LTS: Hàng năm cứ
đến giữa Tháng Tám đầu Tháng Chín nhà cầm quyền Cộng Sản
trong nước đều tổ chức kỷ niệm “Cách Mạng Tháng Tám” thành
công và ngày khai sáng Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa để gián
tiếp đề cao công trạng của “Bác và Đảng”. Đây thường là dịp
để họ đề cao, tâng bốc, thần thánh hóa ông Hồ, một cái phao
cuối cùng cần bấu víu mà tồn tại trước giông băo của thời
đại và phong trào đấu tranh cho dân chủ tự do. Sau đây là
nội dung bài “Cuộc sống hai mặt của Hồ Chí Minh”.
Từ khoảng Mùa Hè năm 1946, trong lúc
cuộc kháng chiến chống Pháp đang tiếp diễn tại Nam Bộ, hầu
như khắp những thôn xă miền Bắc thường xuyên có những buổi
tập họp dân chúng vào ban đêm để liên hoan văn nghệ hoặc
sinh hoạt chính trị mà Vơ Nguyên Giáp đă mô tả: “Từ thành
thị đến làng quê, đâu đâu cũng cờ mở trống giong, ngày mít
tinh, đêm khai hội. Vùng nông thôn Việt Nam lâu đời yên tĩnh
chưa bao giờ sôi nổi, rộn ràng như vậy.” (1)
Những buổi tập họp bao giờ cũng mở đầu
bằng màn tŕnh diễn có tên “Suy tôn Bác Hồ”.
Sau lời hô ra lệnh, đèn sân khấu vụt
tắt và hai thanh niên để ḿnh trần, đầu chít khăn quỳ gối
giơ cao hai ngọn đuốc trước chân dung Hồ Chí Minh trên bàn
thờ Tổ Quốc.
Trong ánh đuốc bập bùng, một giọng
hùng tráng cất lên kể công ơn lănh tụ với những lời cuối
cùng vang dội: “Hồ Chí Minh, Người là ông Thánh Sống!”
Nối theo tức khắc là bản đồng ca quen
thuộc:
“Đúc gươm thiêng vung cho nước nhà,
Dắt dân Việt đi tới đích xa,
Hồ Chí Minh, anh hùng bao năm luôn
tranh đấu,
Thắng gian nguy, tranh công đầu...
Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn
năm!...”
Màn suy tôn được lập lại không ngừng
đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác, thôn này qua
thôn khác... đă tạo trong trí tưởng đa số dân quê một h́nh
tượng lănh tụ phi phàm sánh ngang thần thánh.
H́nh tượng này c̣n được liên tục tô
chuốt mỗi ngày bằng những chuyện kể về “sự dị thường của Bác”
với cặp mắt có hai con ngươi, với t́nh thương bao la như
trời biển chỉ nghĩ tới nhân dân, với cuộc sống hy sinh trọn
vẹn mọi sinh thú bản thân để dồn hết tâm lực cho đất nước...
và đă xuất hiện nơi không ít tác phẩm viết về Hồ Chí Minh
cho tới nay.
Với Duiker, “ông Hồ đă chiếm được một
chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu
tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được
tiếng nói đích thực của họ“
Với Halberstam, “Hồ Chí Minh là anh
hùng số một, anh hùng duy nhất của Việt Nam... là hiện thân
cuộc cách mạng của dân tộc ông đối với dân tộc ông và cả đối
với thế giới... là nhà ái quốc vĩ đại nhất Việt Nam ở thế kỷ
20”.
Với Douglas Pike, “Hồ Chí Minh có tài
về tổ chức, tận tụy hy sinh, chí công vô tư, lo trước dân,
hưởng sau dân...”
Với nữ kư giả Hélène Tourmaire: “H́nh
ảnh của Hồ Chí Minh đă hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn
ngoan của Phật, ḷng bác ái của Chúa, triết học của Mác,
thiên tài cách mạng của Lênin và t́nh cảm của một người chủ
gia tộc, tất cả bao bọc trong dáng dấp rất tự nhiên”.
Với Phạm Văn Đồng: “Một con người phi
thường và xuất chúng, năng động và linh hoạt trong mọi ứng
biến, minh khiết và thanh thản trong tâm hồn và phong độ,
người của chủ nghĩa nhân đạo trong ư nghĩa đầy đủ nhất, nhà
chiến lược, nhà lănh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn
hóa, nhà báo, nhà thơ lớn.”
