
Hà Nội, C̣n Nhớ Hay Quên ?
"Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa
biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa
Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tṛn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, t́nh ái em đong thật đầy..."
Tôi nghe bài ca "Nỗi Ḷng Người Đi" của nhạc sĩ Anh Bằng phát ra từ chiếc
radio trên xe sáng nay. Bài hát trùng hợp với sự kiện tôi vừa nhận được một
quyển sách do một nhà văn cao niên biếu tôi do nhà thơ Vũ Hoài Mỹ trao lại.
Sách mang tựa đề "Về những kỷ niệm quê hương" của nhà văn Nguyễn Thạch Kiên
(NTK). NTK là một trong số các nhà cầm bút lăo thành c̣n sót lại. Tôi thích
sách này v́ tác giả kể nhiều về các nhà văn, nhà thơ và Hà Nội trước 54.
Trang 6 của sách có h́nh của tác giả khi c̣n trẻ, ông trông thật bảnh trai,
thật khôi ngô. Xem h́nh tôi nhớ lại vị thầy cũ đáng kính mến, đầy thân thiện
của tôi dạy lớp nhất là thầy Mai. Thầy Mai di cư từ miền bắc vào nam năm 54
và đi chỉ có một ḿnh. Thầy vào Nam trong nỗi cô đơn. Nhà thầy ở gần khu vực
cư xá Đô Thành Sài G̣n trên dường Phan Thanh Giản. Thầy có tài vẽ rất đẹp,
thầy làm thơ và ca thật hay. Ngày đó tôi đi học phải cuốc bộ từ góc Lê Thánh
Tôn và Cường Để băng qua Sở Thú (Thảo Cầm Viên), rồi qua cây cầu Bông bắc
ngang sông Thị Nghè đến trường Thạnh Mỹ Tây II. Dĩ nhiên đoạn đường đi học
rất đẹp v́ xuyên qua những con đường trong Sở Thú, nơi có muôn hoa, bách
thảo, và nhiều loài vật hiếm quư, rồi đi men trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm có
những hàng cây sao cao vun vút, quẹo phải sang góc cuối đường Lê Thánh Tôn
với hàng me chạy dài bóng mát dẫn về nhà. Trên đoạn đường đó thầy Mai đi
cùng lối về nên thường cho tôi quá giang trên chiếc gắn máy Vespa của thầy.
Những ngày lễ liên hoan tại trường như dịp Tết Nguyên Đán hay ngày Quốc Hận
chia đôi đất nước, 20 tháng 7, thầy mang đàn vào, thầy hát bài ca "Nỗi Ḷng
Người Đi". Để rồi từ đó tôi biết bài này. Thầy thường kể tôi nghe về đất bắc
từ Hà Nội thơ mộng của thầy, vịnh Hạ Long, cao nguyên Sapa, đến chùa Hương,...
Trong trường có một cô giáo cùng gốc bắc tỏ ra mến thầy và tôi là con thoi
giao thư qua lại. Ngược lại, tôi được thầy tín cẩn cho làm đệ tử và cho về
chung trên chiếc Vespa của kỷ niệm khó quên ngày nào.
"Bạn ḷng ơi!
Ngày ấy tôi mang cây đàn
quen sống ca
vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên ĺa tan
Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết t́m về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi
giữa gịng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa
phai mờ
Hôm nay Sài G̣n bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi
trong bùi ngùi ước mơ nên đẹp đôi"
Nói tới Hà Nội tôi liên tưởng đến thơ thầy Mai của ngày cũ hôm nào:
"Hà Nội ơi, thơm ngọt ngào hoa sữa
Con đường xưa bao dấu vết chân quen
Hồ Gươm đây mây bay trời lộng gió
Mưa phùn rơi e ấp dáng nguồn thơ..."
hay
"Hà Nội ơi, dịu dàng
như hương cốm
Nụ hoa sữa che búp bầu trời xanh
Thấy trong tôi như trời đang dừng lại
Gió nhẹ ru cho vàng mùa Thu tới..."
C̣n nhớ
trong tôi bài thơ ngày ấy những ḍng thơ dịu dàng của thầy Mai về Hà Nội như
là bước khởi đầu t́nh tự giữa tâm hồn tôi và Hà Nội, để cho cái hồn thơ đó
đă ăn sâu vào ḍng huyết quản của tôi. Rồi cho ư tưởng của tôi về Hà Nội
đong đầy bao kư ức thời tiểu học khi mà có thầy Mai, có cô Loan, có người Hà
Nội xa xưa mà tôi được nghe kể về Hà Nội có mưa phùn nhẹ bay, có mùi thơm
hoa sữa quyện vào không gian có hương cốm ngọt ngào của đầu ngày.
