ĐIỀU TRỊ CHỨNG BẤT LỰC SINH LƯ
Tức dương bất cử (Dbc), cử bất kiên (Dbc-Cbk)
bằng Y-học Á-châu (hay Cúi đầu e thẹn)
Bác-sĩ TRẦN ĐẠI SỸ
(Đă tŕnh bầy trong đại hội Sexology, 1992)
Kính thưa quư vị Chủ-tọa đoàn
Thưa quư Đồng-nghiệp
Hôm nay chúng ta họp nhau đây để nghiên cứu đề tài về Sexology mang tên:
Dương cử, nhưng cử bất kiên (Cbk).
Mà chúng ta đă nghiên cứu trong phần nói về Y-học Tây-phương. Khác một điều, kỳ
này lại nghiên cứu về phương diện Y-học Á-châu.
Thưa Quư-vị,
Năm nay theo lịch Âm-Dương th́ là năm Quư Dậu. Quư thuộc hành thủy, thuộc màu
đen. Dậu là con gà. Vậy năm nay là năm con gà đen. Tiếng b́nh dân gọi là gà ác.
Nói đến gà ác là người ta nghĩ ngay đến món ăn cổ truyền, vừa bổ vừa ngon của
vùng Á-châu Thái-b́nh dương, đó là món Gà ác tiềm thuốc Bắc. Bắc đây để chỉ
Trung-quốc.
Thế gà tiềm thuốc Bắc là ǵ ? Thưa là dùng gà đen, nấu với một số vị thuốc.
Gà th́ phải là gà trống, hơi có tuổi một chút mới tốt. Gà mái ghẹ giảm hiệu quả
đi một phần. C̣n gà mái đă đẻ năm bảy lứa rồi th́ cũng tạm tạm mà thôi. C̣n nếu
như không có gà ác th́ dùng gà vàng, mà phải là gà già. Loại này tại các nước
Âu-Mỹ rẻ lắm!
C̣n thuốc Bắc dùng vị nào đây ? Thưa tùy theo t́nh trạng bệnh, t́nh trạng tuổi
tác mà dùng các vị thuốc thích hợp :
– Như tiềm Kỷ tử, Thục địa, Đương quy để bổ máu huyết cho các bà các cô. Nhất là
các bà sau khi sanh, hoặc sau khi mổ, hoặc văn niên rồi, nhan sắc đi vào mùa
Thu, thậm chí mùa Đông, mà ăn gà tiềm thuốc Bắc th́ nhan sắc có hy vọng trở lại
mùa Hạ, mùa Xuân lắm.
– Tiềm với Đản sâm, Trần b́, Phục linh, Hoài sơn cho các ông nhắm với rượu sâm
Cao ly, Ngũ gia b́, Hổ cốt tửu, cam đoan cái ấy của các ông đang ngủ gật, lập
tức ngỏng cổ c̣ lên, đ̣i chọi liền. Nhưng ở châu Âu th́ mua đâu ra các loại
thuốc này ? Khó đấy chuyện này quư ông tự lo lấy.
Ghi chú:
Hồi 1992 về trước, th́ trên toàn cơi châu Âu (CEE) chỉ có 2 nước, có tiệm thuốc
Trung-quốc hợp pháp dưới h́nh thức Thảo-dược (Herboristes). Tuy nhiên vẫn có
những thầy lang Tầu, Việt bán thuốc bất hợp pháp. Mấy ông này không biết cách
tàng trữ khoa học, nên nhiều vị thuốc bị mốc, nhiễm trùng, gây tai vạ không ít.
Gần đây, một đồng nghiệp của tôi, gốc Trung-quốc, đă tốt nghiệp đại học Y-khoa
Giang-tô, được phép mở một Thảo-pḥng, dưới h́nh thức Herboristes (Thảo-dược)
này mang tên :
À la calebesse verte 15 rue de la Vestule, 75013 Paris, Tél 33.1. 45 85 89 89, Fax 33.1. 45 85 88 00
Quư vị có thể tin tưởng được.
C̣n tại Úc, Hoa-kỳ, Canada th́ thực là quá dễ dàng, v́ khu người Việt-Hoa nào
cũng có dược pḥng bán Trung-dược.
1. CÚI ĐẦU E THẸN
Bây giờ trở lại với đầu đề Cúi đầu e thẹn. Đó không phải là thành ngữ để chỉ các
cô gái Á-châu thuần túy, tuổi mười ba, mười bốn, khi nghe đến chuyện ái t́nh, mà
ửng hồng, đầu hơi hạ xuống. Câu này cũng không dùng cho các bà đi vào ngũ tuần,
lục tuần, con lợn ḷng ủn ỉn kêu thét trong tâm suốt ngày, suốt đêm Đông. Nhưng
khi có ông nào hơi tỏ t́nh là em chă, em chă để rồi bị các ông tưởng bà thuộc
loại tiết hạnh khả phong, bèn lùi xa... Sau đó đêm đêm bà chổng mông mà gào,
tiếc hùi tiếc hụi.
Cúi đầu e thẹn dùng để chỉ t́nh trạng của quư ông khi đứng trước một đối tượng
thuộc giới quần hồng, nhưng đầu nhỏ cứ cúi gầm xuống, mềm như ngẩu pín đă ninh
mấy giờ liền (Dbc). Hoặc đôi khi cổ ngỏng dậy hùng dũng như gà chọi, sau đó mọi
sự chuẩn bị sẵn, đến lúc xuất chiêu đại chiến th́ than ôi, đầu cứ cúi xuống ũ rũ
như gà toi, sau đó dù có vuốt ve, lay gọi, làm t́nh làm tội ǵ, nó cũng không
cất đầu dậy được nữa (Cbk).
Danh từ Cúi đầu e thẹn mới xuất hiện trong đại hội năm ngoái (1991) của chúng ta
(ghi chú tức đại hội của giới Bác-sĩ về Sexology). Tiếng Việt c̣n có tên gà rù
hay gà toi, đôi khi văn vẻ hơn cúi đầu làm ngơ, hay cổ điển hơn đê đầu tư cố
hương (cúi đầu nhớ quê cũ) có lúc c̣n sống sượng khuất thân trước mảnh quần hồng.
2. BÀN VỀ BA LOẠI GÀ: ĐEN, TRẮNG, VÀNG
Thưa Quư-vị
Bàn chung, trong các thân chủ của chúng ta, họ có ba loại gà: Đen, trắng, vàng.
Vậy Quư-vị hăy cùng tôi luận về ba loại gà này.
Về phương diện giống ṇi th́ loại nào, màu da nào hay bị cúi đầu e thẹn ? Gà nào
to, gà nào nhỏ, gà nào cứng, gà nào mềm, gà nào dẻo dai ?
Đă có vị hỏi : Trên thế giới có ba giống người da đen, da trắng và da vàng. Thế
gà loại nào chọi giỏi hơn ?
Xin thưa:
Bàn chung mỗi loại đều có ưu điểm riêng.
Đầu tiên là gà đen,
Đầu gà đen thường lớn, nhưng hơi ngắn và mềm xèo. Lớn th́ khi ra, lúc vào khít
khịt kh́n khít. Ta hăy ví với ḷ rèn. Cái ống lớn làm cái bễ ḷ rèn căng ra.
