người ta tin rằng chất ribavirin,
nếu uống đúng dose có thể ngăn cản sự tăng trưởng của các vi khuẩn. Tuy nhiên,
thuốc này nếu dùng "một ḿnh" sẽ không đủ "sức" để tiêu diệt vi khuẩn viêm gan
C.
Nhưng khi dùng chung với thuốc chích interferon (Combination Therapy), thuốc này
mang lại một kết quả chữa bệnh không ngờ. Trong phương pháp này vi khuẩn viêm
gan C sẽ bị "tấn công" trên nhiều "mặt trận" khác nhau. Trong lúc interferon
tăng cường hệ thống miễn nhiễm và ngăn cản vi khuẩn viêm gan tấn công các tế bào
chưa bị hư, chất ribavarin sẽ ngăn cản không cho các vi khuẩn đă có trong cơ thể
tiếp tục tăng trưởng.
Gần đây nhất, người ta lại khám phá thêm một loại interferon mới, tốt hơn với tên là pegylated interferon. Thuốc này có nhiều lợi điểm so với các loại interferon cũ. Với bán thời (half life) dài hơn, thuốc chỉ cần chích mỗi tuần một lần, thay v́ tuần 3 lần so với thuốc Intron-A. Hai tên thuốc điển h́nh đang được dùng tại Hoa Kỳ là PegIntron (Peginterferon alpha-2b) và Pegasys (Peginterferon alpha-2a).
Công hiệu của thuốc này cũng khả quan hơn nhiều, với xác xuất hoàn toàn hết bệnh (cure rate) lên đến 88% cho bệnh nhân viêm gan C loại số 2 và 3, nếu chích chung với thuốc uống ribavarin trong ṿng 6 tháng. Và khoảng 50% bệnh nhân viêm gan C loại "cứng đầu", khó chữa như loại số 1a/1b, sẽ hoàn toàn hết bệnh trong một thời gian lâu dài, nếu được chữa trong ṿng một năm. Sau khi chữa xong, bệnh có thể tái phát với tỷ lệ 0.8% sau một năm, và 1.8% sau 2 năm. Nếu sau 4 năm mà bệnh không hề tái phát, nghĩa là chất ALT trong máu vẫn hoàn toàn b́nh thường cũng như tổng lượng vi khuẩn viêm gan C vẫn không t́m thấy (Undetectable Quantitative HCV-RNA), bệnh được xem là hoàn toàn hết.
NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT KHI CHỮA TRỊ BẰNG THUỐC RIBAVARIN.
a) Thuốc chỉ dùng cho bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên mà thôi. Không dùng cho trẻ
em. V́ thuốc có nhiều phản ứng phụ, một số bác sĩ khuyên bệnh nhân lớn hơn 65
tuổi không nên chích thuốc này. Bệnh nhân phải có khả năng tự chích lấy hoặc
liên lạc với bác sĩ của ḿnh trong trường hợp bị quá nhiều phản ứng phụ của
thuốc.
b) V́ thuốc ribavarin có thể gây ra quái thai, thai nghén trong thời gian chữa
trị phải được ngăn ngừa một cách tuyệt đối. Nếu một trong hai vợ chồng uống
thuốc ribavarin, cả vợ lẫn chồng đều phải dùng phương pháp ngừa thai (double
protection). Vợ uống thuốc ngừa thai. Chồng dùng "bao cao-xu". Đây là để tránh
hậu quả vô cùng tai hại có thể xẩy ra, nếu không pḥng ngừa cẩn thận. Nếu muốn
có con, quư vị phải chờ ít nhất 6 tháng sau khi chữa xong bệnh.
Người vợ ở lứa tuổi có thể có con (bệnh nhân hay phu thê của bệnh nhân) phải
được thử thai (pregnancy test) hằng tháng. Nếu chẳng may, quư vị hoặc người vợ
của ḿnh có thai trong lúc chữa trị, xin quư vị liên lạc GẤP với bác sĩ của ḿnh.
c) Những kim chích sau khi đă dùng xong, phải được cất giữ cẩn thận trong những
hộp đựng kim đặc biệt, để tránh t́nh trạng lây bệnh cho người khác. Thường các
pḥng thử nghiệm máu có thể giúp quư vị tiêu hủy những hộp đựng kim này theo
tiêu chuẩn ấn định bởi bộ y tế. Các loại thuốc chích phải được tích trữ trong tủ
lạnh.
