Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

Là người Việt Nam hải ngoại, chắc có ít ai chưa nghe đến tên Nguyễn Khoa Nam. Nếu bạn là một người quân nhân cũ, hẳn đă nghe nhiều về người anh hùng đă hiến dâng cuộc đời cho Tổ Quốc. Nếu bạn chưa từng nghe, nhất là các bạn trẻ, th́ tôi hy vọng bạn sẽ dừng lại đây trong giây lát để chúng ta có thể t́m hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp của người dũng tướng nàỵ

Nói về Nguyễn Khoa Nam, chúng ta không thể không nhắc đến sự khác biệt giữa ông và những kẻ cùng thờị Binh sĩ kính trọng ông, đồng bào quư mến ông, và ngay cả báo chí thiên tả thời bấy giờ cũng phải công nhận Nguyễn Khoa Nam là một vị tướng thanh liêm, có đức có tài .Sống được như vậy không phải là dễ trong cái thời mua quan bán tước của chính quyền Thiệu - Khiêm. Theo các anh em của Gia Đ́nh Mũ Đỏ, ông là người rất điềm đạm, ít nóị Ông không có gia đ́nh; t́nh cảm của ông là t́nh cảm đă dành cho quê hương, quân đội và anh em chiến sĩ. Đó là một người quân nhân thuần túỵ

Tôi sẽ không nhắc đến các chiến công của Nguyễn Khoa Nam ở đây, v́ trong gần 20 năm dài, chiến trường nào mà không có h́nh dáng người lính nhảy dù Việt Nam.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, gốc Làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh tại thành phố Đà Nẵng, ngày 23 tháng 9 năm 1927.

Thân sinh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là Thanh Tra Học Chánh Đà Nẵng Thái Thường Nguyễn Khoa Túc, về hưu năm 1941, và bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn, thuộc ḍng Tuy Lúy Vương. Nội tổ của ông là Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng, người đă có công mở mang bờ cơi cho chúa Nguyễn trong những ngày Nam Tiến.

Ông học Tiểu Học tại trường Ecole des Garcons Đà Nẵng (1933 - 1939), sau ra Huế tiếp tục học ở Lycee Khải Đi.nh. Ông đậu bằng Thành Chung năm 1943 và tiếp tục học lên đến Nhị Cấp. Đến năm 1947, Nguyễn Khoa Nam tiếp tục học lớp Đệ Nhị Toán, rồi theo học lớp Hành Chánh tại Huế. Vốn ḍng vơ tướng nhưng ông không t́nh nguyện theo con đường quân bi..

Đến năm 1953, ông nhập ngũ theo lệnh động viên, vào Khóa III tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tháng 10 năm 1953, Nguyễn Khoa Nam ra trường và t́nh nguyện vào binh chủng Nhảy Dù rồi được điều động ra Bắc.

Tháng 8 năm 1954, sau hội nghị Geneve, Trung Úy Nguyễn Khoa Nam theo đơn vị trở về Saigon.

Năm 1955, Trung Úy Nguyễn Khoa Nam làm Đại Đội Trưởng, thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù trong cuộc hành quân đánh B́nh Xuyên tại Saigon. Sau đó ông được thăng Đại Úy và được cử đi học kỹ thuật ở Pháp trong 8 tháng.

Năm 1956, Đại Úy Nguyễn Khoa Nam ở Pháp về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Kỹ Thuật Dù tại trại Hoàng Hoa Thám.

Tháng 1 năm 1957, sau một khóa tu nghiệp ở Hoa Kỳ, ông trở về phục vụ tại Pḥng 3 (Kế Hoạch Hành Quân) Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Năm 1960, ông được chuyển về làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù.

Năm 1963, ông được bổ nhiệm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Năm 1964, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Năm 1965, ông được bổ nhiệm Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù. Đến cuối năm này, v́ nhu cầu chiến trường, Lũ Đoàn Nhảy Dù được tổ chức lại thành Sư Đoàn Nhảy Dù.

Năm 1967, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, nổi danh với trận đánh tại đồi 1418, Kontum. Đến cuối năm 1967, ông được thăng cấp Đại Tá và trao tặng Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương (VNCH) và Silver Star (chính phủ Hoa Kỳ trao tặng).

Năm 1969, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam được Bộ Quốc Pḥng thuyên chuyển ra khỏi Sư Đoàn Nhảy Dù, để giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Tháng 11 năm 1969, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức tại Mặt Trận.

Đến tháng 10 năm 1971, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam được thăng hàm Chuẩn Tướng.

Tháng 10 năm 1973, ông được thăng cấp Thiếu Tướng.

Tháng 11 năm 1974, là một vị sĩ quan có khả năng và uy tín hàng đầu trong quân lực, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật.