Những bà, cô thuộc loại mông nở lớn, hoặc sinh nở nhiều, hoặc đă lâm chiến dạn
dày như nàng Kiều sau mười lăm năm sướng, cái ngàn vàng toang toàng tựa lỗ trê,
th́ nhất định loại gà đen mới thấy đă. Bằng nhỏ như gà trắng, gà vàng th́ giống
đuôi chuột ngoáy hũ tương, như gió thoảng ngoài th́ có cũng như không. Thế nhưng
giống gà đen có nhiều khuyết điểm. Một là trông thiếu thẩm mỹ, muốn thưởng thức
chỉ có cách tắt đèn th́ nhà ngói cũng như nhà tranh. Nhưng gà đen thường hôi,
hôi như dê, như cừu, khét khét khó chịu vô cùng ấy là không kể bị đàm tiếu.
Nước trong xanh lơ lửng con cá vàng.
Cây ngô, cành bích, con phượng hoàng nó đậu trên cao.
Anh tiếc cho em phận gái má đào,
Tham đồng bạc trắng mới gán ḿnh vào với chú Tây đen.
Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên,
Treo tranh tố nữ đứng bên anh tượng đồng !
Chị em ơi ba bảy đường chồng...
(Tản Đà).
Lại nữa, lỡ ra quên thuốc ngừa thai, hoặc giả ăn vội ăn vàng, ít lâu sao sinh ra
một cục cà-phê sữa th́ nói sao với ông chồng nói sao với thiên hạ ?
Thông thường các bà thuộc loại toang toàng này thường đi t́m các đồng nghiệp
Sản-khoa (Gynecology) hay Niệu-khoa (Urology) hoặc chúng ta (Sexology) để may
cái ngàn vàng này lại. Bấy giờ mùa Xuân của các bà phục hồi như thời đôi mươi,
ướt át, phơi phới.
Thứ đến gà trắng
Chủ nhân gà trắng thường to lớn đồ sộ, nhưng ở đời, cứ mười sự th́ chín không
như ư muốn. Các cụ xưa đă có kinh nghiệm trồng khoai. Hễ dây tốt th́ củ nhỏ, dây
nhỏ th́ củ lớn. Mấy ông trắng trông to con, nhưng củ th́ cứ rút vô hang, đầu tḥ
ra ngắn ngủi như đầu rùa, cụt ngủn. Đă vậy các ông trắng bụng to, đùi lại lớn,
thành ra phạm vi lâm chiến không được làm bao, chỉ múm vô nàm thôi. Mà hỡi ôi,
giống gà trắng thịt bở lắm. Ai không tin cứ vào các siêu thị, thấy trăm bà
Á-châu đi chợ, th́ đủ trăm bà mua gà vàng, chẳng bao giờ mua gà trắng cả. Một
đặc điểm nữa khiến quư bà, cô không mấy thích thú là gà trắng khi lâm chiến
không dai sức. Chỉ đâu hai ba hiệp là xổ mũi liền, rồi gục đầu xuống. Chủ nhân
đành chịu đầu hàng, trong khi nàng vẫn chưa chịu:
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chửa chịu.
Thua th́ thua, quyết níu lấy con.
(Hồ Xuân Hương).
Giống gà trắng biết vậy, nên chủ nhân thường dùng đầu lưỡi thay thế cho gà,
miệng lưỡi múa may, ăn phó-mát Ca-măm-be, khiến cho địch thủ đứ đừ ra rồi mới
cho gà lâm chiến, nên đôi khi cũng khiến các bà hài ḷng.
Bây giờ tới giống gà vàng
Về phương diện thẩm mỹ th́ gà vàng với gà trắng ngang nhau. Gà vàng th́ nhỏ hơn
gà trắng; nhưng, xấu dây mà củ lại tốt. Xét về chiều dài lâm chiến th́ gà vàng
hơn hẳn gà trắng, gà đen. Xét về bề thế th́ kém gà trắng, gà đen đôi chút. Nếu
ta xẻo đầu gà đen, trắng, vàng đem cân th́ trọng lượng cả ba bằng nhau, v́ đầu
gà trắng, đen bều nhều trọng lượng không làm bao. C̣n đầu gà vàng, tuy nhỏ hơn,
nhưng chắc nịch.
Gà vàng thường dai sức giống như anh thợ cưa, cưa hoài không mệt. Bởi vậy các cụ
tổ làm luật Á-châu như Tử Sản, Triệu Dương Hoán, Đặng Tích, Lư Khôi, Tiêu Hà của
Trung-quốc và Phùng Vĩnh Hoa, Lư Long Bồ, Lê Văn Hưu, Nguyễn Văn Thành của Đại
Việt bao giờ cũng cho phép các ông lấy nhiều vợ. Tuy luật cho phép, nhưng giới
b́nh dân chỉ một vợ thôi. Ấy là nói chuyện xưa chứ; chuyện đời nay th́ từ năm
1990 về trước, các ông Á-châu ở Hoa-kỳ gần như chỉ có một nửa hoặc một phần ba
bà vợ thôi. Gần đây có phong trào về nước cưới vợ. Các bà, các cô mất giá quá,
các ông thừa thắng xông lên, lấy lại được đôi chút khí sắc.
Ghi chú
Các ông da vàng đây để chỉ Việt, Miên, Lào, Thái, Hàn, Ấn, Nhật, Phi... chứ
không kể Trung-quốc. V́ Trung-quốc hiện lâm cảnh gái thiếu, trai thừa. Các bà ở
ngoại quốc thường về nước t́m chồng!
Ngày xưa thường th́ chỉ người giàu, hoặc giới quan lại mới cần nhiều vợ, để cho chủ nhân con gà lúc nào cũng thanh thản, chứ cứ để các ngài thèm thuồng, rồi khí tồn hại năo th́ sao làm việc được ? Chủ ư nhà làm luật là như thế, nhưng các ông lợi dụng quá đáng. Vua th́ nào hoàng hậu, quư phi, tu nghi, tu dung, uyển nghi, uyển dung, tài nhân, cung nữ. Ít th́ vài ba trăm, nhiều th́ hai, ba ngh́n. Những vua như Tần Thủy-Hoàng, Hán Vũ-Đế th́ lúc ít nhất cũng ba ngh́n, c̣n khi nhiều th́ đâu bẩy tám ngh́n ǵ đó. Hóa cho nên các ông vua vùng Á-châu Thái-b́nh dương, ông nào sống quá năm mươi tuổi đă là thọ lắm. Các quan th́ cũng năm thê bảy thiếp, mươi nàng hầu là thường. Vua quan nhiều vợ quá th́ lâm chiến sao cho đủ ? Chỉ mấy năm là sức cùng lực kiệt. Các ngài thấy nguy, vội t́m thầy thuốc. Đó là lư do Á-châu giỏi nhất thế giới về khoa sex, tức bồi bổ cái đó cho các ông.
Trở lại với gà vàng. Một đặc điểm không thể chối căi là gà vàng cổ cứng lại dài, bởi vậy hang trê thăm thẳm, nó cũng xung vào đến tận cùng, khiến đối thủ cứ dăy lên đành đạch. Tóm lại, dẻo dai, dài cổ, cứng như gỗ, lại chọi hoài không mệt, là đặc tính của gà vàng. Nhưng chủ gà vàng thường bị ảnh hưởng triết lư Đông phương cổ: chồng chúa vợ tôi, nên độc tài hơn Mao Trạch Đông, phát-xít quá Hitler, luôn ra lệnh cho vợ c̣n hơn Mao, hơn Hitler. Ấy là không kể gặp bà vợ đành hanh đỏ mỏ, già mồm già họng, thường được các đức ông chồng âu yếm bằng cú đấm, cú đá, đôi khi bằng củi tạ. Gần đây bên Hoa kỳ, các bà đi ăn vụng, ăn cháo, ăn chè, c̣n được các ông cho chó lửa khạc đạn vào người, đưa bà tiêu dao miền Cực lạc (hay về nước Chúa).