Nếu đi du lịch, quư vị nên đựng thuốc trong hộp nhựa và đá khô để thuốc không bị
hư. Hộp này được cung cấp miễn phí bởi hăng thuốc.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ BỚT PHẢN ỨNG PHỤ?
Interferon có thể gây ra nhiều phản ứng phụ khác nhau. Chúng có thể rất khó chịu
trong vài tuần lễ đầu, nhưng sẽ giảm dần, một khi cơ thể bắt đầu "quen thuốc".
Một số người may mắn không gặp bất cứ một trở ngại nào đáng kể trong khi chích
thuốc. Nhưng ngược lại, trong một số bệnh nhân, các phản ứng phụ có thể nặng đến
nỗi tưởng như "không chịu được" và phải "bỏ cuộc" không tiếp tục điều trị nữa.
Trong trường hợp này, xin quư vị đương nản ḷng và mất kiên nhẫn.
V́:
Hy vọng những đề nghị sau đây có thể giúp cuộc "vượt trùng vượt núi" của Quư vị
trở nên dễ dàng hơn.
1) Interferon có những phản ứng phụ tương tự như những cơn cảm cúm. Bệnh nhân thường cảm thấy hâm hấp nóng, mệt mỏi, đau nhức ḿnh mẩy cũng như tay chân, sau khi chích thuốc. Người mệt mỏi, rét lạnh. Miệng khô đắng, khó chịu hoặc cảm thấy buồn nôn. Thức ăn trở nên vô vị. Ăn kém đi, bệnh nhân có thể mất kư. Tóc có thể mỏng dần hoặc thưa thớt. Triệu chứng kể trên thường nặng nhất trong 2 tuần lễ đầu, nên quư vị có thể xin nghỉ việc trong thời gian khó khăn này. Đây là thử thách đầu tiên và cũng là quyết liệt nhất. May mắn thay, các triệu chứng sẽ từ từ giảm dần, nếu tiếp tục chích. Để tránh rụng tóc, quư vị có thể dùng các loại thuốc gội đầu hiệu Nioxin.
2) Các triệu chứng kể trên thường bắt đầu xuất hiện từ 4 đến 6 tiếng sau khi chích. V́ thế, quư vị nên chích trước khi đi ngủ. Khi ngủ say chúng ta sẽ không cảm thấy mệt mỏi. Uống từ một đến hai viên Advil 400 mg (ibuprofen) hoặc 2 viên Tylenol (acetaminophen 500mg) trước hoặc sau khi chích sẽ giúp cơ thể dễ chịu hơn. Không nên uống thuốc Tylenol quá liều, nhất là nếu uống chung với rượu hoặc bia. Gan có thể bị hủy hoại một cách nhanh chóng.
3) Nên chích thuốc pegylated Interferon vào tối thứ Sáu. Như thế, phản ứng phụ nếu có sẽ nhiều nhất vào những ngày cuối tuần, không phải đi làm việc.
4) Nên uống thật nhiều nước. Nên cữ cà-phê và rượu. Khi quá mệt, nên nghỉ ngơi thường xuyên. Khi buồn nôn, nên ăn thành nhiều bữa, tránh dầu mỡ. Nên ăn nhiều rau luộc và trái cây ngọt, cũng như những thức ăn lặt vặt để tránh t́nh trạng mất kư. Khi miệng khô hoặc đắng chát, nên đánh răng nhiều lần, hoặc xúc miệng thường xuyên. Một số bệnh nhân bị lở miệng và lưỡi trong khi chích thuốc, họ có thể xúc miệng bằng waterperoxide H2O2 pha chung với nước ấm (pha nửa nước, nửa thuốc).
5) Tập thể dục nhẹ. Ban đầu nên tập những động tác làm "giăn gân, giăn cốt" vào
mỗi sáng và buổi chiều trước bữa ăn tối. Tập thể dục thường xuyên không những
làm cơ thể chúng ta được thoải mái, mà c̣n có thể giảm đi sự đau đớn khớp xương
và bắp thịt do thuốc gây ra.
