Tri Ân

NHỮNG ANH HÙNG VỊ QUỐC VONG THÂN

(Ngũ Hổ Tướng)

 

 

 

Tướng

 

TRẦN VĂN HAI

Tướng

 

LÊ VĂN HƯNG

Tướng

 

NGUYỄN KHOA NAM

Tướng

 

PHẠM VĂN PHÚ

Tướng

 

LÊ NGUYÊN VỸ

 

 

             

   

Đại Tá

 

HỒ NGỌC CẨN

 

TƯỞNG NHỚ

Tháng Tư,
Xin đốt nén hương ḷng,
kính dâng những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà
đă anh dũng hy sinh cho chính nghĩa, cho Tổ Quốc Việt Nam


Ḷng tôi, một nén hương, thành kính
Xin thắp và xin tưởng nhớ Người
Hỡi những Anh Hùng dân tộc Việt
Máu xương Anh hiến dựng xây đời
V́ yêu dân, nước nên Anh nhận
Trách nhiệm người trai buổi nhiễu nhương
Tôi cảm ơn Anh, tôi ngưỡng phục
Tấm ḷng son sắt với quê hương!
Anh đem dũng cảm, đem kinh lược
Chiến đấu, Anh ngăn bước giặc thù
Nguy hiểm không sờn, không nhụt chí
Cho dầu gục ngă giữa âm u ...
Dakto, An Lộc hay Rừng Sát
Quảng Trị, Pleime hoặc Hạ Lào
Anh đă hào hùng trong chiến thắng
Hào hùng trong cả bước gian lao!
Hoàng Sa, Bến Hải xuôi Đồng Tháp
Có dấu chân Anh khắp bốn vùng
Xương máu Anh trong từng mạch đất
Trong từng nhịp thở của non sông!
Hồn Anh hoà với hồn sông núi
Dẫu chẳng bia xanh, chẳng sử vàng
Nhưng đă muôn đớ dân tộc Việt
Nhớ ơn bồi đắp, giữ giang san!
Trong từng giọt nước, từng thân cỏ
Phảng phất như Anh đă mỉm cười
Có tháng Tư nào loang máu đỏ
Quê buồn như mắt lệ Anh rơi !!!
Tháng Tư, ôi tháng Tư oan nghiệt
Ai xé mà tan những mảnh đời
Những gói poncho không đất phủ
Những đau buồn muôn kiếp khôn nguôi
Tháng Tư, ôi tháng Tư đau xót
Có những người trai chết vội vàng
Và có những người không sống nhục
Chọn cho ḿnh cái chết vinh quang!
Anh hy sinh thế v́ dân, nước
Tôi biết ơn và thương tiếc anh
Anh, đă Anh Hùng dân tộc Việt
Cho dù hoang mộ có VÔ DANH !

Ngô Minh Hằng



 


TƯỞNG NIỆM

Tướng LÊ VĂN HƯNG


THÁNG TƯ ĐEN,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

 

LÊ VĂN HƯNG

Anh hùng An Lộc đă danh vang
Chấp nhận làm sao được lệnh hàng
V́ nước, tướng hùng, ḷng tiết khí
Chọn đường oanh liệt, chết vinh quang

Ngô Minh Hằng
 

Tiểu sử Anh Hùng LÊ VĂN HƯNG

(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam)

LÊ VĂN HƯNG là một tướng lănh nổi tiếng cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ông đă từng giữ nhiều trách vụ quan trọng về hành chánh cũng như quân sự. Từ Trung Đoàn Trưởng thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Ông được đề cử làm Tỉnh trưởng Phong Dinh và sau đó ông giữ trách vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Ở trách vụ này, ông đă tử thủ An Lộc, bẻ găy cuộc tấn công của Việt Cộng vào tỉnh B́nh Long muà Hè năm 1972. Tại mặt trận này, ông được thăng cấp tướng và được mệnh danh là: " Anh Hùng An Lộc"

Năm 1973, ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh và sau đó, giữ trách vụ Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV.
Tháng 4 năm 1975. khi Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ và biết là không c̣n tiếp tục chiến đấu được nữa, tướng LÊ VĂN HƯNG đă tự sát tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV vào lúc 8 giờ 45 phút, ngày 30.4.1975 (nhằm ngày 20 tháng 3 năm Ất Măo) "Anh hùng An Lộc" đă trở thành "Anh hùng Dân tộc".