Năm nay Cali lại không có mưa. Sự thiếu vắng cái không gian mát rượi của mưa
kỷ niệm quê nhà làm cho những ư nghĩ tôi thêm bâng khuâng. Sài G̣n trong kư
ức êm đềm và tươi mát trong tâm hồn tôi là những ngày trời mưa, khi mà tôi
b́ bơm lội đi trong mưa của những ngày niên thiếu xa xưa, càng nhớ hơn những
con đường tràn ngập nước mưa làm hoen ố lối về, nhưng lại đẹp đẽ vô cùng
trong kư ức của tôi ngày hôm nay. Thật vậy, khi Nam Cali càng ít mưa làm tôi
càng nhớ quê nhà thêm, những kỷ niệm xưa chợt hiện về huyền thoại như một
bức tranh thủy mạc. Một hôm trời mưa chiếc xe Vespa của thầy Mai bị hư. Thế
là hai thầy tṛ cong lưng đẩy hụt hơi, khi xe nổ máy chạy lại thầy chở tôi
băng qua cầu Bông đến một quán ăn nằm trong Sở Thú, gần chuồng voi và sở Ba
Son. Chúng tôi vào quán, trời mưa quán vắng vẽ thê thảm chỉ có tôi và thầy
là khách. Cô bán hàng ra chào hỏi. Thầy hỏi tôi ăn món ǵ khi tôi nh́n bảng
thực đơn treo gần cửa vào.
- "Dạ, xin cho em tô b́ bún", tôi đáp khi nh́n cô bán quán.
Thầy hỏi đùa:
- "Em uống xá xị con Cọp hay Cô hát ?"
Tôi nh́n thầy và cô bán quán với một thoáng cười, rồi tôi xin một ly Coca.
Thầy Mai biết ư tôi thích hai loại nước này. Hăng BGI nổi danh thời đó món
nước ngọt xá xị có h́nh con Cọp. Có hôm thầy chở tôi về hai thầy tṛ vào ăn
phở bắc hay hủ tiếu tại khu vực chợ Thị Nghè. V́ nếp sống độc thân thầy
chuộng h́nh thức ăn đó đây.
Tôi nh́n mưa rơi lác đác trong cái không gian có mây đen xám xịt giăng quanh
khung trời chỉ 4 giờ chiều sao mà buồn quá. Tôi nh́n tô bún thịt nướng của
thầy vừa được đem ra thơm lừng. Trời lạnh mà tôi chọn món b́ bún thật là
thất sách.
Thầy Mai ăn xong trong khi tôi ăn chậm hơn có lẽ tô bún quá nguội. Thầy bảo
thầy thèm món bún chả Hà Nội, dù món bún thịt nướng của người miền nam có
đệm thêm sả băm vào mà thầy cũng thích. Thầy là người hoạt bát, lanh lẹ, kể
chuyện duyên dáng. Thầy kể về Hà Nội với bao hoài niệm mà thầy mang theo vào
Nam, từ các di tích có chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, tháp Rùa, đền Ngọc Sơn,
hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội có mưa phùn rơi lấm tấm, có hoa mùa cua hay hoa sữa, có
món chả cá, rồi bún chả, món cốm Ṿng gói lá sen,... những cái kư ức đó đă
nhập tâm thầy và rồi nhập tâm tôi. Phải chăng đó là duyên văn hóa giao duyên
giữa hai miền Bắc và Nam sau cuộc di cư khổng lồ 54 ? Điều điển h́nh của sự
kiện này là tôi sinh trưởng tại miền Nam được học hỏi từ vị thầy khả kính di
cư từ Hà Nội có ḷng rộng lượng và lại vui tính trong cái cảm quan của tôi.
Do vậy những bài toán động tử, toán bách phân đầu đời, những bài luận văn
ngày nào được nhập tâm tôi với kỷ niệm của thầy Mai. V́ thế nên những bài
viết về Hà Nội, những bản nhạc hay những món ăn Hà Nội đến với tôi thật tự
nhiên, thật dễ dàng bị ru ngủ. Thậm chí có những người bạn gái đầu đời của
tôi có gốc Hà Nội luôn, hay là v́ thầy Mai đă gây ảnh hưởng cho tôi nhỉ ? Hà
Nội của thầy Mai cho tôi... một Mỹ Hạnh thơ ngây xinh xắn, rồi một Diễm Hạnh
ngọt ngào, dễ thương mang chất giọng bắc Hà Nội ngày nào mà thầy Mai kể tôi
nghe về cách phân biệt thế nào là giọng bắc Hà Nội.