Tháng 4 năm 1975, khi miền Nam đang trong cơn rối loạn trước đà tiến công ồ ạt của Cộng Sản, các đại đơn vị truyến trước bị tan hàng hay trở nên vô hiệụ Các tướng lănh th́ lo chạy giữ thân, bỏ mặc binh sĩ và đồng bào mà họ có trách nhiệm bảo vê.. Trong khi đó tất cả các lực lượng Cộng quân tại vùng IV đều bị chống chế không giở tṛ ǵ được. T́nh h́nh ở miền Tây thật yên tĩnh, như không có chuyện ǵ xảy ra trong khi Vùng I, II, III đều bị xích xe tăng Cộng Sản tràn ngập.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Saigon đầu hàng quân Cộng Sản Bắc Việt. Sau khi để cho các sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền giải tán theo lệnh của chính phủ, khoảng nửa đêm 30 tháng 4 rạng ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam dùng súng tự sát. Bác sĩ Trung Tá Hoàng Như
Tùng và một số chiến hữu đă tẩm liệm và đưa di hài Thiếu Tướng ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Tháng 3 năm 1994, người em dâu là bà Nguyễn Khoa Phước đến Cần Thơ mang di hài Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam về hỏa táng. Hiện nay tro cốt của Thiếu Tướng dược lưu tại chùa Già Lam, đường Lê Quang Định, quận G̣ Vấp .


 

 

Hồi kư của một Tùy Viên:

Những Giờ Sau Cùng Của Tướng Nguyễn Khoa Nam

Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH

(Trích sách "Nguyễn Khoa Nam")

 


Cuốn sách Nguyễn Khoa Nam là một tài liệu lịch sử rất giá trị, dầy gần 600 trang, gồm trên 60 bài viết của các tướng lănh, chiến hữu cũng như thân nhân Tướng Nam. Đặc biệt có bài cảm nghĩ của cựu Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và nhiều h́nh ảnh, tài liệu chưa từng công bố.

 

Muốn mua sách, xin liên lạc với Ṭa Soạn Nguyệt San Đoàn Kết.
Email: doanket@yahoo.com
Điện thoại: (512) 346-5810
Gía bán $20 Mỹ Kim

Ông Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH, là Tùy viên Tư lệnh QĐIV-QK4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông là người đă trực tiếp chứng kiến cảnh cả hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, Tư lệnh và Tư lệnh phó tự sát. Sau đây là chuyện ông kể trong "Hồi Kư Của Một Tuỳ Viên", trích từ sách "Nguyễn Khoa Nam". Sách được ra mắt vào lúc 1 giờ chiều thứ bẩy 28 tháng Tư 2001 tại Hội Quán Little Saigon Radio.

 

Tháng 4 năm 1975

T́nh h́nh chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, vùng 2 đang đánh lớn c̣n Vùng 3 và 4 vẫn c̣n nguyên vẹn. Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Độc Lập gặp Tổng thống, lúc ở dinh phó Tổng thống. Thời gian c̣n lại, Tư lệnh thường đến các Tiểu khu và Sư đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Định Tường, Kiến Tường và Châu Đốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Định Tường và Long An. Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Định Tường c̣n Sư Đoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư lệnh đến tiểu khu Long An để biết t́nh h́nh địch, VC đă pháo rớt một quả hỏa tiển 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại ǵ. Địch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.

 

Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiển 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và tư dinh Tư lệnh. Vị trí pháo hướng đông chi khu B́nh Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.

 

T́nh h́nh càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Đéc. Trong lúc này, Tư lệnh rối bời lớp lo pḥng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đă di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu tướng ra lệnh các Tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân đoàn IV và nhất là giữ quốc lộ 4 đừng dd" VC cắt đứt. Tư lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Đốc, đi bộ thăm ṿng đai pḥng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu khu và Sư đoàn. Trong lúc t́nh h́nh hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài G̣n lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.

 

Sáng ngày 24 tháng 4, Tư lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rơ. Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Định Tường, có tướng Trường tham dự. Ngày 27 tháng 4, Tư lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí. Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn pḥng Tư lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rơ. Ngày 29, Tư lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao sao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của ṭa Tổng Lănh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Ḥa B́nh, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.

 

Áp lực địch vẫn nặng ở quốc lộ 4, Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp Tư lệnh báo cáo t́nh h́nh nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục pḥng thủ. Tư lệnh viết Nhật Lệnh đưa thiếu tá Đức, Chánh văn pḥng chuyển đến pḥng Chiến tranh Chính trị để đọc trên đài Phát thanh và Truyền h́nh để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được h́nh Tư lệnh và kèm theo là Nhật lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động c̣n việc tử thủ không được đọc trên đài truyền h́nh. Sau khi thấy đọc, Tư lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong pḥng làm việc ở Bộ Tư lệnh. Sau đó, tướng Hưng, Tư lệnh phó vào gặp Tư lệnh (Nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông cáo đă bị sửa lại, không chính xác như lời Tư lệnh đă viết.

 

Đêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vỉnh B́nh. Địch đă nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, tiểu khu trưởng tiểu khu Vỉnh B́nh để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.

 

Sáng sớm 30 tháng 4, Tư lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Định Tường. Cuộc họp nhanh và xong bay về Cần Thơ. Trở lại Quân đoàn, nói rơ về pḥng làm việc của Tư lệnh, pḥng làm việc chia hai tầng. Tầng trên có sẵn từ trước, thêm tầng dưới là hầm dưới chân pḥng làm việc chính thức. Ở hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như pḥng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn pḥng Tư lệnh. Hầm làm việc này mới được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.