 

TƯỞNG NIỆM

Tướng NGUYỄN KHOA NAM


THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

 

NGUYỄN KHOA NAM

Đức độ tài năng đă rơ ràng
Báo đền nợ nước, NGUYỄN KHOA NAM
Nuí sông bức tử vào tay giặc
Thà chết vinh danh, chẳng nhục hàng!

Ngô Minh Hằng
 


Tiểu sử Anh Hùng NGUYỄN KHOA NAM

(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam)


NGUYỄN KHOA NAM gốc là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Ông là một tướng lănh được quân dân các cấp kính nể v́ nếp sống đơn giản, đức độ và rất tận tụy với công vụ Cuộc đời ông là cuộc đời của chiến phục, nón sắt và trận mạc.

Năm 1970, ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh , cấp bậc Thiếu Tướng.
Năm 1974 ông là Tư Lệnh Quân Đoàn IV và Quân Khu IV.

Vào tháng 4 năm 1975, ông không chấp nhận lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh và cố gắng tiếp tục chiến đấụ Nhưng lệnh đầu hàng đă làm nhiều binh sĩ hoang mang, nhiều đơn vị bị tan ră. Nhận thấy không c̣n có thể kháng cự được nữa, tớng NGUYỄN KHOA NAM đă tự sát tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV, lấy cái chết để báo đền ơn nước, giữ tṛn danh dự của một tướng lănh, vào lúc 6 giờ sáng, ngày 1/5/1975 (nhằm ngày 21tháng 3 năm Ất Măo).

 



THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG


TƯỞNG NIỆM

CỐ ĐẠI TÁ  HỒ NGỌC CẨN
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
 


HỒ NGỌC CẨN

Quyết chiến cùng dân giữ tỉnh nhà
Trả thù, giặc Cộng bắt ông ra
Cần Thơ bịt mắt đem hành quyết
"Cứ giết nhưng đừng bịt mắt ta
"Để ta nh́n nước, dân lần cuối "
Anh hùng muôn thuở sử hùng ca !

 

Tiểu sử Anh Hùng HỒ NGỌC CẨN

(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam)


Là sĩ quan thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Đại Tá HỒ NGỌC CẨN nổi tiếng nhờ khả năng tác chiến vững chăi và sự gan dạ của Ông. Ông là một trong những sĩ quan trẻ tuổi và thăng cấp mau lẹcủa Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Vào những ngày chót của chiến cuộc, Ông là Tỉnh Trưởng Chương Thiện. Khi Việt Cộng tấn công, Ông không chấp nhận lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh, quyết tâm bảo vệ tỉnh trách nhiệm. Cuối cùng, Ông bị giặc bắt. Vào ngày hành quyết, Việt Cộng dồn đồng bào tới pháp trường Cần Thơ và bắt cả gia đ́nh Ông tới chứng kiến. Vốn cảm phục Ông, nên những người có mặt tại pháp trường đều vô cùng xúc động. Trước h́nh ảnh đó, Ông đă yêu cầu không bịt mắt để được nh́n đồng bào của Ông trước khi từ trần. Đó là ngày 14.8.1975 (nhằm ngày 8 tháng 7 năm Ất Măo)


TƯỞNG NIỆM

Tướng TRẦN VĂN HAI


THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG
TRẦN VĂN HAI
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.



TRẦN VĂN HAI

Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Yêu dân, yêu lính trước yêu ḿnh
Quê hương bức tử vào tay giặc
Thà chết cho tṛn cái chết vinh !

Ngô Minh Hằng
 

Tiểu sử Anh Hùng TRẦN VĂN HAI

(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam)


TRẦN VĂN HAI nguyên là sĩ quan binh chủng Biệt Động Quân. Ông đă từng là Chỉ Huy Trưởng của binh chủng nà. Vào những ngày chót của Việt Nam Cộng Ḥa, Thiếu Tướng TRẦN VĂN HAI là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đóng tại vùng Đồng Tâm thuộc tỉnh Định Tường.
Sau khi nghe tin Tướng NGUYỄN KHOA NAM đă tự sát, Ông quay sang nói với toán cận vệ "Chúng ta không c̣n hy vọng ǵ nữa, các anh em có thể rời đơn vị mà trốn về quê quán, tôi xin theo gương cấp chỉ huy của tôi". Sau đó, tướng TRẦN VĂN HAI về pḥng riêng uống thuốc độc tự vận.
 