Tôi t́m về kư ức cũ ngày xưa của thầy Mai, dĩ nhiên có Hà Nội trong đó:
Hà Nội và Hoa Sữa:
Tôi nhớ những bài thơ, bài nhạc về Hà
Nội mà nhà thơ Hoàng Thy gửi biếu tôi. Những ḍng thơ hay nhạc của Hoàng Thy
tôi bắt gặp cái tính chất Hà Nội mà anh mang theo trong nỗi nhớ quê hương
như sau. Anh Hoàng Thy tôi quen qua nhóm thơ nhạc Sóng Việt ở San Diego, anh
làm thơ, sáng tác nhac. Nhạc của anh mang nét thổn thức cho quê hương, nó
mang cái âm hưởng nhạc tiền chiến thuở nào khi ta nghe:
Hà Nội Vào Thu
Sương trắng phủ trên hồ Gươm bàng bạc
Gió Thu về lác đác lá bàng rơi
Nắng miên man nhuộm úa cả khung trời
Hàng sấu vẫn chơi vơi thầm lay động.
Cơn mưa phùn trong khoảng trời rất rộng
Cái lạnh về se thắt cơi ḷng ai
Áo trinh nguyên, áo màu hoa sữa trắng
Thêu lên từng sợi nắng của vàng Thu.
Hoàng Thy
Hoa sữa
trên đường phố Hà Nội:·
Hoa sữa không biết được du nhập vào Hà Nội từ bao giờ, nhưng đă từ lâu rồi
hoa sữa nghiễm nhiên trở thành một biểu tượng đặc trưng, một nét đẹp rất
riêng, rất kiêu sa của Hà Nội mà ít nơi nào có loài hoa sữa mọc nhan nhăn
như vậy. Vào mùa cuối thu hoa sữa nở, người ta có thể ngửi nó thật nồng nàn
bay trong không gian v́ mùi hương quyến rũ, thật đáng ghi vào kư ức kỷ niệm
về Hà Nội. Tôi được một anh bạn văn khác là giáo sư hồi hưu Đàm Trung Phán,
cư ngụ tại Toronto, bên Canada giúp tôi t́m hiểu nhiều về nhiều loài thực
vật như tùng, bách, thông, loài bonsai hiếm quư, các loài lan, hồng,...,
nhiều và nhiều, trong số muôn hoa đó có hoa sữa của Hà Nội mà trong bài này
tôi đang nắn nót ra đây.
Chi tiết về hoa sữa tôi nhân được từ anh Phán là hoa sữa c̣n được gọi là hoa
mùa cua hay hoa ṃ cua, tên hoa ngữ là hắc bản thụ, tên anh ngữ của nó là:
devil tree, indian pulai, milky pine, Pháp ngữ là: alstonia des écoliers hay
tên thực dược học latin là alstonia scholaris, thuộc họ hoa: apocynaceae. Có
cây cao khoảng 20 thước, lá có bảy cánh đan x̣e vào nhau như lá khoai mi hay
bông g̣n, lá màu xanh đậm, hoa màu sữa trắng và khi ta bấm vào cành non thấy
chảy ra chất nhựa có mầu trắng như sữa, có lẽ v́ thế mà dân gian gọi là cây
sữa. Giống như các loài hoa lài, dạ lư, ngọc lan, trà mi,... và hương hoa
sữa chỉ thơm về ban đêm.
Anh bạn tôi kể rằng những cây sữa trên đường Quan Thánh rất đẹp, cây cao vút,
tàng lá lồng lộng vươn lên giữa trời xanh. Dọc theo con đường Nguyễn Du có
nhiều cay sữa trồng đă lâu lắm rồi. Khi mùa đông về không gian cuối năm nghe
chút lẽ loi của không gian tĩnh mịch, trong sương đêm giăng lành lạnh, bạn
ngồi gần bên mặt hồ Thiền Quang, mùi hoa sữa toả ra nồng nàn khứu giác. Các
cặp t́nh nhân trai gái hẹn ḥ t́nh tự bên bờ hồ, rồi dạo bước dưới hàng cây
sữa chan ḥa hương thơm ngát và khung cảnh đầy thơ mộng chỉ làm t́nh yêu
thêm nồng thắm hơn.
Bởi v́ thế dấu chỉ hoa sữa đă đi vào văn thơ hay nhạc Việt Nam như Hà Nội
của hoa sữa hay hoa sữa của Hà Nội, hai yếu tố bất khả phân ly hay khó ḷng
mà tách rời trong văn chương. Ta hăy nghe thêm thơ của Hoàng Thy về mùa Thu
hoa sữa:
Hà Nội Cuối Thu
Anh thấy mây Thu vẫn lững lờ
Quyện vào mắt biếc nét ngây thơ
Trôi trong làn tóc mùi hoa sữa
Ngây ngất hồ Gươm đứng thẫn thờ
***
Anh thấy mưa phùn lây lất bay
Chiều thu Hà Nội dáng hao gầy
Xin em cứ để mưa rơi rớt
Trên dáng trang đài ngây ngất say
Hoàng Thy
(c̣n tiếp ...)