Khi bàn về vợ chồng các bạn Pháp, Đức, Mỹ, Úc thường hỏi tôi :
– Đàn ông Việt các anh có cái ǵ đặc biệt, mà hễ con gái da trắng thử một lần là
đeo cứng, không buông ra ?
Tôi cười :
– Thử đoán xem ?
– Đoán thế chó nào được. Đàn ông Việt các anh đếch đẹp hơn chúng tôi. Trông bên
ngoài kém bề thế rơ ràng. Tiền bạc chỉ xem xem thôi, đôi lúc thua. Khi nói năng
thường tiết kiệm lời nịnh đầm. Cứ mười người các anh khi lấy vợ da trắng là y
như cả mười ra lệnh cho vợ. C̣n trăm cô lấy chồng da trắng, th́ trăm cô coi
chồng như con chó tu-tu, thế mà bọn chồng chúng tôi không hề phản đối. Anh có
thể cho tôi biết tại sao không ?
– Tại truyền thống của chúng tôi là truyền thống thăng bằng âm dương, hợp với
trời đất nên có sức mạnh vạn năng.
– Xin rửa tai nghe về cái mà anh gọi là thăng bằng đó.
– Quốc tổ nước Việt là Lạc Long Quân, ngài thuộc loài rồng. Quốc mẫu là Âu Cơ,
ngài thuộc loài chim. Người Việt chọn vật tổ có tính chất lưỡng nguyên, phân âm
dương. Chính cái lẽ phân âm dương đó làm cho chúng tôi có nhiều nữ anh hùng.
Đứng đầu trong nữ anh hùng thế giới là vua Trưng. Khi được mời làm câu đối cho
hội tôn kính Trưng Vương ở Hoa Kỳ vào năm 1987, tôi đă viết:
Quốc sắc thiên hương, nhân loại hữu,
Anh linh thần vơ, thế gian vô.
Nghĩa là: trong giới nữ lưu, những người đẹp như vua Trưng th́ nhân loại cũng có đấy.
Xa th́ chẳng nói làm ǵ, gần đây như Romy Schneider, Brigitte Bardot,
Marilyn Monroe,Lâm Đại, Lạc Đế, Trần Ngọc Liên, Phùng Bảo Bảo, đâu thiếu?
Nhưng dùng thần vơ lập nên đế nghiệp, khi thác lại hiển linh,
th́ trên thế gian này không có hai.
Sau này chúng tôi c̣n bà Triệu, c̣n công chúa Bảo Ḥa,
B́nh Dương, Thủy Tiên, c̣n nữ tướng Bùi Thị Xuân.
Thấy thính giả có vẻ tin tôi tiếp :
– Người Trung-hoa họ lấy vật tổ là con rồng. Người Anh lấy vật tổ là là con sư
tử. người Mỹ lấy vật tổ là con chim ưng. Người Pháp lấy vật tổ là con gà trống.
Tất cả chỉ có một, mà nào có biết đó là rồng, sư, ưng thuộc loại đực hay loại
cái ? Tôi đă có dịp bàn luận với mấy ông giáo sư sử học tại đại học Côn-minh, và
hỏi rằng : Rồng của các lị là rồng đực hay rồng cái ?. Các ông ngẩn người ra,
không trả lời được. C̣n chim ưng của Hoa Kỳ, gà của Pháp, sư tử của Anh, th́ rơ
ràng là sư đực, ưng đực, gà trống. Tóm lại vật tổ của hầu hết các nước trên thế
giới nếu không phải là đực th́ cũng không phân rơ đực cái. Nghĩa là họ chỉ có
một nguyên lư, chỉ có nguồn gốc cha, thiếu nguyên lư mẹ, v́ vậy họ không thăng
bằng âm dương. Kinh Cựu-ước nói rằng: Thượng đế tạo ra ông A-đam. Ông sống trong
vườn Địa đàng đầy cây trái, hoa thơm cỏ lạ. Thượng đế tưởng rằng ông hạnh phúc
lắm. Nhưng v́ chỉ có nguyên lư dương, thiếu âm nên ông buồn. Thượng đế thương
t́nh mới ban thêm cho một bà Ê-va ra đời để có âm, có dương, hầu có thăng bằng.
Đại Việt tôi là con trời, nên mới có đủ nguyên lư âm dương. Rồng cha, Âu mẹ.
Chúng tôi có hai vật tổ.
– Doóc ! Thế Úc cũng lấy vật tổ là con đà điểu và con kanguru, chẳng là hai đó ư
?
– Tôi đă đến Úc nhiều lần, nhân khi trà dư tửu hậu có hỏi mấy ông giáo sư triết
học bản xứ rằng: Thế con đà điểu với con kanguru con nào là con đực, con nào là
con cái ? Các ông đều nghệt mặt ra, không trả lời được. Cũng có ông bảo: Cả hai
con đều đực. Tôi trêu : Như vậy, suy từ vật tổ, các anh thiếu lẽ thăng bằng âm
dương, thành ra khi lâm trận, các anh không dẻo dai, cùng thiếu bền bỉ. V́ chúng
tôi có thăng bằng âm dương nên có thể chiến ngày, chiến đêm, không bao giờ cúi
đầu e thẹn cả. Tục ngữ nước Việt-nam tôi nói : Đêm bảy, ngày ba vào ra không kể.
Các ông bèn móc :
– V́ người Việt các anh lâm chiến hoài không mệt, nên dân số các anh tăng mau quá, đến độ nước anh là một trong những nước nghèo nhất thế giới.
Tôi bèn tịt ng̣i hết giở giọng triết lư cùn ra được.
3. MỘT VÀI PHƯƠNG THUỐC
Trong nền y học Hoa-Việt lưu lại không biết bao nhiêu phương thuốc cổ giúp các
ông thoát khỏi cảnh cúi đầu e thẹn. Những phương thuốc đó, hầu hết do người sau
bịa ra, không có cơ sở nào vững chắc cả. Chỉ c̣n đâu đó mười thang thực sự đem
lại kết quả, có nguồn gốc. Mỗi phương thuốc giữ một tác dụng riêng. Chứng bệnh
liệt dương có 18 loại, mà loại cúi đầu e thẹn là một. Trong phạm vi nhỏ hẹp này
tôi chỉ lược về loại này mà thôi.
3.1. Khi đầu gà thành đầu rùa
Thưa Quư-vị,
Đă là gà trống th́ cổ phải cao, luôn gật gù, sẵn sàng lâm trận. Chẳng may v́ một
lư do nào đó mà nó rụt đầu, rụt cổ vào trong hang như cổ rùa, hoặc thân
thể nó tự nhiên hao ṃn dần chỉ bằng quả ớt th́ làm sao ? (Độc giả phải nhớ nhé
: trước nó cao, dài, tự nhiên rút đầu rút cổ ngắn, rồi nó nhỏ dần, nhỏ dần). Chứ
trời sinh ra nó vốn nhỏ, vốn ngắn là tự giống của ông cha như vậy, th́ không nằm
trong phạm vi này. Đa số các ông ở hoàn cảnh trên, người thường gầy. Tôi xin
hiến hai món ăn vừa ngon, vừa khiến cho gà phục hồi.