Bùi Tín xác định kỹ hơn: “Cá nhân tôi
kính trọng ông Hồ Chí Minh... Đây chính là con người thẳng
thắn lương thiện (honnête), sống rất giản dị, yêu thích trẻ
con và dễ gần gụi với những người hèn mọn nhất (humbles)...
Tôi cực lực
bác bỏ giả thuyết cho rằng đó chỉ là cái tài đóng kịch của
ông.”
Nhưng, chính trong tác phẩm của
Duiker, Douglas Pike, Halberstam, Bùi Tín... cuộc sống và
con người Hồ Chí Minh đă được diễn tả ra sao?
Duiker đă kể về đời tư Hồ Chí Minh với
một loạt người t́nh và vợ như Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng
Tuyết Minh, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân vv... một cô ở Pháp,
vài cô ở Nga và cả chuyện Hồ Chí Minh vào lúc cuối đời nhờ
một cán bộ cao cấp Trung Cộng giới thiệu cho một cô gái trẻ
để hưởng tuổi già...
Duiker c̣n nêu rơ liên hệ t́nh cảm
giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai là một bí ẩn rắc
rối nhất trong đời ông Hồ do Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của
Lê Hồng Phong.
Halberstam ca ngợi Hồ Chí Minh có thủ
đoạn hơn người để quét sạch những phần tử đối địch gồm hầu
hết là những người yêu nước kể cả người được kính ngưỡng như
Phan Bội Châu bằng cách báo cho mật thám Pháp bắt hoặc cho
thủ hạ tàn sát sau khi phao vu là lưu manh, phản quốc...
Douglas Pike nhắc lại những sự việc đă
được Halberstam đề cập và kể thêm: “Theo những nguồn tin
đáng tin cậy, ngày thế chiến II bùng nổ (1-9-1939) có kẻ
trao cho mật thám Pháp ở Saigon đầy đủ danh sách của nhóm Đệ
Tứ với bí danh và địa chỉ của từng người kể cả nơi cư trú
địa phương trên toàn quốc. Chỉ trong vài giờ cảnh sát Pháp
đă tóm hết những lănh tụ đầy đi New Hebrides, New Caledonia,
Madagascar và những thuộc địa khác của Pháp xa Đông Dương...
Sau này nhiều sử gia và những chuyên gia về chính trị quả
quyết chỉ có Cộng Sản Việt Nam có tài liệu và khả năng làm
một việc có tính t́nh báo chiến thuật đó.”
Và, Douglas Pike tán đồng nhận định
của Halberstam với kết luận: “...Hồ luôn luôn chứng tỏ là kẻ
đại tài về xảo trá và tàn bạo”. (2)
Riêng Bùi Tín phát biểu: “Hồi 1945,
mới 55 tuổi, ông tự nhận là cha già dân tộc và xưng Bác với
đồng bào trong đó có cả cụ già 70, 80 tuổi là không ổn...
Ông viết về bản thân ḿnh, kư tên là Trần Dân Tiên và T. Lan
tự khen ḿnh là vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, tự nói về
ḿnh rằng: “Bác Hồ rất khiêm tốn, người không bao giờ muốn
nói đến bản thân ḿnh” th́ thật mỉa mai đến buồn cười!” (3)
Dù thành tâm ngưỡng mộ cách nào, những
tác giả trên cũng không thể tô điểm cho Vị Thánh Sống của
ḿnh bằng những sự việc đă kể.
Bởi tất cả những sự việc đó chỉ phản
ảnh một tính cách đối nghịch cùng cực với những điều tốt đẹp.
Chỉ nh́n riêng về cuộc sống t́nh cảm
riêng tư, những tác giả đă ghi nhận hoặc không dám chối bỏ
việc ngoài rất nhiều người t́nh, Hồ Chí Minh ít nhất đă
chung sống như vợ chồng với 5 người phụ nữ:
1- Trong Từ thực dân đến cộng sản,
Hoàng Văn Chí thuật theo lời kể của Nguyễn Khánh Toàn, cho
biết trong thời gian học ở Liên Xô, Hồ Chí Minh cũng như
Nguyễn Khánh Toàn đă được Quốc Tế Cộng Sản cấp cho một người
Nga làm vợ hờ. V́ Hoàng Văn Chí chỉ nói theo Nguyễn Khánh
Toàn rằng có một cô vợ hờ, mà không nói tên, tuy cũng có
người bảo Vera Vasilieva là người t́nh của Hồ nhưng khó tin
v́ cô này là cán bộ cao cấp, người từng bao che bênh vực Hồ.
