Câu
Chuyện Thầy Lang: Tai Biến Động Mạch Năo
Bác sĩ Nguyễn Ư Đức
- Cụ Minh đang ngồi nói chuyện với
ông bạn già. Hai vị thảo luận về hậu quả mấy trận băo lụt
vừa qua. Đột nhiên, cụ cảm thấy nhức đầu dữ dội, mắt mờ,
chân tay bủn rủn, cụ xỉu đi, bất tỉnh. Người nhà vội kêu xe
hồng thập tự đưa cụ vào nhà thương cấp cứu.
Sau khi khám, thử nghiệm, chụp quang tuyến X các loại, bác
sĩ cho biết cụ bị đứt mạch máu năo, may là nhẹ. Gia đ́nh cho
bác sĩ hay là cụ bị cao huyết áp từ hơn chục năm, nhưng vẫn
uống thuốc đều đặn.
Tai nạn của cụ Minh là một trong cả trăm ngàn trường hợp
tương tự xẩy ra hàng năm tại khắp mọi quốc gia trên thế giới.
Và trong cộng đồng ḿnh gần đây cũng có nhiều trường hợp.
Cụ Minh đă bị Tai Biến động mạch Năo, c̣n gọi là đột quỵ, do
việc cung cấp dưỡng khí cho tế bào năo bị gián đoạn đột ngột.
Cho tới nay, đột quỵ được coi là đệ tam sát thủ đối với con
người, sau bệnh tim và ung thư và là đệ nhất nguyên nhân gây
ra tàn phế cơ thể, đệ nhị hung thủ gây tàn phế thần kinh,
sau bệnh Alzheimer. Bên Hoa Kỳ, hàng năm có tới trên dưới
700,000 người bị stroke với gần 200,000 tử vong. Sống sót
th́ cứ một trong sáu người cần chăm sóc tại các cơ sở lâu
dài; ba trong bốn người giảm khả năng làm việc.
Kinh hoàng như vậy mà dường như nhiều người vẫn chưa biết rơ
về bệnh cũng như áp dụng các phương thức pḥng ngừa để bệnh
không đến với ḿnh.
Vậy xin cùng t́m hiểu.
- Năo bộ
Năo bộ là trung tâm điều hợp mọi hoạt động của cơ thể.Tất cả
các cảm giác như cay chua, mặn ngọt cũng như các cảm xúc hỉ
nộ ái ố lạc đều được chuyển về óc để ghi nhận và đáp ứng.
Năo c̣n là trung tâm của trí nhớ, sự suy nghĩ, phán xét, lư
luận. Từ đây các mệnh lệnh về cử động được truyền ra cho các
bắp thịt xương khớp chân tay, mắt, miệng. Qua các trung tâm
phản xạ, năo điều khiển chức năng của các hệ thống tuần hoàn,
hô hấp, tiêu hóa, sinh dục...
Đền đáp lại, năo bộ được cung cấp dưỡng khí, glucose và các
chất dinh dưỡng khác qua máu. Trung b́nh khoảng trên một lít
máu lưu thông qua năo trong một phút. Khoảng 20% số lượng
máu do tim bơm ra và 25% oxy của cơ thể được cung cấp cho
năo. Năo không tích trữ oxy nên cần được liên tục đưa tới.
Nếu sự nuôi dưỡng này gián đoạn độ ít phút là tế bào thần
kinh bị hủy hoại, óc ngưng hoạt động và con người rơi vào
t́nh trạng bất tỉnh nhân sự. Thí nghiệm ở súc vật cho thấy
rằng chỉ cần không được nuôi dưỡng trong ba phút là đă tạo
ra những tổn thất vĩnh viễn ở năo bộ.
Có hai đường cung cấp máu
cho năo bộ:
a) Động mạch cảnh (carotid artery), lộ dưới da mà ta
có thể sờ thấy nhịp đập của nó ngay dưới xương hàm; và
b) Động mạch nền sọ basilar artery phát xuất từ động
mạch đốt sống vertebral artery nằm sâu trong cơ thịt ở cổ.