Ghi chú :
Gần đây một công ty Hoa-kỳ chế ra máy bơm chim. Kết quả chim phồng lên, nhưng
sau đó teo lại như cũ, hơn nữa teo bằng quả ớt. Đúng là tiền mất, gà mang tật.
Một số đồng nghiệp đă giải phẫu để tăng kích thước cổ gà, dường như kết quả tốt.
Nhưng c̣n nối dài ra th́ chẳng ăn thua ǵ. Buồn nhỉ !!!
Thế nhưng Cúi đầu e thẹn lại có đến ba loại khác nhau:
– Một là Âm-hư.
– Hai là Dương-hư.
– Ba là Âm-Dương đều hư.
3.2. Âm-hư
Ngẩu pín, đuôi ḅ hầm thuốc Bắc
Ngẩu-pín là tiếng Trung-quốc, phát âm theo Quảng. Ngẫu-pín là cái sex của con ḅ
đực
Dưới đây là phương pháp làm một phần ăn tuy hơi nhiều.
3.2.1. Vật liệu
– 500 g ngẩu pín,
– 500 g đuôi ḅ,
– Thuốc Bắc :
Hai phần ăn :
0,500 kg đuôi ḅ,
0,500 kg ngẩu pín
Hoàng thị 6 g.
Sơn dược 6 g.
Phục linh 9 g.
Đại táo 5 trái.
Đỗ trọng 6 g.
Kỷ tử 12 g.
Thục địa 9 g.
3.2.2.- Cách làm
– Cắt ngẩu-pín thành từng khúc nhỏ dài 2-3 cm.
– Ngâm vào với nước muối nửa giờ, rồi rửa thật kỹ. Chớ có ngâm rửa bằng dấm mà
ngẩu pín mất công hiệu. Nguyên do dấm có vị chua nhập can (gan). Can chủ về gân
trong khi ngẩu pín vốn là gân. V́ vậy ngâm ngẩu pín với dấm th́ hiệu lực giảm
hết.
– Dùng dao xắt, lóc hết mỡ ở đuôi ḅ. Nếu quư vị quen với bác sỹ, xin họ mua dùm
con dao mổ, giá ước 1,5 Euro (2 USD) để lóc mỡ th́ tuyệt.
– Rửa cho sạch rồi dùng dao lớn, hoặc búa bổ củi, bổ dọc đốt xương đuôi ḅ.
– Cho đuôi ḅ, ngẩu pín lẫn vào nhau, đổ vào từ 5-7 th́a canh x́ dầu (ma di cũng
được), bóp cho x́ dầu thấm.
– Đổ tất cả thuốc, ngẩu pín, đuôi ḅ vào một cái nồi áp suất, cho vào 3 lít
nước. Nấu cho đến khi nồi x́ hơi lên, th́ để nhỏ lửa khoảng 15-25 phút.
– Đây là thuốc dành cho các ông. Chớ có lịch sự mời các bà ăn mà đổ nợ. Nhược
bằng các bà ăn vào, bất cứ lúc nào các bà cũng đ̣i đánh cờ th́ chỉ có thác. Muốn
thoát nạn e phải tỵ nạn lên Niết-bàn (Hay Thiên-đàng), hoặc gọi hồn Lao Ái sống
lại thay thế mới đủ sức trả bài.
3.2.3. Ăn
– Ăn vào lúc đói, nhớ ăn nóng.
– Ăn hết một phần trong hai ngày.
– Tuần ăn một hay hai phần.
– Ăn liền trong hai hay ba tháng, tự nhiên cổ gà ngỏng dậy, đầu rùa chui khỏi
hang, lắc lư, gật gù trông thật hấp dẫn.
3.2.4. Kiêng cữ
Khi ăn, kiêng ăn giá sống, bánh đậu xanh, chè đậu xanh, nước rau má, hoa cúc
v.v. Nghĩa là những thức ăn mát.
Tuyệt đối cấm uống rượu. Rượu thuộc dương, mà gốc bệnh là âm hư, uống rượu vào
không khác ǵ nhà cháy thay v́ dùng nước lại dùng essence mà tưới.
3.2.5. Phân tích theo y học Á-châu
Món ăn này dùng cho các vị bị Âm-hư.
Biểu h́nh loại người 2
Khi con người bị bệnh, th́ có thể đưa đến Âm-hư. (Trong h́nh âm bị khoét một
miếng).
3.2.6. Dùng dược tổng quát .
Có thể dùng các loại thuốc: Lục vị địa hoàng hoàn.
Nếu trường hợp hư hỏa bốc lên th́ dùng
Tri bách bát vị hoàn. Nếu như mắt mờ th́
dùng Kỷ cúc địa hoàng hoàn.
Chứng trạng âm hư, hay c̣n gọi là âm hư nội nhiệt
– Sắc mặt hồng.
– Âm thanh nhỏ.
– Án mạch thấy: Trầm, sác.
– Bàn chân, bàn tay nóng.
– Môi hồng, lưỡi đỏ.
– Dễ nổi giận.
– Không sợ lạnh.
– Tim đập trên 90 lần một phút.
– Nước tiểu vàng hay hơi vàng
– Tiện bí, hoặc b́nh thường.
– Người mề mệt.
– Trí nhớ giảm thoái.
– Sau 12 giờ trưa th́ mệt mỏi.
– Mất ngủ.
– Tai kêu, tai điếc.
– Lưng đau, gối mỏi.
– Nam, nữ khó khăn về t́nh dục (Sex). Nữ lănh cảm. Nam Dbc-Cbk hoặc Di-tinh.
– Âm là vật chất, khi âm hư th́ con gà của Quư-ông gầy g̣. Hĩm của Quư-bà xẹp
lép. Quư-ông th́ tinh khô, hoặc xuất tinh nhưng chỉ xón một tư.
– Huyết áp cao.
3.3. Dương-hư:
Cật dê hầm thuốc Bắc
Dưới đây là phương pháp làm một phần ăn. Món này c̣n có tên Ông xơi bà khen
ngon,
3.3.1. Vật liệu
– Cật dê 2 đến 4 cái.
– Thuốc Bắc,
Một phần ăn :
2 đến 4 cật dê
Thục địa 5 g.
Kỷ tử 3 g.
Đương quy 3 g.
Long nhăn 5 quả.
Phục-linh 3 g.
Hoài-sơn 3 g
3.3.2. Cách làm
– Dùng dao mổ đôi cật ra, rồi rửa thật kỹ. Nếu rửa không kỹ khi ăn có mùi khai
như nước đái Trư Bát Giới.
– Cho thuốc vào một cái nồi, với khoảng nửa lít nước, nấu cho đến khi c̣n một
bát ăn cơm, th́ gạn lấy nước.
– Để cật dê vào trong một cái tô thật lớn, rồi đổ nước thuốc vào, rưới thêm hai
th́a canh x́ dầu (hoặc maggi), một th́a rượu Mai quế lộ. Sau đó để tô lên một
cái đĩa lớn. Đổ vào đĩa một ly rượu Mai quế lộ, hoặc rượu trắng trên 45 độ rồi
châm lửa đốt. Khi lửa tắt th́... ăn.
3.3.3. Ăn
– Ăn lúc đói, ăn nóng.
– Người huyết áp cao (trên 16) th́ chỉ ăn thôi.