(tiếp
theo)
Hà
Nội... Với di tích lịch sử:
Tôi có anh bạn, Phạm Văn Vĩnh, anh viết văn, và anh mê thi ca. Trong ng̣i bút
của anh tôi thấy chất chứa sự nồng nàn, sự tŕu
mến, sự ấp ủ từ tâm thức với những di tích văn hóa của một Phiên An trong quá
khứ, một Thăng Long trong dĩ văng hay một Hà Nội ngày cũ với các di tích xưa.
Tôi xin anh một bài viết về cảm nghĩ của anh. Sau đây là bài đóng góp của anh:
"Có một thuở, người Sài G̣n
thường mơ về Hà Nội khi nghe qua ca khúc của nhạc sĩ Phạm Đ́nh
Chương, phổ thơ Hoàng Anh Tuấn. Mưa Sài G̣n,
Mưa Hà Nội. Bản nhạc mở đầu thật rạo rực:
"Mưa hoàng hôn,
trên thành phố buồn gió heo may vào hồn,
Thoảng hương tóc em ngày qua.
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà.
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền ḥa.
Thương màu áo ngà.
Thương mắt kiêu sa."
Đây là lúc thơ và nhạc cứ quện lấy nhau đưa người nghe tới chốn tưởng như
trong mơ. Mùa thu Hà Nội với gió heo may qua năm cửa ô quạnh quẽ và hiu hắt.
Gió heo may không mạnh, không lạnh cóng và không u sầu. Gió heo may mơn man,
lướt nhẹ, đùa cỡn với hơi thở, trong ánh nắng vàng hoe của một bầu trời thiên
thanh và quang đăng. Gió heo may đưa nhẹ mùi hương của hoa sữa, của cốm làng
Ṿng, của vẻ đẹp mỹ miều, yêu kiều của người Hà Thành. Gió thong thả cho ta
thả hồn quanh Hồ Tây đưa ta về với vẻ đẹp của tích cổ ngày xa xưa. Gió lung
lay cành liễu rủ quanh hồ Hoàn Kiếm.
Hăy nói chuyện về hồ Gươm, bao nhiêu kỷ niệm lịch sử đă từng ghi sâu và măi
măi sẽ c̣n gắn bó với hồ Gươm.
Hồ Hoàn Kiếm hay hồ Gươm, trước kia, lâu lắm rồi có tên là hồ Lục Thủy. Lục
Thủy v́
hồ nước xanh quanh năm. Xưa kia hồ rộng lắm, gồm hai hồ là Tả Vọng và Hữu
Vọng. Các nhà Địa Lư cho rằng hồ là phần sót lại của sông Hồng thuở con sông
nước đỏ chưa chuyển ḍng
c̣n
đi qua nội thành Hà Nội. Trên những bản đồ xưa, hồ vẫn ăn thông với sông Hồng.
Phải đợi đến triều vua Minh Mạng, bản đồ mới xoá ngơ rẽ của Hồng hà và hồ mới
được đất liền bao vây nguyên vẹn. Dần già sau triều vua Tự Đức, người bản xứ
lấp đất gầy dựng thành phố, hồ c̣n
lại là Tả Vọng như ngày nay h́nh
trông như củ khoai, đầu to, đầu nhỏ. Bên phải hồ là đường Đinh Tiên Hoàng.
Đường bên trái là Lê Thái Tổ. Hồ ở quận Hoàn Kiếm, phía đông thủ đô Hà Nội.
Hồ Lục Thủy bắt đầu được nhắc đến trong sử kư
vào thời vua Đinh cho dựng trên hồ cây cột bia đá "Đà La Ni", gọi là cột Nhất
Trụ để cầu thọ, cầu cho vận nước lâu dài. Đến đời nhà Lư,
vua Lư
Thái Tông nằm mộng thấy Phật Bà Quam Âm ngồi trên đài sen, dắt tay vua lên
đài. Tỉnh dậy, vua nghe lời nhà sư Thiền Tuệ cho sửa lại thành chùa, xây toà
sen, cho tăng ni hành lễ chung quanh toà sen để cầu cho vua được sống lâu nên
đặt tên chùa là Diên Hựu. Đời Trần chùa đươc tu bổ lại gần như làm lại toàn
bô. Thời hậu Lê, chùa được tu bổ lại nhiều lần, thu nhỏ lại kích thước ṭa
sen và cột đá. Lịch sử cũng viết lại về sau chùa cũng được tu bổ thêm nhiều
lần nữa. Năm 1954, khi rút quân khỏi Đông Dương, Pháp đă đặt ḿn đánh sập ngôi
chùa. Chùa Một Cột hiện tại đă
được
xây lại theo kiểu mẫu để lại của triều Nguyễn.