2- Năm 2001, sử gia Trung Cộng, giáo
sư Hoàng Tranh, viết một bài báo dài kể lại rất nhiều chi
tiết về việc Hồ Chí Minh chính thức lập hôn thú với một nữ
hộ sinh người Trung Hoa theo Kitô giáo tên là Tăng Tuyết
Minh mới 21 tuổi. Tiệc cưới được tổ chức vào tháng 10-1926
tại nhà hàng Thái B́nh ở Quảng Châu là nơi trước đó Chu Ân
Lai đă làm lễ cưới với Đặng Dĩnh Siêu.
Năm 1927, khi Tưởng Giới Thạch bắt đầu
diệt cộng, Hồ Chí Minh phải cùng với Borodin trở về Liên Xô,
không kịp liên lạc với vợ nhưng Tăng Tuyết Minh vẫn một ḷng
chung thủy ở vậy chờ chồng cho đến khi lâm chung vào tuổi
91. Nhiều lần bà đă gửi thư cho sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở
Trung Quốc (lúc ấy do Hoàng Văn Hoan làm đại sứ), cũng như
nhờ người chuyển thư sang Hà Nội, khi biết tin chồng bà đă
thành chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa nhưng không bao giờ
có hồi âm.
Theo Pierre Brocheux, người mối lái
cho đám cưới này là Lư Huệ Quần, vợ Lâm Đức Thụ v́ Tăng
Tuyết Minh rất thân với Lư Huệ Quần. Brocheux ghi theo một
tài liệu cho biết chính Lâm Đức Thụ đă kể lại như sau:
“Tháng 10 năm 1926, Lư Thụy, tức Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí
Minh đă thành hôn với một nữ hộ sinh đồng môn với vợ tôi.
Nguyễn Hải
Thần và Lê Hồng Sơn không tán thành cuộc hôn phối này nên
t́m cách chống. Nhưng Lư Thụy đă trả lời: “Tôi cứ lấy vợ,
bất chấp những anh không chấp thuận, v́ tôi cần một người
đàn bà dậy tiếng Trung Hoa cho tôi và săn sóc việc nhà.” (4)
3- Nguyễn Thị Minh Khai, theo thông
tin chính thức của Đảng, là vợ của Lê Hồng Phong, nhưng
William J. Duiker và cả Bùi Tín đều nhắc những tài liệu cho
biết từng có thời gian là vợ Hồ Chí Minh vào khoảng
1934-1935.
Riêng nhà báo Việt Thường nói Hồ Chí
Minh (khi đó c̣n mang tên Lin và Nguyễn Ái Quốc) đă làm hôn
thú với Nguyễn Thị Minh Khai, mặc dù cô này đă hứa hôn với
Lê Hồng Phong. Hồ Chí Minh đoạt vị hôn thê của đồng chí
trong thời gian Minh Khai thụ huấn lớp đào tạo cán bộ do Hồ
Chí Minh phụ trách ở Hồng Kông.
Theo Việt Thường, cô con gái của
Nguyễn Thị Minh Khai hiện sống ở Saigon và được nói là con
của Lê Hồng Phong chính là con của Hồ Chí Minh.
Sophie Quinn-Judge, tác giả cuốn tiểu
sử Hồ Chí Minh mới nhất, người đă trực tiếp nghiên cứu những
tài liệu mới được giải mật ở văn khố Liên Bang Nga cũng cho
biết chính Minh Khai đă khai trong lư lịch bà là vợ của Lin
(bí danh Hồ lúc ấy).
4- Trong Một Cơn Gió Bụi, sử gia Trần
Trọng Kim ghi: “Khoảng tháng 9-1944, Việt Nam Cách Mệnh Đồng
Minh Hội dời về Quảng Tây và cho Hồ Chí Minh về Bách Sắc để
trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho Hồ Chí Minh cùng
22 đảng viên phần nhiều là người trong đảng Phục Quốc về
nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ
đảng viên tên Đỗ Thị Lạc là người về sau có đứa con gái với
Hồ Chí Minh.