T́nh h́nh sáng 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng thưa thớt đi lại, xe cộ hạn chế. Về tinh thần binh sĩ vẫn hăng say chiến đấu, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh.

 

Vào 10 giờ sáng, tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh văn pḥng rời văn pḥng bỏ đi cùng với đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ tŕnh sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh đang ngồi và viết ở bàn làm việc. Tư lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:

- Có ǵ không?

-Tŕnh Thiếu tướng, thiếu tá Chánh văn pḥng và đại tá Tỉnh trưởng Phong Dinh đă bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu."

Tư lệnh điềm nhiên không giậnvà nói:

- Đi hả! Đi làm chi vậy.

Nói xong, Tư lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tỉnh không la không buồn. Tôi bước lên cầu thang về pḥng làm việc của ḿnh, lúc này tôi mở radio 24/24 đi theo dơi t́nh h́nh ở Sài G̣n.

Tư lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:

- Gọi đại tá Thiên gặp tôi.

- Dạ.

Đại tá Thiên mới nhận chức vụ Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh kể từ sáng ngày 30 tháng 4.

Bất chợt, tiếng của tổng thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:

- Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tôi vội xô cửa vào pḥng làm việc của Tư lệnh và nói:

- Tổng thống Dương Văn Minh đă .....

Tôi nói chưa hết câu, Tư lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:

- Qua đă nghe rồi.

 

Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư lệnh phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư lệnh. Qua điện thoại, Đại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp gấp Tư lệnh, lần thứ hai, Đại tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.

 

Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư lệnh đi thẳng vào pḥng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua pḥng làm việc, tôi thấy Tư lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư lệnh nh́n từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư lệnh xuống pḥng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư lệnh làm ǵ bởi v́ pḥng làm việc này không có nơi nh́n thấy Tư lệnh được. Tư lệnh bấm loa gọi tôi:

- Danh xuống đây tôi bảo.

Tôi vào pḥng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nh́n về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư lệnh nói:

- Danh tháo bỏ những ranh giới, những mủi tên trên bản đồ ." (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ). Tôi từ từ tháo bỏ, nh́n tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mủi tên đỏ chĩa vào (Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rát, tháo xong tôi nói:

- Tŕnh Thiếu tướng, em đă tháo xong.

- Được rồi.

Tư lệnh buồn buồn theo cầu thang lên pḥng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư lệnh và ra pḥng làm việc của tôi. Độ 10 phút sau, Tư lệnh bấm loa gọi tiếp:

- Danh vào tôi bảo.

- Dạ.

Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư lệnh nh́n tôi nói:

- Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này.

- Dạ.

Tôi đang lúi húi tháo và liếc nh́n, tôi thấy Tư lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:

- Tŕnh Thiếu tướng, em đătháo xong.

 

Nói về pḥng làm việc của Tư lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào pḥng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay pḥng chờ đợi sát cổng Bộ Tư lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào pḥng làm việc của Tư lệnh.

Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân cảnh ở pḥng chờ đợi (Vọng gác 2) lên gặp tôi nói:

- Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư lệnh. Tôi nói:

- Anh bảo họ chờ một chút để tôi tŕnh Tư lệnh."

Tôi gơ cửa vào gặp Tư lệnh và nói:

- Tŕnh Thiếu tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu tướng.

- Được, mời họ vào.

 

Tôi xuống pḥng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào pḥng làm việc của Tư lệnh. Tư lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra pḥng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR15 lên đạn và bước nhanh vào pḥng làm việc Tư lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này với tư thế sẵn sàng cách khoảng 4 thước, tôi sợ hai ông này ám sát Tư lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư lệnh ngước lên, nh́n tôi và bảo:

- Danh đi ra ngoài đi tôi nói chuyện.

Tôi ấp úng trả lời:

- Dạ ... em ở đây với Thiếu tướng.

- Được rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.

- Dạ

 

Tôi ra lại pḥng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nh́n về hướng theo kẻ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ ǵ cả. Hai người đứng dậy giả từ. Tư lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.

 

Tư lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 th́ Tư lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư lệnh vẫn b́nh thản như không có chuyện ǵ xảy ra, bây giờ c̣n đi ngoại quốc được không? C̣n máy bay không? Hay là Thiếu tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đă vây chặt trong tôi.

 

Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Đoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, th́ ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi tḥ đầu ra cửa sổ nh́n ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo ḥ vui vẻ nhưng họ không phá phách.

 

Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói: Tôi trung úy Danh, tùy viên Tư lệnh, xin lổi ai đầu dây? Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Đàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:

- A lô ai đó? A lô ai đó?

Và tiếng lạ tôi không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. C̣n đường dây Hotline trực tiếp của Tư lệnh tôi không rơ. Như vậy VC đă vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua pḥng Tư lệnh phó gặp trung úy Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói t́nh trạng điện thoại đă bị VC chiếm và tôi đă nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư lệnh và Tư lệnh phó muốn nói chuyện với nhau ḿnh phải dùng máy PRC25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để xử dụng máy PRC25 và đánh số thứ tự A, B, C, D ... để Tư lệnh nói chuyện kín hơn.

 

Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư lệnh sữa soạn về tư dinh, Thiếu tướng nói với tôi:

- Danh chuẩn bị xe đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.