Có nhiều tích viết về thanh kiếm báu trời ban cho Lê Lợi. Lam Sơn Thực Lực kể
vào giữa thế kỷ 15, khi nhà Minh xâm chiếm nước ta, ở vùng núi Lam có ông Lê
Thận làm nghề đánh cá. Một đêm chỉ chài được thanh sắt đem về để vào chỗ tối.
Bạn là Lê Lợi tới chơi thấy thanh sắt sáng rực lên th́
xin mang về, trên đă
có ghi sẵn hai chữ "Thuận Thiên" và chữ "Lợi". Sáng hôm sau ngủ dậy mở cửa
t́m
thấy chuôi gươm, tra vào th́
vừa vặn. Hôm nữa Hoàng Hậu ra vườn thấy mấy vết chân to th́
hoảng hốt chạy về báo. Khi Lê Lợi ra đến nơi th́
t́m
được ấn báu. Với thanh kiếm đó, Lê Lợi ṛng
ră
10 năm thu giang sơn về một mối. Một hôm vua ngồi thuyền dạo trên sông, thấy
con rùa vàng nổi lên, vua rút kiếm chỉ vào rùa bị rùa đớp mất thanh kiếm lặn
đi mất. Có nhiều t́nh
tiết khác nhau về chuyện vua trả gươm nhưng chung quy cũng từ đó vua cho đổi
tên thành Hồ Hoàn Kiếm.
Ở phía nam
hồ Hoàn Kiếm có một cái
g̣
tên gọi g̣
Rùa. Trên g̣
có một cái tháp xây từ thời Lê, tên gọi tháp Rùa. Nơi đây chúa Trịnh Căn cho
xây một cái đ́nh
để làm nơi nghỉ mát và duyệt thủy quân. Theo các tài liệu về sử học, hồ Hữu
Vọng là nơi luyện tập thủy binh nên có tên là hồ Thủy Quân. Hồ Tả Vọng mang
tên Hoàn Kiếm. Gắn liền với tháp Rùa có một sự tích kể chuyện ông Nguyễn Hữu
Kim, từng là Bá hộ, Tri phủ Thường Tín, rồi Thương biện phủ Hoài Đức, sau con
gái hoạt động chống pháp nên ông bị cách chức. Theo truyền thuyết, ông Bá Kim
có lần xin sửa lại tháp Rùa, mục đích để táng hài cốt của cha mẹ ông ta. Có lẽ
ông Kim tin nới đây có mạch tốt. Nhưng sự việc không thành v́
có người biết chuyện quăng hài cốt xuống hồ chỉ c̣n
lại hai cái quách rỗng. Đây chỉ là truyền thuyết.
Phía bắc mặt hồ có đảo Ngọc Sơn. Xưa có tên là Tượng Nhĩ. Vua Lư
Thái Tổ khi dời đô ra Thăng Long đổi tên đảo thành Ngọc Tượng. Vua nhà Trần
đổi lại là Ngọc Sơn. Đời Trần cho dựng một ngôi đền để Tổ Quốc ghi ơn những
anh hùng liệt sĩ đă
bỏ ḿnh
trong cuộc chống giặc Nguyên. Về sau đ́nh
sụp đổ, chúa Trịnh Giang cho xây Cung Thụy Khánh đồng thời cho đắp hai quả núi
ở bờ phía đông, đối diện với Ngọc Sơn, gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội. Về sau
cùng Thụy Khánh bị vua Lê Chiêu Thống cho phá đi. Một mạnh thường quân tên là
Tín Trai cho xây trên nền cung cũ ngôi chùa Ngọc Sơn. Đời Thiệu Trị, chùa Ngọc
Sơn được sửa đổi thành đền thờ Tam Thánh. Trong đền có thờ Văn Xương Đế Quân,
ông tổ của văn chương khoa cử, Lă
Động Tân, Quan Công, Trần Hưng Đạo và Đức Phật A Di Đà. Đền được đổi tên thành
đ́nh
Ngọc Sơn. Dưới thời Tự Đức, công thần Nguyễn Văn Siêu cho tu sửa lại đền và
xây đ́nh
Trấn Ba, bắc một cái cầu nối đ́nh
Ngọc Sơn với bờ phía đông, gọi tên là cầu Thê Húc, tên có nghĩa giữ lại ánh
sáng mặt trời.