5- Cô Xuân (5) là người phụ nữ thứ năm
sống như vợ chồng với Hồ Chí Minh.
Cô Xuân thuộc sắc tộc Nùng, người
huyện Ḥa An, Cao Bằng, đầu năm 1955, được tuyển “đưa về Hà
Nội phục vụ Bác Hồ” và được bố trí sống tại ngôi nhà số 66
phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Liên hệ giữa Hồ Chí Minh và cô Xuân
gần như không ai biết, ngoại trừ Trần Quốc Hoàn lúc đó là Bộ
Trưởng Công An, có nhiệm vụ đưa đón cô Xuân ra vào Phủ Chủ
Tịch.
Năm 1956, cô Xuân sinh con trai, được
Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng Hồ Chí Minh
không đồng ư cho cô Xuân vào sống tại Phủ Chủ Tịch như vợ
chính thức. Khoảng hơn 3 tháng sau, đầu năm 1957, người ta
t́m thấy một xác chết ở dốc Cổ Ngư, đưa về bệnh viện Việt
Đức nhận dạng là xác cô Xuân và được chôn cất vội vă theo
lệnh của Trần Quốc Hoàn.
Chuyện cô Xuân được Nguyễn Minh Cần và
Vũ Thư Hiên ghi lại với nhiều t́nh tiết và nêu tên nhiều
người liên hệ.
Nguyễn Minh Cần lúc đó là Phó Chủ Tịch
Ủy Ban Hành Chính Hà Nội đă kể: “Hôm đó, vào mùa xuân năm
1957, tôi đang thường trực th́ anh Nguyễn Quốc Hùng, thành
ủy viên, tới báo cáo có vụ xe cán chết người trên đường Nhật
Tân, công an báo cáo người bị cán đă là một xác chết. Anh em
công an nói chiếc xe mang biển số của Phủ Chủ Tịch. Mấy hôm
sau tôi có hỏi anh Trần Danh Tuyên, bí thư thành ủy, về vụ
này th́ anh ta nói “Vụ đó giải quyết xong rồi”.
Trong Đêm giữa ban ngày, Vũ Thư Hiên
kể:
“Tôi nhớ một buổi chiều thu 1964, cha
tôi đột nhiên bảo tôi:
- Con lấy xe đưa bố đi một lát....
Cha tôi sai tôi chở ông lên đường Cổ
Ngư cũ về phía Chèm. Tới dốc lên đê, ông bảo tôi dừng xe.
Châm một điếu thuốc, ông chọn chỗ cỏ sạch để ngồi xuống và
bảo tôi ngồi xuống bên ông...
- Con nhớ lấy chỗ này, quăng gốc cây
thứ tư và thứ năm từ trên đê đổ xuống - cha tôi chỉ tay về
phía trước - Nơi này đă xảy ra một tấn thảm kịch mà rồi đây
con phải t́m hiểu để mà viết. Nó là tấn thảm kịch có tính
chất tượng trưng cho một sự đổ vỡ lớn của một nền đạo đức và
rộng ra, của cả một thời đại.
Mắt cha tôi mờ đi. Giọng ông đứt quăng.
- Con không hiểu bố muốn nói ǵ.
- Lúc này con không hiểu cũng được.
Hiểu bây giờ vừa sớm vừa nguy hiểm. Việc của bố là đánh động
trí nhớ của con, bắt nó ghi lại một lời nói không rơ ràng để
đừng quên sau này...
Ông Nguyễn Tạo (6) đă giải đáp cho tôi
câu hỏi đó, nhiều năm về sau:
- Bố anh không muốn kể v́ vào thời kỳ
câu chuyện xẩy ra bố anh không c̣n làm việc với Bác Hồ nữa,
bố anh e ḿnh không nắm rơ, không trực tiếp biết sự việc,
không biết chi tiết, kể sẽ không đầy đủ, không khách quan.
Hoặc giả, bố anh sợ anh biết câu chuyện quá sớm th́ hại cho
anh... Nhưng bố anh muốn anh biết để có lúc anh sẽ phải viết
ra. Bố anh bảo tôi kể cho anh nghe cũng không ngoài ư đó...
