THUỐC BỔ ĐÔNG Y: CHỐNG SUY NHƯỢC, TĂNG SỨC ĐỀ
KHÁNG
BS. LÊ QUYÊN
Phép bổ là một trong 8 phép điều
trị của đông y (hăn, thổ, hạ, ḥa, ôn, thanh, tiêu, bổ), dùng khi bệnh nhân
được chẩn đoán ở thể hư: cơ thể suy nhược không đáp ứng điều trị hoặc bệnh
mạn tính kéo dài khiến sức đề kháng suy giảm. Phép bổ được áp dụng chung cho
cả cơ thể hoặc chỉ cho riêng một tạng phủ nào bị suy nhược
(bất túc). “bổ” có nghĩa là bồi bổ, làm cho cơ quan đó mạnh hơn.
Nếu cơ thể bị suy nhược bẩm sinh, Đông y gọi là tiên thiên bất túc, do không
hấp thu được chất tinh hoa từ cha mẹ khi chào đời. Trường hợp này bổ theo
tiên thiên, nghĩa là dựa vào học thuyết thủy hỏa. Nếu cơ thể bị suy nhược do
bệnh lâu ngày, do dinh dưỡng kém… được gọi là hậu thiên bất túc, trường hợp
này phép bổ phải tuân theo nguyên tắc Ngũ hành “Con hư bổ mẹ”. Theo lập luận
này th́ thuốc bổ theo Đông y bao gồm bổ Dương - bổ Khí (bổ tiên thiên) và bổ
Âm - bổ Huyết (bổ hậu thiên), trong đó, Thận
(thận âm và thận dương) là gốc
của tiên thiên và Tỳ Vị là gốc của hậu thiên.
Thuốc bổ khí:
Là những thuốc có
tác dụng nâng cao sức lực, tăng cường chức năng hoạt động của các cơ quan
trong cơ thể. Theo YHCT: Khí của Tỳ và Phế là 2 nguồn khí cơ bản quan trọng
nhất trong cơ thể, do đó thuốc bổ khí chủ yếu là bổ 2 tạng này.
Nhân sâm (Radix Ginseng): Chống mệt mỏi, tăng sức lao động trí óc và
chân tay, tăng cường khả năng thực bào của hệ thống vơng nội mô, tăng chuyển
hóa lympho bào, tăng globulin IgM, qua đó tăng tính miễn dịch. Những bệnh
nhân bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) sử dụng nhân sâm rất
tốt.
Hoàng ky (Radix Astragali): Thúc đẩy quá tŕnh chuyển hóa trong cơ
thể, trong đó có quá tŕnh chuyển hóa protid của huyết thanh và gan. Nước
sắc hoàng kỳ làm tăng khả năng thực bào của hệ thống tế bào lưới, số lượng
IgM, IgE và cAMP trong máu tăng. Thúc đẩy sự h́nh thành kháng thể và nâng
cao tính miễn dịch thể dịch.
Sâm tam thất (Panax notoginseng): Chống mệt mỏi, tăng khả năng lao
động, có tác dụng tăng miễn dịch của cơ thể.
Linh chi (Canoderma japonicum): Tăng cường miễn dịch cơ thể, ngoài ra
c̣n có tác dụng ức chế tế bào ung thư.
Thuốc bổ dương:
Làm tăng cường
dương khí trong cơ thể, thúc đẩy chức năng khí hóa trong các phủ tạng. Các
loại thuốc có tác dụng điều chỉnh chức năng vỏ thượng thận, tăng sản nhiệt,
tăng cường chức năng sinh dục và tăng sức đề kháng của cơ thể.
Lộc nhung (Cornu Cervi Parvum): Là sừng non của hươu đực hoặc nai
đực. Có tác dụng cường tráng cơ thể, giảm mệt mỏi, tăng chuyển hóa năng
lượng và tăng tính miễn dịch cơ thể.
Dâm dương hoắc (Herba Epimedii): Có tác dụng điều tiết và tăng sức đề
kháng của cơ thể đă bị suy giảm, có tác dụng kháng virus.
Đỗ trọng (Cortex Eucommiae): Tăng cường miễn dịch cơ thể.
Thuốc bổ huyết:
Dùng trị chứng
huyết hư như sắc mặt nhợt, hoa mắt, chóng mặt, hay quên, hồi hộp, mất ngủ.
C̣n dùng để cải thiện trạng thái dinh dưỡng của cơ thể. Huyết trong cơ thể
có liên quan mật thiết đến 3 tạng là Tâm, Can và Tỳ.
Đương qui (Radix Angelicae Sinensis): Làm tăng chức năng miễn dịch
không đặc hiệu của cơ thể, tăng khả năng thực bào của đại thực bào, thúc đẩy
sự chuyển dạng lympho bào.
Hà thủ ô (Streptocaulon juventas): Có tác dụng tăng miễn dịch và ức
chế tế bào ung thư.
Bạch thược (Radix Paeoniae lactiflorae): Có tác dụng an thần, giảm
đau, bảo vệ tế bào gan, tăng lưu lượng máu dinh dưỡng cơ tim, điều chỉnh
miễn dịch cơ thể.
A giao (Gelatinum Asini): Là keo chế từ da con lừa, có tác dụng bổ
huyết, tăng cường chuyển dạng lympho bào.
Câu kỷ tử (Fructus Lycii Chinensis) có tác dụng nâng cao khả năng
thực bào của đại thực bào, tăng số lượng và hiệu giá của kháng thể. Ngoài ra
c̣n có tác dụng ức chế tế bào ung thư.
Thuốc bổ âm:
Là thuốc có tác dụng
tư bổ âm dịch, sinh tân nhuận táo, trị táo bón. Các biểu hiện của âm hư là
bệnh nhiễm khuẩn mạn tính, cơ thể suy ṃn hư nhược, gầy yếu, da khô, ḷng
bàn tay chân nóng, cảm giác nóng trong người, hay sốt về chiều, ra mồ hôi
trộm, môi khô, lưỡi đỏ…
Hoàng tinh (Rhizoma Polygonati): Thúc đẩy sự tổng hợp DNA, RNA và
Protid. Polysaccarit của hoàng tinh làm tăng chuyển dạng lympho bào. Có tác
dụng kháng khuẩn, đặc biệt đối với trực khuẩn lao, ức chế nhiều loại nấm gây
bệnh, nên có tác dụng tốt đối với những bệnh nhân nhiễm HIV có kèm bệnh lao
cơ hội.
Nữ trinh tử (Fructus Ligustri Lucidi): Làm tăng chuyển dạng lympho
bào và tăng bạch cầu.
Miết giáp (Mai ba ba, Carapax Amydae sinensis): Có tác dụng ức chế sự
tăng sinh của tổ chức liên kết, do đó có thể làm tiêu khối u, tăng protid
huyết tương, nâng cao tính miễn dịch của cơ thể.