- Dạ.

Xe chở Tư lệnh từ văn pḥng đi thẳng vào bệnh viện. Tư lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân c̣n lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư lệnh đến bên thương binh này hỏi:

- Em tên ǵ?

- Dạ em tên ...

- Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?

- Dạ khỏe, em là Địa phương quân ở tiểu khu Vỉnh B́nh.

Tư lệnh nói tiếp:

- Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.

 

Tư lệnh đi từ đầu pḥng đến cuối pḥng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư lệnh đi qua dăy kế bên và tiếp tục hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi quạ Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu c̣n rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đă mất. Tư lệnh đứng sát bên và hỏi:

- Vết thương của em đă lành chưa?

- Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày c̣n ra máu chưa lành.

Với nét mặt buồn buồn, Tư lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư lệnh mếu máo:

- Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu tướng.

- Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.

 

Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương. Tư lệnh nén đau thương, người đă khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

- Em cố gắng điều trị .... có qua ở đây.

Tư lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư lệnh dừng lại quay mắt nh́n lại bệnh viện. Tư lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói ǵ cả, sự im lặng quá nặng nề, suốt trên đường về tư dinh, Tư lệnh không nói một lời nào.

Về đến tư dinh, tôi thấy Quân cảnh vẫn c̣n gác ở cổng, tôi đi một ṿng xung quanh, những vọng gác vẫn c̣n người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đă bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp trung sĩ Ngộ quản gia xem hôm nay anh nấu món ǵ v́ hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Ngộ, tôi nói:

- Anh Ngộ bắt một con gà làm và luộc để Thiếu tướng dùng."

- Dạ con gà nào Trung úy?

- Đàn gà ṇi Thiếu tướng nuôi anh chọn một con.

 

Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen ngịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Ngộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu tướng vào ăn cơm. Tư lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:

- Danh ngồi ăn cơm cho vui.

Đi các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư lệnh, c̣n ở dinh Tư lệnh thường ăn cơm một ḿnh, vừa ăn cơm vừa xem truyền h́nh rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều ǵ, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, c̣n nước luộc gà làm canh, Tư lệnh hỏi:

- Thịt gà đâu vậy?

Tôi gượng cười nói:

- Dạ mấy con gà Thiếu tướng nuôi ở sau, em bảo anh Ngộ làm một con đểThiếu tướng dùng.

- Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn để nguội.

Tư lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. C̣n tôi th́ no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:

- Dạ em ăn xong, Thiếu tướng dùng tiếp.

Thiếu tướng nói:

- Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt c̣n nhiều.

 

Vừa nói, Tư lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn ǵ nổi, b́nh thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như ăn cây mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu tướng ra pḥng làm việc. Nh́n qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đă bỏ đi, số c̣n lại một vài người đă mặc thường phục, một số vẫn c̣n mặc đồ lính. C̣n hướng pḥng trung úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, chắc có lẻ anh đă bỏ đi (nhà trung úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). C̣n trung úy Việt cùng vợ 2 con vẫn c̣n ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:

- Có liên lạc với tướng Hưng không hè?

- Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi. Tôi nói tiếp:

- Dạ, Thiếu tướng muốn nói chuyện với Tư lệnh phó?

- Qua muốn nói chuyện.

Tôi nói với Tư lệnh:

- Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó một số tần số PRC25 để lúc cần Thiếu tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.

Tôi nói tiếp:

- Để em đi lại dinh Tư lệnh phó nói mở máy PRC25 để Thiếu tướng nói chuyện.

Tư lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh đến dinh Tư lệnh phó đối diện dinh Tỉnh trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽphải vào dinh Tư lệnh phó th́ thấy phía bên trái trước dinh tỉnh trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mủi súng chỉa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:

- VC đă vô tới rồi.

Tôi bảo tài xế:

- Quay trở lại đi không ổn rồi.

Tài xế lái nhanh về dinh Tư lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em c̣n lại kéo khoảng 4-5 ṿng kẻm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư lệnh:

- Tŕnh Tư lệnh, VC đă vào đến dinh Tỉnh trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh trưởng.

Tư lệnh làm thinh không nói ǵ cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu tướng:

- Em đi lần nữa, đểThiếu tướng nói chuyện với Tư lệnh phó. Tư lệnh nhỏ nhẹ nói:

- Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.

- Dạ không sao!

Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:

- Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.

Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Ngộ quản gia nói:

- Em vừa thấy anh Thông ra cổng. Anh đă bỏ đi rồi.

Bất chợt có một anh (tôi quên cấp bậc và tên):

- Trung úy cần ǵ em giúp.

- Anh muốn đến dinh Tư lệnh phó.

- Được rồi để em đưa ông thầy đi.

Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:

- Đi Honda tiện hơn Trung úy.

 

Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư lệnh phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.

Dinh Tư lệnh phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nh́n vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong x̣e nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:

- Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.

Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời.

Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ ḿnh bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:

- Anh ráng chờ tôi một chút.

Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi x̣e ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:

- Tôi trung úy Danh đừng bắn, tôi trung úy Danh đừng bắn. Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuột xuống đất. Gặp tôi, anh Nghĩa vừa nói vừa khóc:

- Chuẩn tướng tự sát chết rồi Danh.