Hai hệ thống này giao tiếp với nhau trên năo để chung sức
nuôi tế bào thần kinh trung ương. Tùy theo mức độ gián đoạn
dưỡng khí lâu mau, ta có những triệu chứng khác nhau. Vùng
tế bào thần kinh kiểm soát và điều hành sự nói, nghe, nh́n
và cử động của cơ thể hay bị tai biến này nhiều nhất.
Trong đột quỵ, đột nhiên có gián đoạn cung cấp máu cho toàn
thể hoặc một phần nào đó của năo bộ. Khi không c̣n nuôi
dưỡng, tế bào bị hủy diệt, các chức năng ngưng hoạt động.
- Nguyên nhân.
Có
nhiều nguyên nhân đưa tới đột quỵ.
1-Chứng Huyết Khối.
Huyết khối là nguyên nhân của 60% các trường hợp đột Quỵ. và
xẩy ra khi một động mạch trên năo bị nghẹt bởi một huyết cục.
Huyết khối thrombosis có thể thành h́nh ở bất cứ mạch máu
lớn nhỏ nào, tĩnh mạch cũng như động mạch. Trong động mạch
th́ chúng gây gián đoạn máu tới nuôi dưỡng tế bào ở vùng đó.
Sự tạo huyết cục khá phức tạp và diễn ra trong thời gian khá
lâu. Trước hết một điểm nào đó của thành động mạch dần dần
trở nên cứng, dầy ra, ḷng động mạch thu hẹp và rất dễ bị
tổn thương. để tự vệ, hệ thống miễn dịch vận dụng các bạch
huyết cầu tới. Huyết cầu này bám vào nơi bị hư hao, ḷng
động mạch dầy lên, lâu ngày tạo ra một huyết khối và bít sự
tuần hoàn.
2-Nghẽn mạch (embolism).
Nghẽn mạch chiếm 25% nguyên nhân của stroke. Huyết cục của
hệ tuần hoàn có thể rời nơi thành lập chạy lên năo bộ làm
tắc ḍng máu tưới tế bào năo.
Trường hợp thường thấy là huyết khối từ tim đă bị tổn thương
với rung tâm nhĩ atrial fibrillation. Tâm nhĩ co bóp liên
hồi, máu bơm ra không đều, một số máu đọng lại và tạo ra cục
huyết.
Trong bệnh phong thấp khớp rheumatic fever, cũng vậy: van
tim hư, nhịp tim hỗn loạn, huyết cục thành h́nh ở nhĩ trái,
xuống thất trái rồi chạy vào động mạch, lưu chuyển khắp cơ
thể.
Hoặc trong các bệnh bệnh nhồi máu cơ tim, ph́nh tâm thất
trái, suy tim, kết tụ tế bào mỡ, bọt không khí.
Nếu cục máu lữ hành lên năo th́ có đột quỵ, lên mắt gây mù,
tới thận gây suy nhược bài tiết nước tiểu.
Ngoài ra một mảnh bựa cholesterol đâu đó trong huyết quản,
một huyết cục thành h́nh sau một giải phẫu, một bọt không
khí cũng có thể lang thang lên năo và gây ra tai biến.
Stroke ở người trẻ tuổi thường là do cục huyết lén lút xâm
nhập năo bộ.
3-Xuất huyết khi tổn thương
động mạch năo
Khi một động mạch trên năo đứt vỡ, nguồn tiếp liệu cho năo
bị cắt đứt đưa tới tổn thương cho tế bào thần kinh. Thêm vào
đó, v́ năo nằm trong khối chất lỏng năo tủy bao che bởi bộ
xương sọ nên khi máu trào ra cũng tạo sức ép lên năo bộ và
gây tử vong cho tế bào.
Cao huyết áp mà không điều trị thường đưa tới rủi ro này.
Thành động mạch sẽ luôn luôn bị ép căng bởi áp xuất cao, lâu
ngày yếu dần rồi một lúc bất hạnh nào đó bể vỡ đưa tới xuất
huyết ào ạt. Huyết áp b́nh thường với động mạch năo bẩm sinh
suy yếu cũng dễ bị đứt Xuất huyết cũng xẩy ra ở động mạch
nằm mặt ngoài của năo.