- Vậy chuyện ǵ đă xảy ra ở dốc Chèm,
thưa bác?
- Một vụ án mạng oan khuất.
- Ở chính nơi bố cháu chỉ cho cháu?
- Ở đó. Có một người đàn bà bị xe cán
chết, hay nói cho đúng hơn, cán xác của người đó.
- Một hiện trường giả?
- Chính là như vậy... Người đàn bà này
bố anh cũng biết, tên là Xuân, quê ở huyện Ḥa An tỉnh Cao
Bằng. Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nơn, miệng tươi như hoa,
được Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương tuyển vào trông nom sức
khỏe cho Bác Hồ...
- Thời gian nào, thưa bác?
- Sau khi ḥa b́nh lập lại, khoảng năm
1955... Cùng được tuyển với cô Xuân c̣n có hai người em gái
cô ta, một em ruột, một em họ cũng là con cái gia đ́nh gốc
gác cách mạng cả. Họ được bố trí ở trong một ngôi nhà ở phố
hàng Bông Thợ Nhuộm, sát đường Quang Trung. Thông thường,
Trần Quốc Hoàn tự thân đưa cô Xuân vào gặp Bác rồi đưa về...
- Mỗi lần như vậy bà ta ở lại bao lâu?
- Không chừng. Có khi chỉ một đêm, có
khi đôi ba hôm. Cô Xuân rất được ḷng Bác. Họ có với nhau
một con trai, được đặt tên Trung, Nguyễn Tất Trung. Về sau,
trước khi Bác mất Bác ủy thác thằng Trung cho Vũ Kỳ chăm sóc,
coi như con nuôi...
Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi
được biết trong những bí mật cung đ́nh được giữ rất kín.
- Như vậy, có thể coi bà Xuân là bà
hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam?
- Có thể coi là như vậy. Và là bà
hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh v́
không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, v́ đẻ ra đứa con
không được gọi cha ruột của nó bằng cha... Tất cả diễn ra
trong sự lén lút nhục nhă...
- Ai đă giết bà Xuân?
-... Ta hăy ghi nhận sự việc này: Vào
một buổi sáng Mùa Xuân năm 1957, người ta thấy có xác một
người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm. Xác
chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Chính
là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ mà bị
chôn cất vội vă theo lệnh của Trần Quốc Hoàn...
- Rồi sau th́ sao?
- Chưa hết. Sau, em ruột cô Xuân bị
điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên rồi bị đưa về Cao
Bằng điều trị bệnh... thần kinh. Ít lâu sau, xác cô nổi lên
ở một cây cầu trên sông Bằng Giang... Cô em gái họ cũng biến
mất. Như vậy cùng một thời gian, cùng một sự việc, có tới ba
người thiệt mạng...” (7)
Theo Nguyễn Minh Cần, Trần Quốc Hoàn
nhiều lần đến nhà cô Xuân để hăm hiếp cô từ ngày 6-2-1957
tới ngày 11-2-1957 th́ giết cô bằng cách đánh búa vào đỉnh
đầu rồi quăng xác ở dốc Cổ Ngư dàn cảnh xe cán.
Nguyễn Minh Cần cho rằng sự việc có
thể xuất phát từ chính Hồ Chí Minh hoặc Bộ Chính Trị đă
quyết định thanh toán cô Xuân do cô muốn công khai hóa mối
liên hệ và đ̣i chính thức nh́n nhận đứa con. Trần Quốc Hoàn
được giao cho thi hành nên mới dám ngang nhiên hăm hiếp cô
Xuân trước khi hạ sát và sau đó giết luôn hai người em cô
Xuân v́ biết rơ sự việc. (8)
Theo Vũ Thư Hiên, một thương binh nhận
là chồng của cô Vàng, cuối năm 1983, đă gửi thư lên Văn
Pḥng Chủ Tịch Quốc Hội ghi lại nhiều chi tiết của sự việc
qua lời kể của cô Vàng trước khi bị thủ tiêu. Lá thư dài ghi
viết tại Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983 kính gửi ông
Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Quốc Hội nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam, mở đầu với lời tự giới thiệu như sau:
“Tôi là một thương binh đă 25 năm nay
vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ v́
vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương ḷng vô
cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giă cái xă hội vô cùng
đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó
khăn mới viết được bức thư này lên Chủ Tịch hy vọng ông c̣n
lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng
nghiêm trọng tàn ác mà người vợ chưa cưới của tôi là nạn
nhân...”