- Lúc nào?

- Mới đây, chắc có lẽ hồi nảy Danh nghe tiếng súng nổ.

Anh nói tiếp:

- Chuẩn tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư lệnh phó vào đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.

Tôi đến cửa, thấy cửa pḥng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư lệnh phó khóc, c̣n hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có ǵ xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:

- Thôi Danh đi về.

 

Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 ǵ nữa, chuẩn tướng đă chết rồi. Tôi t́nh h́nh rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: Tại sao Tư lệnh phó tự sát? Nếu Tư lệnh hay được th́ ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn tướng tự sát hay là ... tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc năy. Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nh́n quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đă giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Ḥa B́nh đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai văng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bải đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió (giấy tờ của ṭa Tổng Lănh Sự Mỹ dân hôi của vất ra đường từ hôm trước).

 

Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng ṿng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để tŕnh Tư lệnh sự việc đă xảy ra, vừa thấy Tư lệnh tôi vội vả nói:

- Tŕnh Thiếu tướng em đến dinh Tư lệnh phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư lệnh phó đă bắn vào ngực.

- Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?

Tư lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư lệnh phó đă tự sát, chắc Tư lệnh sẽ tự sát theo.Tôi xuống nhà gặp trung úy Việt và nói Tư lệnh phó đă tự sát c̣n Thiếu tướng không biết thế nào? Hai đứa tôi không t́m ra câu trả lời.

Lúc này khoảng 11 giờ đêm, cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mổi lần vào liếc nh́n, tôi thấy Tư lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn c̣n mang. Lần khác vào, Tư lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:

- Có ǵ không?

- Em vào xem Thiếu tướng có sai bảo ǵ không?

Tư lệnh nói:

- Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.

Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Tŕnh Thiếu tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu tướng?

- Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.

 

Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư lệnh ra pḥng làm việc tôi đưa một gói h́nh chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:

- Danh cất tiền này dành để xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu tướng không dùng đểdành).

Xong Tư lệnh đi vào trailer, tôi hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, tôi sợ Tư lệnh tự sát.

Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư lệnh ra gặp tôi nói:

- Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à?

- Dạ em ngủ không được.

Tư lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:

- Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.

Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nảy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Ngộ, Thiếu tướng đă cho tôi súng, không hiểu Tư lệnh có ư định ǵ?

 

Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:

- VC tự động mở cửa vào dinh.

- Anh bảo họ chờ tôi một chút.

Tôi vội vả vào trailer để gặp Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh nằm nghĩ. Tôi tŕnh:

- Tŕnh Thiếu tướng, bọn VC đang vào dinh.

- Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.

Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố 6, 7 người đang vẹt kẻm gai đi vào hướng cửa dinh. Đến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ có vấn đầu tóc lũng lẵng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát xử dụng) số c̣n lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc ǵ cả. Nhóm người này tuổi dưới 40, đến ṿng kẻm gai thứ ba từ ngoài vào, c̣n hai ṿng nửa từ cửa dinh ra, tôi vẹt kẻm gai và gặp họ tại đây.ột người trong nhóm quay qua hỏi tôi:

- Anh làm ǵ ở đây?

Tôi nói:

- Tôi làm quản gia.

Tôi nói trớ, không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn. Người mang khẩu AK hỏi tiếp:

- Anh cấp bậc ǵ?

- Tôi Trung sĩ.

Bất chợt người mang AK lên đạn đưa mủi súng vào phía sườn tôi và nói:

- Đi.

Tôi lúc bấy giờ hồn phi phách tán, chết là cái chắc. Trong nhóm có người nói:

- Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi.

 

Bọn chúng từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:

Súng ngộ và đẹp quá.

Chị bới tóc tiếp theo:

- Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.

Tôi nghe và thấy những việc trên cỏi ḷng xe lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua pḥng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn ḿnh ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa luới chắn ruồi trước khi vào pḥng làm việc). Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào pḥng (một người tay không, một người mang khẩu P-38, một người mang khẩu Carbin). Số c̣n lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi.

 

Khoảnh khắc, trung sĩ Ngộ từ pḥng Thiếu tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:

- Thiếu tướng bảo Trung úy lấy thuốc lá hút.

Có cớ vào gặp Tư lệnh, người mang AK bỏ thỏng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hăi nó đàng sau bắn tới. Vô sự thế là thoát nạn, vào pḥng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu tướng một điếu, 3 người mổi người một điếu (Tư lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc Capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư lệnh, người mang khẩu P-38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mủi súng hướng về phía Tư lệnh, c̣n người mang khẩu carbin đứng ngay cửa pḥng tư thế tác chiến.

 

Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ư đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào pḥng thấy Tư lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nh́n trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu tướng c̣n cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lổ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay kư tên ǵ cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư lệnh nằm yên, chắc Tư lệnh đă mệt. Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào pḥng Tư lệnh lần nữa, thấy Tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức v́ trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra pḥng làm việc ngă lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.

 

Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông "boong, boong, boong", tôi bật ḿnh ngồi dậy, nh́n đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư lệnh đă đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng ḿnh xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu tướng. Thiếu tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:

- Đêm qua, Danh ngủ được không?