Nói chung, tỷ lệ tử vong đột quỵ v́ xuất huyết năo rất cao
và sự hồi phục hoàn toàn các chức năng cũng kém sáng sủa so
với huyết khối hoặc nghẹn mạch. Nếu xuất huyết ồ ạt, tử vong
có thể xẩy ra, nhưng may mắn là đa số xuất huyết năo đều do
vài vi huyết quản bị đứt, nên nạn nhân không rơi vào hôn mê.
4-Giảm máu lên năo do vài
bệnh tim mạch
Năo cần dưỡng khí và chất dinh dưỡng trong máu để tồn tại.
Với chỉ dăm phút gián đoạn, tế bào thần kinh đă bị hủy hoại.
Máu do tim cung cấp. Một nhanh chậm trong nhịp tim, một tim
suy yếu, một thu hẹp ḷng động mạch cảnh ở cổ cũng làm giảm
máu nuôi dưỡng năo. Người cao tuổi thường gặp chuyện này và
hay có những cơn đột quỵ nho nhỏ, thoảng qua (transient
ischemic attack- TIA).
Một số nguyên nhân khác như u cục đè lên mạch máu năo, chấn
thương sọ, một co bóp bất thường động mạch năo cũng là
nguyên nhân của stroke.
Ngoài ra, khi máu tới tế bào thần kinh bị gián đoạn, một số
acid glutamic được tiết ra, mở đường cho calci vào và tăng
thêm phần hủy hoại các tế bào này.
Những dấu hiệu báo trước
Dấu hiệu tùy thuộc nguyên nhân gây tai biến, vùng năo và số
lượng tế bào bị tổn thương. điểm đặc biệt của dấu hiệu báo
động là một số những “đột nhiên”.
-Đột nhiên thấy yếu một bên cơ thể như mặt, tay hoặc
chân là dấu hiệu sớm nhất và thông thường nhất; rồi:
-Đột nhiên thấy tê dại trên mặt, cánh tay hoặc chân ở
một nửa thân người;
-Đột nhiên thấy bối rối, nói năng lơ lớ khó khăn hoặc
không hiểu người khác nói ǵ;
-Đột nhiên có khó khăn nh́n bằng một hoặc cả hai con
mắt;
-Đột nhiên chóng mặt, đi đứng không vững, mất thăng
bằng;
-Đột nhiên thấy nhức đầu như búa bổ mà không rơ
nguyên nhân.
Không phải tất cả các dấu hiệu này đều xẩy ra trong mỗi tai
biến. Nhưng nếu thấy một vài trong những dấu hiệu đó là phải
kêu cấp cứu, tới nhà thương ngay. đây là trường hợp khẩn cấp,
trễ phút nào nguy hiểm gia tăng với phút đó.
Y giới đưa ra trắc nghiệm gọi tắt là
FAST để
sớm phát hiện stroke:
F = Face:
mặt méo lệch, môi xệ, không nhe răng ra được;
A =Arm:
không dơ tay cao quá vai được;
S =Speech:
tiếng nói lơ lớ ngọng nghịu và không hiểu lời người khác nói;
T=trắc nghiệm.
Nếu áp dụng trắc nghiệm này th́ đôi khi người thường cũng dễ
dàng thấy stroke đang xuất hiện.
Ngoài ra, tùy theo năo trái hoặc phải bị tổn thương mà triệu
chứng khác nhau đôi chút.
a-đột quỵ ở năo trái hay phải đều đưa tới suy yếu hoặc tê
liệt của phần cơ thể phía đối diện cộng thêm mắt mở rộng
hoặc môi xệ xuống;
b-đột quỵ năo trái gây ra rối loạn về ngôn ngữ ảnh hưởng tới
việc phát ra và hiểu lời nói kể cả đọc và viết. Lư do là
trung tâm kiểm soát ngôn ngữ thường nằm bên năo trái. Nạn
nhân cũng có rối loạn về trí nhớ, một chút rối loạn hành vi,
chậm chạp và dè dặt hơn.
c-Tổn thương năo phải: Ngoài tê liệt nửa thân phía trái,
bệnh nhân c̣n mất trí nhớ, hành vi hấp tấp, không suy nghĩ,
kém nhận xét về không gian và chỉ để ư tới sự việc xẩy ra mé
phải cơ thể. Chẳng hạn bệnh nhân không thấy có người tới ở
phía trái hoặc bỏ quên thực phẩm trên phần đĩa bên trái.