 

TƯỞNG NIỆM

Tướng LÊ NGUYÊN VỸ


THÁNG TƯ ĐEN,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.

 

Lê Nguyên Vỹ
B́nh Long anh dũng góp tài năng
Làm tướng như Ông, mấy kẻ bằng
Quốc sĩ đầu hàng sao được giặc
Sân cờ Tư Lệnh, ánh sao băng!!!

Ngô Minh Hằng

 

Tiểu sử Anh Hùng LÊ NGUYÊN VỸ

 

Tướng Lê Nguyên Vỹ là Tư Lệnh cuối cùng của Sư Đoàn 5. Ông chọn cái chết tuẫn tiết thay v́ phải đầu hàng kẻ thù Cộng Sản tại bộ tư lệnh sư đoàn 5 tại Lai Khê ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ông được bổ nhiệm Tư Lệnh sư Đoàn 5 vào tháng 10 năm 1973, sau khi tu nghiệp khóa Chỉ Huy Cao Cấp tại Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Trước đó ông là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 của Tướng Lê Văn Hưng.

Trong cuộc chiến tại An Lộc, ông được nổi tiếng v́ đă hạ chiếc xe tăng T-54 đầu tiên của Cộng Sản, khi xe này tiến tới bộ chỉ huy của tướng Hưng.

 




NÓI VỚI NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG CHO TỔ QUỐC VIỆT NAM

Tháng Tư Đen.
Kính dâng những linh hồn Tử Sĩ VN.


Anh vẫn đó, oai hùng như dáng núi
Ánh căm hờn trong lũng mắt đau thương
Hăm mốt năm qua, trời sầu đất tủi
Nơi đáy mồ anh khóc chuyện quê hương !
Anh có nhớ trong niềm đau mất nước
Nh́n Hiền Lương máu ngập đến Cà Mau
Vẫn anh dũng, anh kiên cường tiến bước
Viên đạn thù tàn nhẫn réo thương đau ?!
Tuổi thanh xuân anh bừng bừng khí thế
Trái tim hồng đỏ thắm máu Tiên Long
Cổ thành xưa anh đă từng ngạo nghễ
Gương hào hùng oanh liệt bốn ngh́n năm !
Ôm hoài bảo và t́nh yêu sông núi
Anh hiên ngang đối diện với quân thù
Dù ngă xuống, bia vàng không tên tuổi
Nhưng trong ḷng dân tộc đă thiên thu !
Anh không chết, muôn đời anh không chết
Và muôn đời Tổ Quốc măi ghi công
Hỡi các anh ! những người trai tuất kiệt
Lấy máu đào anh rửa hận non sông !
Tôi nợ anh một lễ nghi quốc táng
Lời tuyên dương, truy điệu bậc anh hùng
Hăm mốt năm qua làm thân tỵ nạn
Tôi cúi đầu nghe nước mắt rưng rưng ...
Tôi nợ anh khúc quân hành rộn ră
Ánh đuốc thiêng và tiếng hát khải hoàn
Món nợ đó tôi rất mong được trả
Trả cho anh và Tổ Quốc VIỆT NAM !

Ngô Minh Hằng

Hai tay nâng mảnh khăn tang
Trăm năm thôi vĩnh biệt Chàng từ đây!
V́ đâu đến nước non này
Lệnh kia sao lại trói tay anh hùng?
Trước hờn bức tử non sông
Thiên thu đâu lẽ thẹn cùng cỏ cây!?
Mịt mù bốn phía trời mây
Tiếng gầm đại bác, tiếng cày xe tăng
Phút giây oan nghiệt bất bằng
Giận cơn hồng thủy cuốn phăng sơn hà
Âm thầm, Chàng bỏ lại ta...
Giữa trăm ngàn nỗi xót xa nghẹn ngào!
Kỳ đài, cờ rủ trên cao
Ngỡ ngàng nghe lệnh chiến hào bỏ không
Đau thương, nh́n lại xác chồng
Chàng đi theo nước, em không trách Chàng!
Xé manh áo, quấn khăn tang
Lên đầu con trẻ, hai hàng lệ rơi
Xa nhau!... Vĩnh biệt nhau rồi...
Mà không nói được một lời từ ly!
Mắt thần chẳng khép làn mi
Một ḍng máu đỏ, tứ chi lạnh dần
Ôm chồng, thân ngă vào thân
Tứ bề pháo giặc xa gần ầm vang
Hai tay nâng lá cờ vàng
Phủ lên cho ấm ḷng Chàng, ḷng ta!
Tên Chàng dù chẳng sử hoa
Nhưng hồn Chàng đă nhập ḥa núi sông
VÔ DANH VẠN THUỞ ANH HÙNG!!!