Thư tŕnh bày tiếp sự việc cho biết từ
năm 1954, người viết thư có người yêu tên Nguyễn Thị Vàng,
22 tuổi quê làng Hà Mạ, xă Hồng Việt, huyện Ḥa An, tỉnh Cao
Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn Thị Xuân, tên gọi
trong gia đ́nh là cô Sang tức Minh Xuân. Cuối năm 1952, cô
Vàng và cô Xuân t́nh nguyện vào công tác hộ lư trong một đơn
vị quân nhu. Mấy tháng sau, Trần Đăng Ninh, Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Hậu Cần mấy lần đến gặp cô Xuân và đầu năm 1955 th́
đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Được mấy
tháng sau th́ cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội ở trên
gác căn nhà số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm với cô Xuân và cô
Nguyệt là con gái ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột cô Xuân. Thư
viết tiếp:
Đă luôn hai năm, tôi chỉ được tiếp thư
chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng
tháng 10 năm 1957, tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị
tại bệnh viện huyện Ḥa An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại
được gặp nhau. Trong một tuần lễ, cô Vàng kể lại mọi nỗi đau
xót cô đă gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những
lời cô Vàng tâm sự với tôi mà không bao giờ tôi có thể lăng
quên được.”
Thư ghi lại nhiều chi tiết theo lời kể
của cô Vàng cho biết khoảng đêm 6 hoặc 7 tháng 2 năm 1957,
sau khi cô Xuân sinh con hơn 3 tháng, Trần Quốc Hoàn tới nhà
ngang nhiên trói cô Xuân hăm hiếp ngay trước mắt hai cô Vàng
và Nguyệt. Sau sự việc này, cô Xuân đă kể với những em: “Sau
ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đă có con
trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai”.
Bác nói: “Cô xin
như vậy là hợp t́nh, hợp lư. Nhưng phải được Bộ Chính Trị
đồng ư, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc
Việt đồng ư mới được”.
Do đó, cô Xuân đành phải im lặng chờ
đợi cho tới khi sự việc xẩy ra theo cô Vàng kể với người
t́nh:
“Khoảng một tuần sau, lúc 7 giờ tối
ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em c̣n nhớ như đinh đóng cột.
Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ,
anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ
Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo,
xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau 12 tháng 2, một nhân
viên Công An Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô
chết rồi, hiện c̣n để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doăn... Em
không được vô nhà xác, họ nói c̣n mổ tử thi... Sau một tiếng,
hai bác sĩ, một cán bộ Công An, một Kiểm Sát Viên lên pḥng
chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe.
Tử thi không có thương tích ǵ, thấy rơ không bị tai nạn ô
tô... Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt... Bác sĩ tuyên
bố đây có thể bị trùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh giữa
đầu...
Ít lâu sau một cán bộ Công An đến bế
cháu Trung đi, chúng em không được biết đi đâu (9). Rồi em
th́ được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái
Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế
nào. Học mấy tháng th́ em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng,
em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều
trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe...
Em chắc chắn sẽ bị chúng giết v́ em đă nói vụ này cho nhiều
chị em bà con biết...
Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một
tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng đi về thăm
ông cậu Hoàng Văn Đệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi
quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới
nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu
Hoàng Bồ th́ thi hài đă được kiểm nghiệm và chôn cất rồi.
Nghe dư luận xôn xao bị đánh vỡ sọ... Tôi đâm bổ về Hà Nội
liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Ṭa Án Hà
Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết th́ bạn tôi sao cho tôi một
bản Công Văn Viện Kiểm Sát hỏi ṭa án về vụ em tôi và cô
Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó tŕnh ông để tiện việc
điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí
Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, c̣n nhiều
người ở Trường Y Tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói
chuyện lại cũng bị giết lây”...