Ông Lê Văn Siêu cho xây trên ḥn
núi Ngọc Bội một tháp đá h́nh
ngọn bút lông, thân bút có khắc ba chữ "Tả Thiên Thanh". Tên gọi ngày nay là
Tháp bút. Đằng sau ông cho xây một cái cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên để một
nghiên mực bằng đá h́nh
quả đào bổ ngang theo chiều dọc, được ba con ếch đội. Trên nghiên cho khắc một
bài thuyết minh công dụng của cái nghiên mực. Từ cổng vào tháp hai bên có hai
bức tường. Một bên gọi bảng rồng, một bên bảng hổ tượng trưng bảng vàng cho sĩ
tử.
Nhân nói đến đền, chùa, hẳn không quên nhớ tới ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất thủ
đô, đó là chùa Trấn Quốc. Chùa được xây vào thời Lư Nam Đế (544) và mang tên
là chùa Khai Quốc, cùng lúc với tên Vạn Xuân của nước ta. Bấy giờ chùa tọa lạc
ở bến sông Hồng, nay thuộc vào phường Yên Phụ, Hà Nội.
Năm 1440, vua Lê Thái Tôn đổi tên chùa thành An Quốc để kỷ niệm công cuộc nhà
Lê đă làm để lấy lại độc lập, an b́nh
cho đất nước. Đến đời vua Lê Kính Tôn chùa được chuyển đến băi Cá Vàng nhưng
ít lâu sau nền bị lún. V́
thế chùa được chuyển vào g̣
Kim Ngư ở Hồ Tây cho đến ngày nay. Chùa tọa lạc phía đông nam Hồ Tây, giáp với
Hồ Trúc Bạch. Chúa Trịnh Thanh Đô Vương cho đổi tên thành chùa Trấn Quốc và
cho tu bổ, phát triển thêm làm tăng vẻ đẹp của ngôi chùa cổ là nơi trụ tŕ,
tu hành của biết bao danh tăng. Năm 1842, vua Thiệu Trị sai đổi tên lại thành
chùa Trấn Bắc nhưng người Hà Thành có lẽ không chịu nên vẫn gọi tên là chùa
Trấn Quốc cho đến ngày nay. Ở phía nam chùa Trấn Quốc, có một ngôi đền thờ
ngài Huyền Thiên Trấn Vũ.
Cụ Dương Khuê, trong một đêm trăng dạo thuyền trên Hồ Tây, nghe tiếng chuông
đền Trấn Vũ,
tiếng gà gáy vọng lại từ phường Thọ Xương, tiếng chày giă gạo ở phường Yên
Thái mới cảm ra bốn câu thơ rằng:
"Phất
phơ ngọn trúc trăng tà,
Tiếng chuông trấn Vũ canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ."
Hà Nội... Với những kỷ niệm:
Tôi xem sách "Về Những Kỷ Niệm Quê Hương" của nhà văn
Nguyễn Thạch Kiên, chương một và hai ông kể về quảng đời lớn lên ở đất bắc, mà
phần lớn là tại Hà Nội. Hà Nội vào thập niên 30, 40 chịu nhiều ảnh hưởng của
người Pháp. Những tổ chức
manh nha nổi lên chống Pháp v́
cao trào đấu tranh giành chủ quyền độc lập quốc gia, đó là khía cạnh chính
trị. Về địa hạt văn học Hà Nội là cái nôi văn hóa cho ra bao nhiêu cây bút
được văn học ghi nhận từ Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Trúc Khê, Vũ
Bằng, Vũ
Đ́nh
Liên, Lưu Trọng Lư, Nhượng Tống, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Thanh
Tịnh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,... Là người trải qua khoảng thời gian
xáo động về chính trị hay êm đềm về văn học tại Hà Nội, Nguyễn Thạch Kiên sống
với kỷ niệm Hà Nội thật nhiều.
Ông viết: "... Có thể nói tôi là người rất Hà Nội. Hà Nội từ từng tiếng nói,
chẳng bao giờ uốn cong lưỡi khi phát âm. Hà Nội đi từng bước chân lên tới từng
sợi tóc. Và từ cặp môi tới đôi mắt biết cười. Phải biết dầm trong mưa bụi dạo
quanh Hồ Gươm, đếm từng gợn nước lăn tăn xao động dưới những tàn liễu rủ..."
Khi vào Nam, Nguyễn Thạch Kiên làm thơ về Hà Nội năm 1955, in trong thi tập
"Nắng Hương Cau", tôi ghi ghi nhận là bài này, "Nhớ Về Hà Nội", trong
tư
tưởng 1930 quyến luyến của tác giả:
"Ta nhớ thương
người Hà Nội
Thanh thanh liễu rủ ven hồ
Gió thu tŕu say tà áo
Mộng bên trời, vầng trán ngây thơ
Biếc một vùng cao rộng
Ta mê man t́m
thăm thẳm ḷng
em
Nhớ thương những chiều ái ân
Giữa đôi ḷng
chưa phủ sương êm
...