– Người huyết áp trung b́nh hoặc thấp th́ có thể uống rượu như đă nói trên.
– Tuần ăn một hay hai lần.
– Ăn trong ba tháng liền, th́ t́nh trạng cổ gà teo bằng quả ớt sẽ lớn như trái
khổ qua.
– Các bà trong tuổi xế Thu sang Đông, con cá diếc khô quá, th́ có thể ăn món
này. Chỉ cần ăn vài ngày là con cá khô biến thành con cá sống, nước non đầm
đ́a...
3.3.4. Kiêng cữ
Như phần 1.1.4 trên.
3.3.5. Phân tích theo y học Á-châu
Món ăn này dùng cho các vị Dương-hư. Khi dương hư th́ nên uống với rượu. Các
loại rượu sau đây rất tốt theo thứ tự:
– Phục dương đại bổ tửu.
– Rượu tắc kè (Việt-Nam)
– Hổ cốt mộc qua tửu.
– Nhân sâm tửu (của Đại-hàn)
– Rượu vang Bordeaux đỏ (grand vin)
– Thiệu-hưng tửu.
– Ngũ-gia b́.
– Mai-quế lộ.
– Rượu nếp Việt-Nam.
Tuy uống rượu để trị bệnh, nhưng Quư-vị dặn thân chủ khi uống xong th́ nên nghỉ,
tránh lái xe, rồi gây tai nạn th́ khổ.
Có rất nhiều thân chủ, lợi dụng bị bệnh, uống rượu như hũ ch́m, hũ nổi, rồi xỉn
quá, đánh chửi vợ con. Quư vị cũng theo dơi t́nh trạng Cholestérol,
Triglycérides, Glycémies trong máu thân chủ, thấy những loại trên vượt mức giới
hạn th́ chỉ cho ăn, mà không nên khuyên uống rượu.
Biểu h́nh loại người 3.
Khi cơ thể bị bệnh có thể đưa đến Dương-hư.
(Dương bị khoét một miếng)
Chứng trạng dương hư – Sắc mặt ám tối thuộc âm, trắng bệch.
– Âm thanh nhỏ đứt đoạn.
– Mạch thấy trầm, tŕ, tiêu, sáp, hư.
– Bàn chân, bàn tay lạnh.
– Môi lợt.
– Tính trầm tĩnh.
– Sợ lạnh.
– Tim đập dưới 75 lần một phút.
– Nước tiểu trắng.
– Đại tiện lỏng.
– Tóc rụng.
– Răng lung lay.
– Huyết áp thấp.
– Người mề mệt.
– Trí nhớ giảm thoái.
– Đau ngang lưng.
– Nam khó khăn về Sex: Dbc-Cbk
– Nữ rắc rối về kinh nguyệt: Kinh ít, kinh kỳ kéo dài, lănh cảm.
3.3.6. Dùng dược tổng quát
– Kim quỹ thận khí hoàn.
– Bí tinh hoàn.
– Phục dương đại bổ tửu.
– Hữu quy hoàn.
3.4. Âm Dương đều hư
Phương thuốc Cúi đầu e thẹn
Phương thuốc này chép trong nhiều sách cổ Trung-quốc. Bấy giờ vào đời vua Tống
Chân-tông (997-1022) có một thiếu niên người Hoa gốc Việt, tên là Yến Thù. Cha
mẹ Thù nguyên là di thần nhà Ngô, v́ loạn sứ quân nên trốn qua kiều ngụ ở
Giang-nam. Khi Thù 12 tuổi đă nổi tiếng thần đồng, cử bút thành văn. Bấy danh sĩ
Trương Tri Bạch đang làm Tuyên-vũ sứ Giang Nam, nghe tiếng Thù, ông mời tới dinh
đàm đạo. Thù ứng đối như nước chảy. Trương Tri Bạch tấu về triều, vua bèn tuyên
chiếu gọi. Khi Thù lên đường người bạn gái tên Phương Lan, sắc nước hương trời,
dặn Thù rằng: Anh đi phen này, thanh vân đắc lộ, xin đừng quên nhau. Thù chỉ
trời thề rằng: Cả đời chỉ biết có nàng.
Thù vào kinh giữa lúc điện thí tiến sĩ. Vua cho Thù cùng làm bài với thí sinh.
Thù ung dung viết như mây trôi, nước chảy. Vua ban cho Thù đậu Đồng tiến sĩ xuất
thân và phong làm Thái tử mật thư tỉnh (Bí thư của Thái tử). Dù mới 12 tuổi, Thù
trở về quê cưới cô bạn gái Phương Lan làm vợ. Dần dần Thù làm tới Khu mật viện
sứ, Đồng trung thư môn hạ b́nh chương sứ (Tể-tướng) khi mới vào tuổi 25.
V́ c̣n ít tuổi, làm quan lớn, lại nổi tiếng danh sĩ đương thời, nhiều danh gia
muốn đem con gái gả cho Thù, dù chỉ mong được làm thiếp. Một lần Thù dự hội
tuyển phu của 2 hoa khôi đế đô. Thù trúng cách, được cả hai người đẹp, một tên
Hạnh Chi, một tên Hạnh Diệp. Nhưng ở nhà Thù đă có Phương Lan với 6 người thiếp,
nay thêm 2 hoa khôi, th́ Thù không ứng phó kịp. Con gà của Thù bắt đầu sinh
chứng.
Bấy giờ có sứ đoàn Đại Việt sang cống. Trong sứ đoàn có một y-sĩ trẻ tên Lê Văn.
Lê Văn bèn chẩn mạch, rồi chế cho Thù 100 viên thuốc tễ dặn rằng:
"Mỗi ngày ăn một viên, sau đó uống một chung rượu vào buổi sáng khi thức giấc".
Thù đem thuốc về. Thuốc thực hiệu nghiệm. Sáng Thù chiến với cô Hạnh Chi, chiều
với cô Hạnh Diệp và quên hẳn Phương Lan. Phương Lan ấm ức, làm bài từ than thở
cho duyên phận. Yến Thù nghe được bài từ đó, lật đật khăn áo đến pḥng nàng tạ
lỗi, rồi cho cả 6 cô thiếp với 2 nàng Chi, Diệp trở về với gia đ́nh.
Nhưng trong b́nh c̣n một viên thuốc. Thù ném viên thuốc đó ra sân. Trong sân nhà có đàn gà 36 con, với một con gà trống. Con gà trống đang lang thang ở sân nào biết viên thuốc đó là ǵ đâu, nó mổ vỡ ra rồi ăn hết.
Hơn tháng sau, Thù thấy vợ ḿnh xanh xao, gầy c̣m, c̣n đầu tất cả 36 con gà mái
đều trụi hết lông. Thù hỏi quản gia xem tại sao, th́ quản gia nói rằng : Từ khi
ăn phải thuốc của Thù, con gà trống đạp mái liên miên suốt ngày. Mỗi khi đạp
mái, con trống phải dùng mỏ mổ lên đám lông trên đầu con mái để lấy thăng bằng.
V́ con trống đạp mái nhiều quá, khiến đám gà mái trụi hết lông đầu.
Nghe chuyện, Thù mới chợt hiểu, hơn tháng qua, Thù đánh cờ với vợ quá nhiều, khi
sáng một cuộc, chiều một cuộc, khi th́ sáng hai, chiều ba, nên vợ xanh xao gầy
yếu mà Thù không để ư. Tiếng này đồn ra ngoài, chúng nhân đặt cho phương thuốc
đó tên Kê đầu tuyệt vũ.