Ngô Minh Hằng


 


THE SUICIDES ON APRIL 30, 1975

* Dang Si Vinh

He moved in our neighborhood sometime in early 1974. His family - wife and seven children - soon earned sympathy from people along the paved alley of a Saigon suburb where most inhabitants were in lower middle class. His eldest son was about thirty years old and a first lieutenant in the Army Medical branch after graduated pharmacist from the Medical School. The youngest was a 15-year-old pretty girl.

It would have been a happy family if Saigon had not fallen to the hands of the Communist North Vietnam army. That was what people in the neighborhood said about the middle-aged RVN Army Major Dang Si Vinh, who was holding a job in the National Police Headquarters in Saigon.

At about 2:00 PM on April 30, 1975, almost two hours after RVN President Duong Van Minh surrendered to the Communists, people near by heard several pistol reports from his home. After hesitating for safety, his neighbors got into his home to find Major Vinh, his wife and his seven children lying each on a single mattress, all dead, each by one .45 caliber bullet that gushed pools of blood from the horrible holes at their temples.

On a long dining table, decent meals had been served and eaten as if in an usual and peaceful dinner. There were nine small glasses, all had traces of a pink powder left at their bottoms. Apparently, Maj. Vinh and his relatives had taken the drug - probably sleeping pills - before Vinh gave each a finishing stroke with his .45 pistol.

In an open small safe he left some hundreds of thousands South Vietnam piasters, rated about 500 dollars at the time, an indication of his poor circumstances as an army major. On the note along with the money, Vinh wrote:

"Dear neighbors,"

"Forgive us. Because our family would not live under the Communist regime, we have to end our lives this way that might be bothering you. Please inform my only sibling, a sister named ... at... and use this money to help her bury us anywhere. "

"Thank you,"

"Dang Si Vinh."

*****

The fall of Saigon drove many people into not only suicide but serious mental disorder as well. Ten years later, some physicians said that at least one thousand people around the Saigon area suffered incurable insanity on that day of the Black April.

Maj. Vinh was one among many others who committed suicide on and after April 30, 1975. Those who committed suicide were mostly officers, politicians, government officials, and young NCOs were estimated at several hundreds. But only some famous cases were fully recorded.

* Le Van Hung (1933-1975)

Brigadier General, deputy commander of the IV Corps/Military Region 4 at Can Tho. Hung was born in Gia Dinh province near Saigon.

In 1954, he was drafted and received training in the Thu Duc Reserve Officers School, Class 5, graduated second-lieutenant in January 1955. In January 1959, First Lieutenant Hung was the 32nd Infantry Regiment S-2 when the Viet Cong conducted a surprise attack at the regiment base camp in Trang Sup, Tay Ninh province, and took away a large number of weapons. As the duty officer of the regiment headquarters, he bravely commanded the reconnaissance platoon, the only soldiers present in the barracks, to resist and to protect the other parts of the headquarters and other materials and equipment from being destroyed or lost.

In 1961 he was appointed Chief of Police Department of Vinh Binh province, and later a battalion commander when he was a captain in 1964. In 1967, he became the commander, 31st Infantry Regiment. Then he was assigned province chief of Phong Dinh (Can Tho). June 1971, Hung was given the command of the 5th Infantry Division and promoted brigadier general in 1 March 1972. He proved to be a talented and brave infantry commander in the bloody battle of An Loc during the Summer 1972 Campaign. He held firmly the city of An Loc under the enemy fierce attacks that lasted 2 months.

Until his death, Hung had successively been assistant commander, III Corps/Military Region 3; commander, 21st Infantry Division; and deputy commander, IV Corps/Military Region 4.