Giục giă ḷng
ta nổi chiến trường
Trông về Hà Nội xót tha hương
Em thơ cổ gấm tṛn
trăng đẹp
Tóc xơa đôi bờ rủ nhớ thương
Bạn mới chưa về trong giấc mộng
Lời ca đă vẳng giữa môi hường
Bâng khuâng mắt biếc nằm trong mắt
Em nhỉ thuyền ta vượt hướng dương
..."
Nguyễn Thạch Kiên viết về Hồ Tây của Hà Nội:
"Hồ Tây lộng gió, bát ngát ở trước mặt. Có những cánh buồm trắng phía xa xa
dập dờn trên làn nước mát. Vài chiếc pe-rít-xoa lao vun vút rồi
ṿng
lại. Khu Tiểu Đồ Sơn, trong dăy nhà hóng gió, Tây đầm lớn nhỏ ngồi bên ly rượu
ngồi giải khát, vẻ kiêu kỳ, thoải mái. Nhưng khu rặng ổi Quảng Bá vẫn là nơi
quyến rủ chúng tôi hơn."
Hà Nội trong hoài niệm ngự trị tâm hồn thầy Mai, hay Hà
Nội trong trí nhớ dai dẳng của nhà văn Nguyễn Thạch Kiên có nhiều điểm tương
đồng v́ họ đă ra đi, họ bỏ lại Hà Nội trong giấc ngủ cô đơn, Hà Nội trong
nhung nhớ tột cùng và Hà Nội trong thao thức của thuở thiếu thời. Tôi gặp nhà
văn lăo thành này ông ôn lại cả một bầu trời lưu luyến, miên viễn kể lại cái
kư ức của ngày xưa, những năm 30 hay 40 mà nay đă lùi vào dĩ văng. Cái dĩ văng
có mưa phùn lấm tấm giăng phủ Hồ Gươm, những hàng liễu xanh đong đưa trong
gió, bóng cây lung linh mặt hồ như bóng người thiếu nữ hôm nào của nhà văn hay
của thầy tôi e ấp trong kỷ niệm dấu yêu xưa. Trong cái kỷ niệm xa xưa đó người
ra đi nuối tiếc ly cà phê nồng ấm bên nhà Thủy Tọa trên bờ hồ, và nó cơ hồ se
thắt ḷng người trong cái lạnh giá khi mùa Đông về với Hà Nội của nỗi nhớ khôn
nguôi. Hà Nội có tiếng rao hàng, có cốm Ṿng,
có hoa sữa mùa Thu và có tất cả những nỗi nhớ thương. Tôi nghe âm vang Hà Nội
khi mùa Thu trở về của nhạc sĩ Hoàng Thy, Trần Triệu Đông:
Mùa Thu Hà Nội
"Hà Nội bây giờ c̣n
trong nỗi nhớ
Những chiều se lạnh bên phố chờ ai
Cơn mưa phùn rơi không ngại ướt áo
Từng cội me già nhẹ tiếng lao sao
Mái đ́nh
rêu phong muôn đời cổ kính
Con đường gạch đỏ ngai bước chân ai
Mặt nước hồ Gươm miệt mài soi bóng
Những cuộc t́nh
làm gợn sóng lung linh
Từ dạo Thu về phố bỗng hoang vu
Héo hắt hồ Gươm khi gió Thu về
Hàng me chết lặng khi Thu chợt đến
Tàn tạ hao gầy vào độ Thu sang."
Tôi nghe âm vang của tiếng ngâm u hoài từ thơ mô tả những dấu yêu xưa về Hà Nội của thi sĩ Phạm Chung:
Hà Nội, Dấu Xưa
"Người đi bóng khuất trăm năm
như trăng khuất nửa mái đ́nh
rêu phong
khuất, đâu dấu áo tứ thân ?
đâu vang guốc mộc gơ trầm nhịp tim ?
...
Ta qua phố Cổ mà ngơ ngẩn sầu
Cổ thành xưa dấu tích đâu ?
Tiểu thư Hà Nội chốn nào lạc chân ?
Bâng khuâng ghé phố hàng Buồm
ngỡ như tên phố hàng Buồn
buồn tênh.