- Hậu quả của đột quỵ.
Trái với tin tưởng của nhiều người, không phải cứ bị đột qụi
là tử biệt, tàn phế, nằm liệt giường liệt chiếu.
Đa số nạn nhân có thể trở lại b́nh thường, nếu bệnh được
phát hiện và điều trị sớm. Một số người sẽ không có biến
chứng trầm trọng kéo dài; một số khác mới đầu bị bất khiển
dụng tạm thời một vài chức năng nhưng sau vài tháng có thể
phục hồi được. . đó là nhờ một vài vùng năo lành mạnh ra tay
nghĩa hiệp đảm nhận thêm chức năng của các tế bào bệnh hoạn.
Ngoài ra y khoa phục hồi cũng giúp tái huấn luyện nạn nhân
để năo học khả năng mới và ôn lại khả năng cũ. Nhưng cũng có
một số bất lực hoàn toàn, không đi lại được. Và một số nhỏ
nằm hôn mê bất động cả nhiều năm.
Theo thống kê dịch tễ học, khoảng 30% đột quỵ sống sót phục
hồi hoàn toàn và trở lại các sinh hoạt b́nh thường; 55% bị
tật nguyền một phần và chỉ có 15% hoàn toàn mang tật.
Có
một số hậu quả thường thấy:
a- Liệt bán thân.
Như đă nói ở trên, nếu bị tai biến bán cầu năo phải th́ nửa
người bên trái bị liệt với rối loạn hành vi, nhận thức hiểu
biết, giảm trí nhớ ngắn hạn. Khi đột quỵ bán cầu năo trái
th́ nửa người bên phải tê liệt, nói ngọng nghịu, không phát
ra lời nói và hiểu lời nói, hay quên, cử động chậm chạp.
Các bất khiển dụng này có thể lấy lại nhiều ít nhờ trị liệu,
y khoa phục hồi và sự tích cực kiên nhẫn của người bệnh.
b- Trầm cảm.
Nhiều nghiên cứu cho thấy từ 30 tới 50 % nạn nhân bị buồn
rầu trầm cảm sau khi bị tai biến khoảng ba tháng tới một năm.
Người bệnh rơi vào t́nh trạng vô vọng, bực bội, lo sợ, không
thiết ǵ đến những sinh hoạt thường làm, giảm ước muốn t́nh
dục, tính t́nh thay đổi, chán chường đến nỗi đôi khi nghĩ
đến “ tử biệt đi cho rồi”. Nhiều khi họ phủ nhận sự buồn
phiền, từ chối điều trị.
Hiện nay có rất nhiều loại dược phẩm công hiệu để giải tỏa
trâm buồn, giúp người bệnh yêu đ̣i hơn trong hiện trạng và
tích cực hơn trong nếp sống.
c-Khó khăn trong diễn tả và
hiểu biết lời nói.
Khoảng một nửa nạn nhân đột quỵ gặp khó khăn này.Họ lắp bắp
nói không thành câu, không hiểu được lời người khác nói hoặc
viết, quên tên sự vật. đôi khi bệnh nhân tỏ vẻ như hiểu
nhưng thực ra những tín hiệu giao lưu dường như ngưng lại
đâu đó trong trí óc họ.
Với sớm tái huấn luyện cách nói, khó khăn có thể phục hồi,
nhưng cần sự tích cực của nạn nhân và kiên nhẫn của thân
nhân, chuyên viện trị liệu.
d- Té ngă.
Từ một tới sáu tháng sau tai biến, có tới 51% bệnh nhân bị
té ngă. Yếu tố gây té ngă có thể là kém năng lực về vận động,
cảm xúc và thị giác. Người bệnh ở trong t́nh trạng tâm thần
suy sụp, bất an, nóng nẩy, kém khả năng quyết định, sức khỏe
tổng quát yếu, mất thăng bằng cơ thể, nh́n không rơ, dáng đi
nghiêng ngả.