Biểu h́nh
Do bệnh lâu ngày, dương hư, sẽ đưa đến Âm, Dương đều hư. Ngược lại, Âm hư lâu
ngày, đưa đến Âm, Dương đều hư.
Nay nhân năm con gà, tôi xin tŕnh bày ở đây, để Quư-vị đem về giúp các thân
chủ. Tôi mong rằng những bà vợ của những thân chủ sẽ xanh xao, gầy ṃn nhưng
luôn nở nụ cười thỏa măn như bà Phương Lan, phu nhân của quan Tể-tướng Yến Thù
đời Tống.
Cứ như y án, th́ Yến-Thù v́ lâm chiến nhiều quá, lại làm việc quá nhiều, thành
ra bị cả thận âm lẫn thận dương đều hư.
Theo thuyết âm-dương hỗ căn, khi âm hư hay huyết hư lâu ngày đưa đến kiêm luôn
khí hư hay dương hư. Ngược lại khí hư hay dương hư lâu ngày cũng đưa đến huyết
hư hay âm hư. Về thận cũng thế khi thận âm hay dương hư lâu ngày đều thành thận
âm-dương đều hư. Chứng Âm-Dương đều hư thường thấy ở người cao niên.
3.4.1. Thành phần
Chúng tôi ghi thêm tiếng La tinh bên cạnh để quư đồng nghiệp có thể giảng giải
cho thân chủ.
Kê đầu tuyệt vũ thang
1. Nhân sâm(Radis Ginseng) 12,50%
2. Lộc nhung (Cornu Vervi Parvum) 6,40%
3. Đản sâm (Codonopsis) 8,30%
4. Kỷ tử (Lycium) 8,30%
5. Phục linh (Poria Cocos) 8,30%
6. Thục địa (Rehmania) 8,30%
7. Hoài sơn (Dioscorea) 8,30%
8. Bạch truật (Atractylis Ovata) 8,30%
9. Bách hợp (Lilium) 8,30%
10. Liên tử (Nelumbo Nucifera) 8,30%
11. Viễn chí (Polygala) 4,20%
12. Ba kích ( Bacospa) 4,20%
13. Ngũ vị tử (Schizandrae) 2,10%
14. Cam thảo ( Glycyrrhiza) 4,20%
3.4.2. Cách chế
– Chế thành tễ, mỗi viên 3g.
– Để khỏi bị mốc, nên bọc sáp hoặc giấy kiếng bóng.
– Sau khi chế cho vào b́nh kín, để xa ánh nắng mặt trời, xa chỗ nóng quá +25 độ,
hoặc lạnh dưới +5 độ.
3.4.3. Dụng pháp, dụng lượng
– Ngày hai viên, sáng một viên, chiều một viên. Nhai nuốt với nước nóng, hoặc
uống với rượu.
– Tuy ấn định hai viên một ngày, nhưng nếu trong ngày đó mà lâm trận đánh cờ th́
sau cuộc chiến có quyền uống thêm một viên.
– Lỡ ra ngày lâm chiến hai hay ba lần, th́ cũng có thể táp tới 4 viên một ngày.
Quá 4 viên sẽ bị chóng mặt, huyết áp cao.
3.3.4. Hiệu năng
– Bổ mệnh môn hỏa,
– Sinh tinh,
– Kiên năo,
– Cường gân cốt.
3.3.4. Chủ trị
Đầu tiên phương thuốc chỉ giúp Yến Thù ứng chiến với một vợ, 6 thiếp và 2 mỹ
nhân. Cộng là 9. Nhưng sau khi phân tích dược lư và thử nghiệm, chúng tôi đă
dùng để trị rất nhiều bệnh. Xin tŕnh bày những bệnh đó theo Tây y học của chúng
ta ngày nay (tức Tây-y) để độc giả dễ hội lĩnh.
Bệnh đàn ông
– Bần tinh (Oligospermies).
– Tinh nhược (Asthénospermies).
– Dương vật bất cử.(Dbc).
– Dương vật cử nhi bất kiên.(Cbk).
– Bệnh gà (Di-tinh).
Bệnh đàn bà
– Huyết trắng (Leucorrhée).
– Lănh cảm (Frigilité).
– Không thụ thai (Infertillité).
Bệnh thần kinh, năo, tai mũi họng
– Mất trí nhớ,
– Tai kêu do thần kinh,
– Thần kinh suy nhược (Anxio-dépressif).
Trong phần trên có hai danh từ mà tôi cần phải giảng giải kỹ:
Một là dương vật bất cử:
Chỉ t́nh trạng liệt dương ở những người trước kia th́ lâm chiến đều đều, nay
chẳng may bị bệnh, sau khi bệnh khỏi, cơ thể suy nhược, thành ra cúi đầu trước
mảnh quần hồng.
– Hoặc v́ làm việc trí óc quá sức như các vị nghiên cứu gia, các vị thảo chương
viên điện toán, các văn sĩ, kư giả... sau khi hoàn thành một tác phẩm, trí năo
mệt mỏi tinh thần thất thường, rồi... x́u luôn.
– Hoặc sau khi bệnh, hoặc đang xử dụng những loại thuốc phát mồ hôi như
aspirine, thuốc ho (loại expectoral), thuốc suyễn, thuốc hạ huyết áp.
– C̣n những người từ bé tới lớn lúc nào cũng cúi đầu e thẹn, th́ phương thuốc
trên vô hiệu.
Hai là cử nhi bất kiên:
Chỉ t́nh trạng đứng trước đối tượng ham thích, đầu rùa chui khỏi hang, cổ gà
nghểnh cao, hăng hái chuẩn bị xung phong đánh trận. Nhưng khi mặc quần áo của
ông Adam và bà Eva th́ lại x́u, rụt đầu rụt cổ, ngóc dậy không nổi. Cái hà tỳ
này làm cho các đấng nam nhi đau buồn nhất, khổ nhất, dễ mọc sừng nhất.
4. KẾT LUẬN
Đầu năm gà nói chuyện gà, hi vọng với bài này Quư-vị có thể giúp thân chủ t́m
lại được hạnh phúc, cái hạnh phúc mà họ tưởng đă bị mất đi trọn vẹn.
Ghi chú dành cho bản Việt Ngữ
Mấy năm gần đây tôi thường trích những bài đă thuyết tŕnh trong dịp đại hội
Sexology, hoặc giảng dạy cho sinh viên rồi đăng báo. V́ tài liệu soạn tổng hợp
dành cho đối tượng là những bác sĩ tốt nghiệp đại học, muốn thâm cứu thêm y học
Á châu. Độc giả thấy chỗ nào không hiểu th́ lướt qua, chẳng nên chẻ sợi tóc làm
tư chi cho mệt.
Một số độc giả viết thư cho tôi hỏi những vấn đề quá phức tạp, đôi khi xin chẩn
bệnh. Không bao giờ tôi trả lời. Bởi một là tôi quá bận, trả lời một thư như vậy
mất cả một hai ngày, không c̣n làm việc ǵ được nữa. Nếu một tháng trả lời 30
bức thư th́ đến lượt con gà của tôi cúi đầu e thẹn, rồi không làm việc, th́ làm
sao mà sống đây.
Hai là khi bệnh quư vị đến tŕnh độ thầy thuốc gia đ́nh bó tay, ắt phải đặc biệt
lắm. Quư vị đến với tôi, e tôi phải làm hàng chục thí nghiệm, rồi chẩn đoán ḷi
con mắt mới t́m ra bệnh. Thử hỏi với vài ḍng thư, sao tôi có thể biết bệnh mà
cho thuốc ?