- Mệt quá em nằm nghỉ một chút.

Tư lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi pḥng thờ Phật, tôi đi sang qua pḥng làm việc. Một lúc sau, Tư lệnh đến bên tôi hỏi:

- Gặp tướng Trường được không hè?

Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.

- Dạ ... dạ. Tôi ấp úng trả lời. Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.

Tư lệnh hỏi tiếp:

- Có phải Trường không?

- Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống tướng Trường.

- Thôi đừng đi t́m, kẻo bị chúng bắt.

- Dạ.

 

Rồi Tư lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào pḥng thờ Phật. Tư lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, c̣n trung úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư lệnh buồn buồn nói:

- Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.

Tư lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm ǵ, h́nh như cổ ông nghẹn lại. Tư lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư lệnh quay lại nói tiếp:

- À, quên ch́a khóa. Rồi Tư lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai ch́a khóa và nói:

- Cái này của Danh, cái này của Việt.

 

Tôi linh tính sắp có điều ǵ sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nh́n ra lộ Ḥa B́nh trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu tướng bật khóc. Tướng cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, những giọt nước mắt cuộn tṛn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn v́ nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy. Tôi nghĩ Tư lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư lệnh không? Nếu sự việc xảy ra th́ phải giải quyết làm sao?Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.

Tư lệnh sắp tự sát

Từ ngoài nh́n vô bàn Phật, Tư lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nh́n lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm thăm vợ con, c̣n trung sĩ Ngộ đang thập tḥ trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gơ ba tiếng chuông "boong, boong, boong" xong xá 3 xá tiếp, xong Tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện ǵ sắp xảy ra. Bất chợt , Tư lệnh xoay qua bảo tôi:

- Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

- Dạ.

Tôi tôi thầm nghĩ Tư lệnh và tôi độc thân chắc Tư lệnh nghĩ cách khác.

 

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về pḥng trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ "đùng" phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước trung sĩ Ngộ thất thanh chạy la lên:

- Đại úy ơi! Đại úy ơi! Thiếu tướng tự sát chết rồi.

Trong lúc sợ hăi, anh Nghộ gọi tôi là Đại úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hải hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngă ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 vẫn c̣n trong tay buông thỏng xuống ḷng Tư lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đă nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nh́n lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng "khọc, khọc, khọc" từng chập và từ từ nhỏ dần. Anh Ngộ thấy vậy vội nói:

- Thôi ḿnh chở Thiếu tướng đi bệnh viện.

Tôi và anh Ngộ ôm chầm lấy Thiếu tướng vừa khóc vừa nói:

- Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu tướng đă quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh qua ở lại với các em.

Anh Ngộ nói tiếp:

- Em đâu dám đến gần Thiếu tướng. Đứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu tướng. Em thấy Thiếu tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu tướng nổ súng liền em chạy lại đâu kịp.

Vừa nói anh Ngộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.

 

Lê Ngọc Danh

 


 

Thương Tiếc Viết Về  Tướng Nguyễn Khoa Nam
Nguyễn Khoa Phước

Cuối tháng 3 năm 1998, anh Thời, cựu SVSQ khóa III Thủ Đức đến nhà tôi mượn tấm ảnh của Tướng Nguyễn Khoa Nam và tặng tôi một số đặc san NKN do các anh đồng khóa ấn hành từ mấy năm nay. Anh Thời đă yêu cầu tôi viết vài hàng về anh Nam, người anh ruột của tôi. Tôi xúc động vô cùng! Từ mấy năm nay, tôi không muốn viết về anh Nam nữa, tôi muốn để cho tâm tư lắng xuống và nỗi buồn chia cắt ruột thịt sẽ vơi theo thời gian, nhưng với anh Thời và cũng như tất cả các anh cựu khóa III Thủ Đức, tôi không thể từ chối được v́ các anh là bạn của anh tôi. Đến giờ phút này, các anh đă ngoài 70, c̣n ngồi lại với nhau để viết cho nhau và cho các chiến hữu QLVNCH những tâm t́nh, những kinh nghiệm. Đó là điều đáng quư. Tôi kính trọng các anh là ở chỗ đó. Những ǵ tôi viết ở đây về Thiếu Tướng Nguyễn Văn Nam là của chính tôi biết, những ǵ do anh em sĩ quan hay bạn kể lại, nhất là suốt 12 năm trong lao tù Cộng Sản, có lẽ tôi muốn kể ra. Thời gian Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam ở trong quân ngũ, từ 1953 đến 1975, tôi rất ít biết v́ anh em tôi phải xa nhau, mỗi người một lănh vực, mỗi người một hoàn cảnh.

1. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam gốc Làng An Cựu Tây, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Thành phố Tourane (Đà Nẵng) ngày 23 tháng 9 năm 1927.