Phạm Chung"
Tôi nghe tiếng ve kêu ran không gian khi vào hè, trên cành me trên những đường phố Hà Nội, có hàng phượng vỹ rực hoa, có hàng liễu xanh cô liêu rủ trên mặt hồ Gươm trong thơ của thi sĩ Trọng Đài:
Hà Nội Đêm Trở Gió
"Hà nội ơi tươi xanh màu áo học tṛ
Những con đường thân quen c̣n
đó
Tiếng rao vang đâu đây nghe động trời đêm
Hồng Hà ơi buồm ai khe khẽ thuyền về
Cành me th́
thầm gục đầu vào dĩ văng
Tiếng ve kêu râm ran suốt đêm hè
Giọng dân ca sao gợi nhắc hồ Gươm
Hà nội ơi xanh xanh liễu rủ mặt hồ Gươm
Cô đơn sấu rụng ngoài ngơ vắng
Con sóng nào vẫn vỗ về vào đam mê
Hà nội ơi!... Hà nội ơi!"
Tôi mường tượng ra Hà Nội với nét quyến rũ khi cơn mưa buồn bay phất phơ, những hạt mưa bâng khuâng gợi nhớ trong nhạc của Phạm Anh Dũng, thơ Trần Ngọc. Hồn nhạc như vấn vương cơn mưa Hà Nội rơi thấm ướt bờ vai em, và em cười xinh tươi rạng rỡ, để gió hôn thoảng nhẹ suối tóc em, như giấc mộng trong tâm tưởng dâng nỗi xao xuyến ḷng trong tôi về em, hỡi em e lệ, thẹn thùng của Hà Nội trong âm giai điệu nhạc ru hồn t́nh tứ ngày nao:
Hà Nội Mưa Bay
Mưa Hà Nội, mưa bâng khuâng gợi nhớ
Gió Hồ Gươm hôn nhẹ suối tóc thơ
Đôi mắt đẹp nụ cười xinh rạng rỡ
Mưa mơ màng xao xuyến dệt mộng mơ
Mưa Hà Nội, mưa bay bay lặng lẽ
Em thẹn thùng e lệ nép vào anh
D́u
nhau đi qua từng cơn gió rét
Em đi về mưa rớt xuống thật nhanh
Hà Nội ơi!
Mưa t́nh
thấm ướt đôi vai
Phố phường in dấu ô mai
Dỗi hờn mưa đến ngày mai
Hà Nội ơi!
Có c̣n
nghe tiếng mưa rơi
Có c̣n
ngây ngất chờ đợi
Có c̣n
thương nhớ xa xôi
Mưa Hà Nội, mưa giăng giăng lạnh vắng
Nh́n
mưa rơi bé dệt mộng thần tiên
Bên xứ lạ anh vẫn c̣n
vương vấn
Má đồng tiền và mưa măi triền miên."
Trong cái nỗi niềm chứa chan về Hà Nội như vậy tôi đă
dựng nên bài viết này để tri ân thầy Mai và cũng để tạ ơn những cây bút về Hà
Nội của nét cổ kính nhưng thanh lịch, một Hà Nội có nét đài các trong dáng
kiêu sa, một Hà Nội dấu yêu của thập niên xưa 30, 40 có nhà văn Nguyễn Thạch
Kiên của "Nắng Hương Cau" mà tôi muốn cám ơn sách của ông.
Và
v́
chính những cây bút Hà Nội này đă chia xẻ hay mở rộng cho tôi sự hiểu biết về
vùng đất ngàn năm văn vật của đất nước, để cho thấy những kỷ niệm đáng yêu
nhất trong cuộc đời họ. Liệu rồi đây mai này có c̣n
nữa hay không ? Liệu rôi đây trong kiếp nhân sinh vốn phù vân qua cơn mưa Hà
Nội ai mất, ai c̣n
? Nhưng điều chắc rằng Hà Nội sẽ măi măi vẫn diễm kiều, vẫn thanh lịch trong
văn chương của những thập niên 30, 40 ngày cũ.
Cũng trong nỗi niềm riêng tư với các thân hữu có liên quan ít nhiều đến Hà Nội
xưa, tôi xin cám ơn quư
anh Phạm Chung, Đàm Trung Phán, Phạm Anh Dũng, Phạm Văn Vĩnh, Đỗ Duy Thụy, Đỗ
văn Cường, quư
chị Thủy Phạm, Bích Huyền, Hoài Mỹ, Hồng Vũ Lan Nhi, Yvonne Vương Hà, Bạch
Lan, Mỹ Hạnh, Diễm Hạnh và cô Vân Nga bằng cách này hay cách khác đă cho tôi
cái nh́n
thật đẹp đẽ về Hà Nội qua giọng nói hay lời văn, hay đi xa hơn: Đó là cái tâm
t́nh
của người Việt Nam nói chung, hay sự đồng cảm về quê hương đất nước ḿnh.
Việt Hải, los angeles