Riêng các đồng nghiệp đă nghiên cứu y học Á châu, muốn thâm cứu vấn đề tôi nêu
ra, có thể gọi điện thoại, chúng ta sẽ trao đổi với nhau những kinh nghiệm.
Xin
đừng viết thư.
Paris, cuối Đông xuân Nhâm Thân 1992

Tiểu sử của Bác-sĩ
Trần Đại-Sỹ
Yên-tử cư-sĩ (YTCS)
Giáo-sư Trường y khoa Arma (Paris).
Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ tại viện Pháp-Á
(Institut Franco-Asiatique).
Ông sinh trong một gia đ́nh nho học. Ông ngoại là một đại khoa bảng của triều
Nguyễn. V́ không có con trai, nên cụ theo tục lệ cổ Việt-Nam, nuôi cháu làm con.
Cụ nuôi Trần Đại-Sỹ từ nhỏ.
Thân phụ là một Thẩm phán, học tại Pháp, nhưng rất uyên thâm nho học. YTCS là
con thứ ba trong gia đ́nh sáu trai, một gái. Trên ông c̣n một người chị và một
người anh. Hai người em nổi tiếng trong gia đ́nh ông là Vơ-sư Trần Huy Phong, và
nhà văn, kiêm Vơ-sư Trần Huy-Quyền.
YTCS được khai tâm học chữ Nho vào năm 5 tuổi, năm 6 tuổi gửi vào trường Pháp
trong tỉnh học. Được quy y Tam-bảo học vơ với ngài Nam-Hải Diệu-Quang năm 7 tuổi.
Bản-sư, ông ngoại cũng như phụ thân YTCS đều là những người rất uyên thâm về các
khoa học huyền bí Đông-phương như :
Tử-vi, Bói dịch, Nhâm-độn, Phong-thủy, Tử-b́nh...
Ba vị nh́n thấy rất rơ thiên mệnh đă dành cho đệ tử, con cháu ḿnh những ǵ, nên
cả ba đă chuẩn bị sẵn một con đường cho cả đời YTCS. Hăy nghe YTCS tâm sự :
Bấy giờ là thời gian 1950-1954, Nho học gần như đi vào giai đoạn chót của
thời kỳ suy tàn, những vị khoa bảng cổ lác đác như sao mai. Chữ quốc ngữ được
quần chúng hóa. Các tiểu thuyết chương hồi của Trung-Quốc được dịch sang tiếng
Việt. Người Việt thi nhau đọc. Mà các tiểu thuyết của Trung-Quốc, viết trong chủ
đạo của họ : Vua luôn là con trời sai xuống. Các quan th́ luôn là những v́ sao
trên trời đầu thai, các nước xung quanh Trung-Quốc th́ Đông là Di, Bắc là Địch,
Tây là Nhung, Nam là Man. Bị ảnh hưởng của những tiểu thuyết đó, người Việt đọc
rồi tin là thực, thậm chí lập tôn giáo thờ kính những nhân vật đó, tự ty ḿnh là
Nam-man! V́ vậy sư phụ, cũng như ông cha tôi muốn ḿnh phải có mấy bộ tiểu
thuyết thuật những huân nghiệp của tổ tiên ta trong năm ngh́n năm lịch sử, để
người Việt ḿnh hiểu rơ hơn. Các người biết số Tử-vi của tôi có thể thực hiện
nguyện ước của các người, v́ vậy các người cố công dạy tôi ».
V́ vậy YTCS phải chịu một chương tŕnh giáo dục gia đ́nh rất nặng nề. Ta hăy
nghe ông tâm sự:
Năm tuổi bắt đầu học Ấu-học ngũ ngôn thi. Sáu tuổi học Bắc-sử, Nam-sử. Bẩy
tuổi học Tứ-thư, Ngũ-kinh. Tám tuổi đă học làm câu đối, văn sách, văn tế, chế,
chiếu, biểu. Dù phải học nhiều, song nhờ được luyện Thiền-tuệ nên vẫn thư thái
dễ dàng. Chín tuổi phải học thuật tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Mười
tuổi học 24 bộ chính sử Trung-Quốc, Đại-Việt sử kư toàn thư, Việt-sử lược,
Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục, Đai-Nam chính biên liệt truyện, và hằng
trăm thứ sách khác. Thành ra cả thời thơ ấu, tôi sống với sách vở, với Thiền,
chưa từng biết chơi bi, đánh đáo. Bất cứ ai cũng đặt câu hỏi: Làm thế nào tiền
nhân tôi lại có thể nhét vào đầu tôi những thứ khô khan như vậy? Sau này lớn lên
vào đại học Y-khoa tôi mới biết là nhờ Thiền-tuệ.
Năm 15 tuổi, YTCS đỗ Trung-học, rồi ông ngoại qua đời, một người trong gia đ́nh
gây ra thảm cảnh không thể tưởng tượng nổi, khiến YTCS phải rời tổ ấm. Song cơ
may đưa đến, ông được nhập học một trường có truyền thống giáo dục cực kỳ chu
đáo. Tuy gặp thảm họa, nhưng những ǵ bản sư, ông cha đă hoạch định cho cuộc đời,
YTCS vẫn cương quyết theo đuổi. Sống xa gia đ́nh, YTCS phẫn uất dồn hết tâm tư
vào việc học. Mười bẩy tuổi ông đỗ Tú tài 1, mười tám tuổi đỗ Tú tài toàn phần.
Vào Đại học. Năm 25 tuổi ra trường (1964.) Đă có chỗ đứng vững chắc về danh vọng,
về tài chánh. Bấy giờ ông mới trở về với gia đ́nh trong vinh quang. Mà... cái
người gây ra đau khổ cho YTCS, than ôi, y trở thành một tên lêu bêu, vô học bất
thuật, và cho đến bây giờ (2000), y đă đi vào tuổi 66, vẫn là một tên ma-cô, ma
cạo.
Năm 1968 ông bắt đầu viết những bộ tiểu thuyết lịch sử.
Năm 1977, ông làm việc cho Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical
Franco-Chinois viết tắt là CMFC) với chức vụ khiêm tốn là Thông dịch viên. Nhờ
vào vị thế này, ông học thêm, đỗ Tiến-sĩ y khoa Trung-Quốc, rồi lại tốt nghiệp
Trung-y học viện Bắc-kinh. Dần dần ông trở thành Giảng viên, rồi Tổng thư kư, và
cuối cùng là Trưởng đoàn từ 1995 cho đến nay (2000).
I. Sự nghiệp văn học
1. Dịch Cân Kinh - Thư Viện Việt Nam Ấn Quán xuất bản năm 2003
2. Giảng Huấn T́nh Dục bằng Y Học Trung Quốc (Bộ 3 quyển 900 khổ lớn) Thư-viện
Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
Cali. USA, xuất bản 2002.
Về cuộc khởi nghĩa của vua Trưng, gồm 11 quyển, 3509 trang, do Nam-Á Paris xuất
bản :
3. Anh-hùng Lĩnh-Nam, 4 quyển,1318 trang, 1987 tái bản 2000.
4. Động-Đ́nh hồ ngoại sử, 3 quyển, 886 trang, 1990, tái bản 2001.