Tập thể dục theo lối Tai-Chi, tập gậy dưỡng sinh của cụ Mai Bắc Đẩu, hay một số
phương pháp luyện khí công v.v. cũng có thể giúp cơ thể chúng ta vượt qua những
phản ứng phụ của thuốc một cách tương đối dễ dàng hơn.
6) Interferon cũng có thể thay đổi tính t́nh hoặc gây ảnh hưởng trực tiếp đến tâm thần của bệnh nhân. Người bệnh có thể trở nên bực bội, cáu kỉnh, dễ nổi nóng, mất tự chủ. Tập trung tư tưởng trở nên khó khăn. Nguy hiểm nhất là buồn phiền, chán đời, không muốn sống và nhiều khi có ư định tự tử. Trong lúc chữa trị, quư vị, v́ thế nên chia sẻ những sực đổi thay "kỳ lạ" của cơ thể ḿnh với người thân trong gia đ́nh. Nhất là, khi quư vị cảm thấy khác thường, không kiểm soát được đầu óc của ḿnh, buồn bực một cách quá đáng với ư định tự tử, quư vị hăy liên lạc ngay với bác sĩ của ḿnh, càng sớm càng tốt, dù ngày hay đêm. (Nhưng nếu chỉ bị mất ngủ một chút như trong trường hợp của cô T. kể trên, quư vị có thể chờ đến sáng hôm sau cũng được.)
7) Khi nhức đầu, có thể dùng những phương pháp khác nhau để "relax". Nghe nhạc êm diệu, đừng quá chói tai. Tránh xem TV quá lâu. Massage nhè nhẹ hai bên thái dương và cổ.
8) Ngoài ra, interferon có thể thuyên giảm nhiệm vụ của tủy xương gây ra thiếu máu. Thiếu hồng huyết cầu (red blood cell) người dễ mệt. Thiếu bạch cầu (white blood cell) cơ thể dễ bị nhiễm trùng. Và thiếu tiểu cầu (platelet cell) cơ thể dễ bị chảy máu. V́ thế trong khi chữa trị, quư vị sẽ phải đi thử máu rất nhiều lần, gần như mỗi tháng một lần.
9) Một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của thuốc Interferon là nhồi máu cơ tim (heart attack). Trường hợp này có thể xẩy ra cho bất cứ một ai trong lúc chích thuốc. Tuy nhiên những người sau đây sẽ có nguy cơ bị đau tim nhiều hơn: a) người đang bị cao áp huyết máu, b) người đang bị tiểu đường, c) người có chất Cholesterol quá cao, d) người hút thuốc lá, e) người quá lớn tuổi (thường hơn 65 tuổi trở lên). V́ thế, nếu trong lúc chữa trị, quư vị phải gọi ngay số 911, nếu bỗng dưng bị đau tim, tức ngực, khó thở.
10) Hiện nay trên nước Mỹ, nhiều nhóm hỗ trợ (support groups) được thành lập để bệnh nhân có dịp chia sẻ kinh nghiệm bản thân cho nhau, cũng như giúp đỡ lẫn nhau trong lúc chữa trị. Xin Quư vị liên lạc với bác sĩ của ḿnh về những địa chỉ cũng như số phone liên lạc của những nhóm gần nơi Quư vị đang cư ngụ.
ZADAXIN (Thymosin Alpha 1):
Đây là một loại thuốc mới đang được ứng dụng trong việc chữa trị bệnh viêm B và
C. Cũng như Interferon thuốc này là một trong những hóa chất mà cơ thể chúng ta
tự chế tạo để kích thích và tăng cường hệ thống miễn nhiễm. Người ta nhận thấy,
nếu thuốc này được chích dưới da 2 lần một tuần, những "cảm tử quân" trong hệ
thống miễn nhiễm như T-cell helper, Cytotoxic T-cell, Natural Killer cell sẽ
tăng nhanh và sẽ "tấn công" những tế bào gan đă bị nhiễm trùng một cách đắc lực
hơn. Thuốc được xem là an toàn và rất ít phản ứng phụ. Hy vọng thuốc này sẽ được
FDA chấp thuận trong một thời gian rất gần đây.