Xương ở vùng tứ chi bị bại liệt cũng loăng, gịn, dễ dàng
đưa tới gẫy khi ngă dù chỉ trượt chân nhẹ. V́ không vận động,
calcium ra đi. Xương hông là hay bị gẫy nhất. đây là một hậu
quả trầm trọng đưa tới trầm cảm hơn, giới hạn các sinh hoạt
hàng ngày và trở thanh một gánh nặng cho thân nhân
e-Nhồi máu cơ tim.
Khoảng 9% bệnh nhân tai biến năo đều bị nhồi máu cơ tim
trước hoặc sau tai biến và là yếu tố nâng cao số tử vong.
g-Dinh dưỡng kém.
Ngay sau tai biến, từ 20- 35% bệnh nhân có khó khăn nuốt
thực phẩm và được nuôi bằng ống. Rối loạn sẽ đưa tới thiếu
dinh dưỡng, sưng phổi, hút thực phẩm vào ống phổi.
May mắn là đa số nạn nhân có thể lần lần ấy lại khả năng này.
Với họ, thực phẩm cần chế biến mềm, nhăo và nên ăn làm nhiều
lần trong ngày, thay v́ ba bữa chính như thường lệ.
h-Thay đổi tính t́nh.
Nhiều bệnh nhân trở nên rất bẳn tính, nóng nẩy, dễ giận dữ,
gắt gỏng, thay đổi tính t́nh như con nít, khóc đấy, cười đấy,
xua đẩy sự giúp đỡ, cằn nhằn thân nhân, bác sĩ một cách vô
cớ. Những thay đổi này gây ra nhiều khó khăn cho gia đ́nh
chăm sóc và toán điều trị khi cố gắng phục vụ bệnh nhân.
Nhưng may mắn là với thời gian, sự khó tính giảm dần.
Cần kiên nhẫn với bệnh nhân; không đối xử với họ như là
người bất lực; khích lệ họ, an ủi họ, bầy tỏ cảm t́nh với họ
nhưng đừng tỏ ư thương hại. đừng trách móc lỗi lầm của họ,
tạo niềm tin có thể phục hồi trong họ.
i-Mệt mỏi.
Hầu như mọi nạn nhân đột quỵ đều cảm thấy mệt mỏi, không c̣n
sinh lực ngay sau khi đột quỵ và t́nh trạng kéo dài cả vài
năm. Với họ, thực hiện mọi việc lớn nhỏ đều đ̣i hỏi thêm một
cố gắng liên tục. Nguyên do có thể là suy nhược thể chất
hoặc trầm cảm buông suôi gây ra do sự hủy hoại cơ thể của
đột quỵ.
Ngoài ra, c̣n rối loạn thị giác với nh́n một thành hai, rung
giật nhăn cầu, khiếm thị; da loét v́ nằm ĺ lâu ngày cùng vị
trí; co ngắn tứ chi v́ bắp thịt không cử động...và nhiều hậu
quả đáng tiếc khác nữa.
Kết luận
Tai biến Động mạch năo là một tai nạn trầm trọng, cần được
cấp cứu tức th́ để cứu văn sự sinh tồn của tế bào thần kinh.
Nhiều nhà chuyên môn coi tai biến này nguy hiểm như Cơn Suy
Tim heart attack, và gọi là brain attack.Tai biến có thể
viếng thăm bất cứ ai, không kể tuổi tác, nam nữ, giầu nghèo.
Nhưng cũng có một số rủi ro đưa tới tai biến mà nếu biết
trước, ta có thể áp dụng để tránh đột quỵ. Như kinh nghiệm
cổ nhân khắp nơi vẫn thường nhắc nhở. Rằng “Ngừa bệnh hơn
chữa bệnh”.
Và đó là những điều mà mai đây người viết sẽ cùng quư thân
hữu t́m hiểu.
Bác sĩ Nguyễn Ư Đức
Texas-Hoa Kỳ.