Gia đ́nh chúng tôi có nhiều anh em nhưng các anh lớn đều mất sớm, đến năm 1975, chúng tôi c̣n một bà chị là Nguyễn Khoa Diệu Khâm, năm nay 82 tuổi đang ở Sài G̣n, anh Nam và tôi là em út. Anh Nam lớn hơn tôi 8 tuổi, đúng hơn là 7 năm, 7 tháng. Ông thân sinh chúng tôi trước là Thanh Tra Học Chánh tại Đà Nẵng thường gọi là Cụ Thái Thường Nguyễn Khoa Túc, về hưu năm 1941 và về nghỉ hưu tại Huế. Mẹ chúng tôi là bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn, thuộc ḍng Tuy Lúy Vương.

2. Anh Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons thành phố Đà Nẵng, từ năm 1933 đến năm 1939 ra Huế tiếp tục học Lycée Khải Định và ở nội trú. Anh đậu bằng Thành Chung năm 1943 và tiếp tục học lên đến Nhị Cấp. Đến năm 1946, chiến tranh bùng nổ, cả gia đ́nh chúng tôi phải tản cư, lúc bấy giờ anh đă 19 tuổi, định theo kháng chiến trong hàng ngũ Thanh Niên Tiền Phong nhưng Mẹ tôi giữ lại. Năm 1947, hồi cư, anh Nam tiếp tục học lớp Đệ Nhị Toán nhưng sau đó theo học lớp Hành Chánh tại Huế. Năm 1951 anh giữ chức chủ sự Tài Chánh cho đến năm 1953 th́ được gọi nhập ngũ Khóa III Thủ Đức. Lúc đó tôi có giấy gọi v́ đă đủ 18 tuổi được miễn v́ c̣n vài tháng nữa tôi phải thi Tú Tài 2.

3. Tháng 9 năm 1953, tôi vào Sài G̣n theo học Faculté des Sciences (Université de Saigon) th́ gặp anh Nam. Chủ nhật nào hai anh em chúng tôi cũng gặp nhau. Chiều Chủ Nhật, tôi đưa anh lên nhà thương Grall, ở đó có xe của quân trường chở về Thủ Đức.

Tháng 10 năm 1953, anh ra trường t́nh nguyện vào binh chủng Nhảy Dù, đi học chuyên nghiệp rồi theo đơn vị ra Bắc luôn, tôi không hề hay biết ǵ cả (lúc này cha mẹ tôi mất rồi nên anh làm theo ư thích của ḿnh). Măi đến khi nhận được thư anh từ một KBC ngoài Bắc, tôi mới biết anh ở trong đơn vị Nhảy Dù đang hành quân ngoài đó. Tôi không có ư kiến ǵ v́ biết tính anh tôi khi quyết định rồi th́ không thay đổi được.

Tháng 8 năm 1954, sau hội nghị Genève, anh theo đơn vị vào Sài G̣n, tôi đến thăm thấy anh mang lon Trung Úy, tôi có hỏi anh năm nay 27 tuổi rồi, ḥa b́nh rồi, có tính chuyện vợ con không. Anh cười và nói: "Ḿnh nhảy dù, lấy ai th́ người đó dễ trở thành quả phụ, tội lắm." Tôi biết anh không muốn lấy vợ. Về sau này, bà con, cô bác làm mai mối cho anh nhiều nơi xứng đáng, rồi anh cũng lờ đi.

Năm 1955, anh làm Đại Đội Trưởng thuộc TĐ7ND và hành quân đánh B́nh Xuyên tại Sài G̣n. Sau đó anh được thăng Đại Úy và Sư Đoàn cử anh đi học kỹ thuật ở Pau (Pháp) khoảng 8 tháng. Lúc này anh có mua được một căn phố nhỏ, một pḥng ngủ, một pḥng khách ở Cư Xá Nhảy Dù trước Trường Đua Phú Thọ. Anh vẫn ở căn nhà này, không sửa sang cho đến 30-4-1975. Thật ra th́ ít khi về đây, phần lớn thời gian ở trong đơn vị, vả lại về nhà một ḿnh cũng buồn lắm, có lẽ ở đơn vị vui hơn. Tháng 5 năm 1975, tôi có xuống thăm căn nhà này, nhưng thấy hai thằng quân quản đứng đó nên tôi bỏ đi luôn.

Năm 1956, anh Nam ở Pháp về làm Đại Đội Trưởng kỹ thuật Dù trong trại Hoàng Hoa Thám. Anh mang lon Đại Úy từ 1955-1964. Qua đầu năm 1965 anh giữ chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5ND, tôi mới thấy anh lên Thiếu Tá. Từ lúc nắm TĐ5ND, anh đi hành quân khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Năm 1966, khoảng tháng 3, TĐ5ND tham dự cuộc hành quân Liên Kết 66 tại Quảng Ngăi do Sư Đoàn 22 BB tổ chức, anh có về thăm gia đ́nh tôi. Anh rất thương các cháu con tôi và có th́ giờ rảnh là về nhà tôi tắm rửa, ăn cơm và thăm các cháu. Thời gian này, tôi là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Đệ Nhất Cấp Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngăi.

Đây là lúc anh em chúng tôi gặp nhau nhiều nhất cả thời gian sau này. Thấy anh có vẻ buồn dù ta đang thắng, tôi hỏi anh, anh nói: "Chiến tranh đem lại chết chóc và đau thương, hàng trăm xác Việt Cộng 15, 16 tuổi phơi thây trên núi Tṛn, bên đơn vị ḿnh có mười mấy bạn phải hy sinh, tội quá. Vợ con họ ở nhà chắc đau khổ lắm. Kỳ này về phải lo cho gia đ́nh tử sĩ." Lần đó, anh được ân thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Sau đó tháng 5 năm 1966, TĐ5ND đi Huế về vụ Phật Giáo, cũng là điều bất đắc dĩ.