Trong một số ít bệnh nhân, trong lúc đang được chữa trị bằng thuốc Interferon,
phân tố hóa ALT tăng cao trở lại. Người ta cho rằng thuốc chích nay đă bị mất
hiệu lực v́ vi khuẩn viêm gan C lại một lần nữa dở "phép biến hóa" thay h́nh đổi
dạng. Với một số mă di truyền mới khác lạ, những vi khuẩn viêm gan C này không
c̣n bị tiêu hủy bởi thuốc interferon nữa. Mặt khác, người ta cũng tin rằng,
trong đa số những trường hợp kém may mắn này, thuốc Rebetron có thể đă hoàn toàn
không có một chút hiệu lực ngay từ đầu, và sự "b́nh thường hóa" của chất ALT chỉ
là một "t́nh cờ ngẫu nhiên" mà thôi. Sau đó, v́ gan vẫn tiếp tục bị viêm, chất
ALT sẽ "không sớm th́ muộn" tăng cao trở lại.
Ngoài ra người ta cũng cho rằng, trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, cơ thể bệnh nhân có thể hóa giải thuốc Interferon với những kháng thể khác nhau. (Đây là một lỗi lầm khác của hệ thống miễn nhiễm trong việc chống trả sự tấn công của vi khuẩn viêm gan C. Thay v́ đi "giết" quân thù, th́ chúng lại cho quân đi đánh "bạn đồng minh"). Những bệnh nhân này thường được xem là "chưa có thuốc chữa" và cần theo dơi một cách kỹ lưỡng. Một số trung tâm Đại Học có những phương thức chữa bệnh khác nhau với các loại thuốc đang trong ṿng nghiên cứu cho những trường hợp tương tự.
Tóm Tắt:
Viêm gan C là một căn bệnh dễ lây qua máu, nhưngkhông lây qua thức ăn, mồ hôi và nước bọt. Người bệnh vẫn có thể tiếp tục ăn uống, sống "chung chạ" trong gia đ́nh, mà không sợ lây bệnh cho người thân thương. Tùy theo từng loại vi khuẩn, thời gian chữa bệnh có thể kéo dài từ 6 tháng đến một năm. Với những thuốc mới hơn, kết quả chữa bệnh trở nên khả quan hơn với ít phản ứng phụ hơn.
Hy vọng trong một tương lai gần đây, nhiều loại thuốc tốt hơn nữa với ít phản ứng phụ hơn sẽ được dùng để chữa căn bệnh đáng ngại này. Nhiều nghiên cứu về thuốc mới với khả năng hủy hoại những phân hóa tố (enzymes) quan trọng của vi khuẩn viêm gan C đang được thực hiện khắp nơi trên thế giới. Với những loại thuốc này, chúng ta sẽ mở thêm nhiều "mặt trận" mới trong việc "sát phạt" vi khuẩn viêm gan C.
Ngoài ra quư vị cũng có thể liên lạc hoặc t́m hiểu thêm về bệnh viêm gan C qua
các số phone hoặc những địa chỉ trên mạng lưới điện toán toàn cầu sau đây:
1) Hepatitis C Support Group (949) 654-4250
2) Hepatitis Foundation International (1-800-891-0707); www.HepFl.org
3) American Liver Foundation (1-800-223-0179); www.Liverfoundation.org
4) Centers for Disease Control and Prevention, Hepatitis Branch
(1-888-443-7232); www.cdc.gov/ncidod/diseases/hepatitis/index.htm
5) Hội Ung Thư Việt Mỹ: www.UngThu.org
11770 Warner Avenue, Suite 113, Fountain Valley, CA 92708,
phone: (714) 751-5805,
email: info@vacf.org
hoặc trên internet www.UngThu.org.
Hội Ung Thư Việt Mỹ Chân thành cảm ơn các tổ chức sau đây đă tài trợ và giúp đỡ
Hội trong cuộc Vận Động Chống Viêm Gan và Ung Thư Gan 2004: Thị Trưởng Margie
Rice và các Nghị Viên Hội Đồng Thành Phố Westminster, Hội Y Sỹ Việt Nam miền Nam
California, Asian Liver Center at Stanford University, Schering-Plough, Roche
Pharmaceuticals, Gilead Sciences, Bệnh Viện UCI Medical Center, GlaxoSmithKline,
Pacific Life Foundation, và Bệnh Viện Garden Grove.