5. Cẩm-Khê di hận, 4 quyển, 1305 trang, 1992, tái bản 2001.
Về cuộc phá Tống, b́nh Chiêm thời Lư, gồm 19 quyển, 6634 trang, do viện Pháp-Á
Paris xuất bản. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
California, Hoa-kỳ tái bản 2001:
6. Anh-hùng Tiêu-Sơn, 3 quyển, 907 trang.
7. Thuận-thiên di sử, 3 quyển, 909 trang.
8. Anh-hùng Bắc-cương, 4 quyển, 1254 trang.
9. Anh-linh thần vơ tộc Việt, 4 quyển, 1334 trang. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
Cali. USA, tái bản 2003.
10. Nam-Quốc sơn hà, 5 quyển, 2230 trang, 1996. (Do viện Pháp-Á Paris xuất bản,
Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành).
Về cuộc b́nh Mông. Do viện Pháp-Á Paris xuất bản, Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành ...
11. Anh-hùng Đông-A dựng cờ b́nh Mông, 5 quyển, 2566 trang, 1999. Tổng cộng đă
xuất bản : 12.709 trang !
Đang viết sẽ xuất bản: • Anh-hùng Đông-A gươm thiêng Hàm-Tử, 5 quyển, khoảng
2500 trang.
Về cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn : • Anh-hùng Lam-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.
Về cuộc khởi nghĩa Tây-Sơn : • Anh-hùng Tây-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.
Tính chung, YTCS đă và dự định viết là : 20.209 trang.
II. Sự nghiệp y học
Nếu so sánh với sự nghiệp văn học, th́ sự nghiệp y học của YTCS rất khiêm tốn.
Tốt nghiệp:
Đại-học Y-khoa Cochin Port Royal Paris (Pháp) với luận án Contribution à la bio-bibliographie
de quelques Stomatologistes et dentistes français.
Đại-học Y-khoa Thượng-Hải, với luận án Trung-y dương ủy biện chứng luận trị (Điều-trị
chứng bất lực sinh lư bằng y học Trung-Quốc).
Sự nghiệp y học của ông có 3 : Một là t́m lại được cây Phản-ph́, hai là t́m ra
phương pháp Điện-phân mỡ, ba là đào tạo được 1422 đệ tử.
1. T́m lại được cây Phản-ph́ Năm 1982
YTCS cùng phái đoàn CMFC, đă t́m lại được cây Phản-ph́, tưởng đă tuyệt chủng.
Loại cây này thuộc họ trà, rút bỏ một vài độc chất, chế thành thuốc uống vào có
khả năng giảm béo, hạ thấp Cholestérol, Triglycéride trong máu, mà không bị phó
tác dụng như các loại thuốc hóa học. Sau đó cây này được gây giống, trồng, chế
thành thuốc. Năm 1984 bắt đầu bán trên thị trường châu Âu. Trong chuyến đi này,
phái đoàn được tăng cường một nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, và một nữ Bác sĩ
thuộc Côn-minh làm Hướng dẫn viên. Để làm vui ḷng hai người đẹp đi trong phái
đoàn, thay v́ đặt cho sản phẩm này mang tên ḿnh, YTCS đă đặt tên là Hao Ling (Đọc
theo Hán-Việt là Hảo Liên). Hảo là nữ Bác sĩ Chu Vĩnh Hảo người Vân-Nam. Liên là
tên nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, đi theo phái đoàn.
2. T́m ra phương pháp điện phân mỡ
Khởi đầu từ năm 1978, trong một dịp vô t́nh, YTCS cùng một số học tṛ, đă t́m ra
phương pháp Điện-phân mỡ, mà tiếng Pháp gọi la Lypo-électrolyse. Sau đó mười năm,
một trong các học tṛ của ông là Bác-sĩ Nguyễn Thị Dung (Hay Đặng Vũ Dung), đem
ra phổ biến trên báo, nên người ta tưởng bà là tác giả. Hiện nay trên thế giới
có khoảng 60.000 Bác sĩ xử dụng. Phương pháp này có thể làm mất mỡ tại bất cứ
khu vực nào trên cơ thể, mà không phải dùng thuốc, hay giải phẫu.
3. Đào tạo học tṛ
Năm 1977, YTCS bắt đầu đào tạo học tṛ. Nhận thấy y học Tây-phương thường bó tay
trước một số bệnh, mà y học Trung-Quốc lại có thể điều trị dễ dàng. Trong khi đó
tại Pháp cũng như châu Âu, lại ít người biết đến. Bấy giờ tại Pháp có chừng vài
trường, dạy cho những Bác sĩ đă tốt nghiệp Đại học y khoa, học thêm 3 năm về
khoa Châm-cứu, chương tŕnh rất giản lược. Ông âm thầm đào tạo 9 Bác sĩ người Âu,
5 Bác sĩ người Việt, và một tu sĩ Phật-giáo về khoa Châm-cứu, Bốc-dược, Khí-công
rất sâu, đúng như chương tŕnh của Đại học y khoa Thượng-Hải. Chính đám đệ tử
đầu tiên này, sau khi học xong, đều mở trường dạy học, gồm hai trường ở Pháp một
trường ở Tây-Ban-Nha. Chương tŕnh dạy tổng hợp y học Âu-Á bắt đầu. YTCS vừa dạy
tại các trường này, vừa làm cố vấn cho các Giám đốc trường. Cho đến nay (2000)
ông đă đào tạo được 1422 Bác sĩ, đang hành nghề khắp châu Âu. Trong đó có 136
Bác sĩ Việt-Nam.
III. Kết luận
Viện Pháp-Á mời Giáo sư Trần Đại-Sỹ giữ chức Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ v́ các lư
do sau :
1. Thứ nhất, ông rất giỏi về các khoa huyền bí Á-châu : Tử-vi, Nhâm-độn, Bói
dịch, Phong-thủy, Phương-thuật. Ông dùng lư thuyết khoa học để chứng minh các
khoa trên không phải là những thứ bói toán dị đoan. Trong các khoa trên, ông nổi
tiếng nhất về khoa Phong-thủy (Địa-lư).
2. Ông cùng CFMC dùng hệ thống ADN để chứng minh rằng lănh thổ tộc Việt bao gồm
từ sông Trường-giang xuống tới vịnh Thái-Lan. Với công cuộc nghiên cứu này, ông
làm đảo ngược tất cả những nghiên cứu cổ cho rằng: Người Việt gốc từ người
Trung-Hoa trốn lạnh hay trốn bạo tàn di cư xuống; mà người Trung-Quốc do người
từ Đông Nam Á đi lên hợp với giống người đi từ Bắc-Á đi xuống.
3. Ông đă can đảm dành cả cuộc đời, để viết những bộ lịch sử tiểu thuyết trường
giang, ca tụng huân nghiệp giữ nước của tổ tiên ông; mà từ trước đến giờ chưa
ai làm, chưa ai làm được, chưa ai có can đảm làm. Những bộ này ngoài yếu tố lịch
sử, c̣n chứa đựng tất cả hệ thống văn hóa, tư tưởng của tộc Việt. Chúng tôi liệt
tác phẩm của ông vào loại tư tưởng.
4. Ông t́m lại được cây Phản-ph́, phát minh ra phương pháp Điện-phân mỡ.
Bác-sĩ
Trần-Thị Phương-Châu (Gynecology)
Giám-đốc Nam-Á sự vụ, viện Pháp-Á.
(Trích tập san Y-học Việt-Nam hải ngoại, số kỷ niệm 2000).