Năm 1967, thăng cấp Trung Tá và được bổ nhiệm làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ3ND. Lữ Đoàn được nổi danh với trận đánh đồi Ngok Van ở Kontum. Cuối năm 1967, anh được thăng cấp Đại Tá với Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Năm 1968, LĐ3ND về Sài G̣n tham gia trong trận Mậu Thân 1 và 2 ở ven đô Đô Thành Sài G̣n Chợ Lớn.

Năm 1969, được cử giữ chức Tư Lệnh SĐ7BB kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Tháng 11 năm 1969, được vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức tại Mặt Trận. Đến tháng 10 năm 1971 được thăng chức Chuẩn Tướng Thực Thụ.

Năm 1972, được thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức. Tháng 10 năm 1973, được thăng cấp Thiếu Tướng thực thụ.

Tháng 11 năm 1974, được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Trung Úy Danh, Sĩ Quan Tùy Viên của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam lên Sài G̣n tin cho chị tôi là bà Diệu Khâm biết là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đă tuẫn tiết. Trung Úy Danh nói thêm Thiếu Tướng tự sát vào khoảng nửa đêm 30-4-75 rạng 1-5-75. Ông ngồi trên chiếc ghế bành, mặc quân phục đại lễ với đầy đủ huân chương. Ông dùng tay mặt cầm khẩu Colt 45 bắn vào màng tang bên phải, máu thấm đầy quân phục, đầu ngă sang bên trái. Trên bàn giấy, chiếc cặp của Thiếu Tướng có một số giấy tờ và khoảng 40.000 đồng tiền Việt Nam. Bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng và một số Chiến Hữu lo tẩm liệm và đưa ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975, chị tôi là bà Diệu Khâm và cô con gái xuống Cần Thơ làm mộ bia Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.

Tháng 3 năm 1994, người em dâu là bà Nguyễn Khoa Phước từ Sài C̣n về Cần Thơ xin hốt cốt, lúc này tôi (Phước) đang ở tù tại trại Nam Hà - Ba Sao). Khi hài cốt được đưa lên, nhà tôi thấy c̣n nguyên bộ xương, đặc biệt hàm răng c̣n rất tốt chưa trám và hư hỏng cái nào, một thẻ bài quân nhân có tên Nguyễn Khoa Nam, một quyển kinh Phật đựng trong bao nylon và một khẩu Browning. Bộ xương đă được thiêu liền khi đó. Khi thiêu xong tro hài cốt được gia đ́nh đựng trong b́nh xứ, đem về Sài G̣n ngay hôm đó.

Vài ngày sau lễ phục tang được tổ chức tại Chùa Già Lâm với sự tham dự đông đủ thân nhân và bà con nội ngoại. Hiện nay tro hài cốt của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được đặt thờ tại chùa Già Lâm, đường Lê Quang Định, quận G̣ Vấp, Tỉnh Gia Định.

Nếu nói về con người của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một chuyện rất khó v́ anh em tôi tuổi cách xa nhau.

Trong gia đ́nh, Tướng Nguyễn Khoa Nam là một người ít nói, thích sống riêng một ḿnh, nhiều lúc có tâm sự ǵ cũng không nói với ai nên có vẻ khó hiểu.

Thời kỳ c̣n làm công chức cũng như khi nắm quyền chỉ huy trong quân đội, tôi thấy Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sốt sắng với mọi người nhưng lạnh nhạt với bà con thân thuộc, nhiều bà con đă chê trách khi cần nhờ vả việc ǵ.

Tôi nghĩ Thiếu Tướng Nam có t́nh cảm, nhưng t́nh cảm san sẻ đồng đều cho mọi người nhất là những người nghèo khổ như gia đ́nh binh sĩ. Bà con đến nhờ vả việc ǵ, ông không tiếp. Là một quân nhân thuần túy, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam không muốn chính trị, tôn giáo xen vào quân đội. Hồi c̣n làm Tư Lệnh SĐ7BB, có một lần một vị Thượng Tọa đến nhờ một việc mà Thiếu Tướng Nam không tiếp. Các Cha, các Thày cũng vậy thôi.

Thiếu Tướng Nam là một nghệ sĩ. Hồi nhỏ, lúc c̣n học ở bậc trung học, đă là một họa sĩ. Năm 1945, tranh vẽ đă được trưng bày ở triển lăm. Trong các năm tản cư 1946-1947, suốt ngày ông say mê bên khung vải, tranh vẽ đủ loại: sơn dầu, sơn bột, ch́. Cũng là một người có khiếu về âm nhạc và có tŕnh độ kư âm khá.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam từ nhỏ luôn luôn thích sống cô đơn, thấm nhuần tư tưởng Khổng giáo và Phật giáo. Ông luôn luôn lẩm bẩm "Sắc Sắc, Không Không", làm việc có trách nhiệm và chịu khó học hỏi.