At 8:30 PM, 30 April 1975, his troops still kept the city of Can Tho under control. A delegation of the city people came to see him and convinced him - as he was the deputy commander - that his ARVN forces should not fight to death as they certainly would, because the people. were sure that the Communists would spare nobody in Can Tho in order to win. They would not hesitate to shell Can Tho into rubble. General Le Van Hung and the commander, General Nguyen Khoa Nam, dropped their intention to fight to the last bullet. Hung then said farewell to his men, his wife and children before he killed himself by a .45 pistol. It was 8:45 PM, 30 April 1975.

* Le Nguyen Vy (1933-1975)

Brigadier general, commander, 5th Infantry Division at Lai Khe. General Vy was born in Son Tay province, North Vietnam. He graduated from the officers candidate course in the Regional Military School, Military Region II at Phu Bai near Hue, Class 1951.

After receiving the order to surrender, General Vy committed suicide by a pistol at 11:00 AM, 30 April 1975 at the division headquarters in Lai Khe.

* Nguyen Khoa Nam (1927-1975)

Major general, commander IV Corps and Military Region 4. General Nam was born in Quang Nam province. He was drafted and graduated from Thu Duc Reserve Officers School, Class 3 in 1953..

General Nam was highly respected by his subordinates, his equals, even his superiors, as well as the people in his region ever since he commanded the 7th Infantry Division. His spirit of discipline made him a good example to his soldiers.

At 11:30 PM, 30 April 1975, General Nam killed himself after saying farewell to his staff and talking by telephone with General Le Van Hung, who had ended his life earlier.

* Tran Van Hai (1925-1975)

Brigadier general, commander, 7th Infantry Division at Dong Tam, near My Tho.

General Hai was born in Phong Dinh province (Can Tho). He graduated from the Dalat Military Academy, Class 7, 1951. Hai was renown of being incorruptible, outspoken and brave. In 1968, he was commanding the Ranger Branch Command, directly supervising the Ranger's raid to clear the enemy force that infiltrated into the business quarter of Cho Lon area. He was then assigned National Police Chief. In 1970 he was commander, Special Tactical Area 44... before commanding the 7th Division.

He won the adoration of everyone who once worked with him, as he was renown of being incorruptible. At midnight, 30 April 1975, he committed suicide at the Division Headquarters, Dong Tam Army Base.

* Pham Van Phu (1928-1975)

Commander, II Corps/Military Region 2. General Phu was born in Ha Dong, North Vietnam. He graduated the Dalat Military Academy, Class 8. In 1954, Phu was a company officer in the 5th Parachutist Battalion of the Army of the State of Vietnam, fighting beside the French in Dien Bien Phu.

In the RVN Army, Phu had been commander of the RVN Special Force, the 2nd Infantry Division, Quang Trung Training Center, before taking the command of the II Corps/Military Region II in Pleiku. His troops suffered heavy losses on the way of withdrawal to the coastal areas in April 1975.

General Phu committed suicide on 30 April 1975 in Saigon.

* Colonel Ho Ngoc Can (1940-1975)

He was one who elected to commit suicide by fighting to death.

Ho Ngoc Can was admitted in the RVN Junior Military Academy when he was 14 years old. After graduation, he served 4 years as an instructor sergeant in the same academy. In 1961, he attended the Officer Candidates Course at the Dong De NCO Academy and was the distinguished graduate of the course in 1962.

After commissioned, Can served the Ranger Corps as a platoon leader. He was promoted to captain in 1965, to major in 1968, to lieutenant colonel in 1971, and to full colonel in 1974. He was successfully commanding the 1/33 Battalion (21st Infantry Division), the 15th Regiment (9th Inf. Div.). In 1974, Can was appointed province chief of Chuong Thien Province, Vietnam deep south area.

On April 30, 1975, he refused to surrender to the enemy. Along with his troops, Can was fighting with all his might, holding the provincial headquarters until 11:00 PM on May 1, when his forces were out of ammunition. In the last minutes, he ordered the soldiers to leave the headquarters for safety while he and a faithful Popular Force militiaman covered them with a machine gun.

He fell into the hands of the Communist force after he failed an attempt to kill himself. He told the enemy that he wouldn't surrender, and asked them to let him salute the RVN colors with his uniform on before the execution.

Can was publicly executed by the Communist firing squad after a quick summary trial at a Communist cheaply staged court martial.

♣ ♣ ♣   Xin mời đọc thêm: Người lính Cộng Ḥa

 Trở lại đầu