Cuối thư kư tên vợ chồng Nguyễn Thị
Vàng sau khi cho biết người lái xe tới đón cô Xuân đi giết
là Tạ Quang Chiến vào năm 1983 đang giữ chức Tổng Cục Phó
Tổng Cục Thể Dục Thể Thao và ghi lời cầu xin: “Tôi, một
thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu ḥa nước mắt viết
thư này nhờ một người bạn chí t́nh, thành tâm bảo vệ lẽ phải,
đánh máy bức thư gửi tới tŕnh ông”. (10)
Trước phát giác về cuộc sống t́nh cảm
phức tạp của Hồ Chí Minh, Bùi Tín phát biểu: “Ở trong nước,
việc đánh giá lại ông Hồ Chí Minh là điều cấm kỵ một cách
tuyệt đối.
V́ ông là chỗ dựa cuối cùng để những người lănh đạo duy tŕ
con đường “xă hội chủ nghĩa”, “giữ vững ổn định chính trị”
có nghĩa là họ không mất quyền lănh đạo... Nhà báo Kim Hạnh
chỉ giới thiệu về cuốn sách của giáo sư sử học Daniel Hemery
nói rằng hồi trẻ ông Hồ có thể có vợ ở Trung Quốc đă lập tức
bị mất chức tổng biên tập báo Tuổi Trẻ. Ông Bùi Đ́nh Kế, cục
trưởng cục lưu trữ quốc gia viết một bài tương tự trên báo
Nhân Dân Chủ Nhật cũng bị khiển trách rồi “cho về hưu”. Lập
luận của Ban Văn Hóa và Tư Tưởng là tất cả những chuyện kể
trên đều là bịa đặt bậy bạ với ư đồ xấu xa phá hoại đất nước”.
Theo Bùi Tín, “nếu quả thật ông có người yêu, có vợ khi c̣n
trẻ th́ có ǵ là xấu? Nếu có cô Brière (Pháp), cô Tuyết Cần
(Trung Hoa), cô Véra Vasiliera (Nga)... là bạn, người yêu,
là vợ th́ cũng là tự nhiên, b́nh thường, có thể là nét đẹp
nữa, v́ ông cũng có trái tim như mọi người chứ. Chỉ có kẻ
đạo đức giả mới muốn coi ông là thánh”. (11)
Quả thật không có ǵ xấu trong cuộc
sống t́nh cảm tự nhiên của con người. Nhưng, vấn đề được đặt
ra không bởi sự việc Hồ Chí Minh từng viết thư tán tỉnh phụ
nữ, từng có người yêu. Vấn đề được đặt ra cũng không bởi sự
việc Hồ Chí Minh đă nhiều lần có vợ và bỏ vợ.
Vấn đề được đặt ra chỉ bởi cách đối xử
của Hồ Chí Minh với những người vợ, những đứa con của ḿnh
và quan trọng hơn là sự cố t́nh bịa đặt một cuộc sống t́nh
cảm không có thực để dối gạt dư luận.
Những năm trước 1945, việc quần chúng
không hiểu rơ cuộc sống riêng của Hồ Chí Minh có thể viện
dẫn t́nh trạng hoạt động bí mật không cho phép nói rơ về bản
thân.
Tuy nhiên từ 1945 về sau, mọi tài liệu
sách báo đều không ngừng nói về cuộc sống độc thân của Hồ
Chí Minh như chứng cớ cụ thể nhất biểu hiện tinh thần v́
nước quên ḿnh, hy sinh hạnh phúc cá nhân để phục vụ nhân
dân.
Hết thẩy sách báo đều mô tả Hồ Chí
Minh từ tuổi thiếu niên không ngừng băn khoăn t́m đường cứu
nước, trọn đời sống khổ hạnh như một bậc chân tu không biết
đến niềm vui riêng nào, luôn dồn hết tâm lực cho việc đấu
tranh giải phóng dân tộc và cán bộ tuyên truyền khắp nước đă
dựng lên màn suy tôn Thánh Sống Hồ Chí Minh cho quần chúng.
Trong khi đó, gần như không lúc nào Hồ
Chí Minh không nghĩ đến đàn bà và gần như không lúc nào Hồ
Chí Minh không có đàn bà ở bên cạnh.
Thời gian theo Phan Chu Trinh học nghề
thợ ảnh tại Paris, Hồ Chí Minh đeo theo tán tỉnh một cô gái
Pháp có tên Bourdon, viết những lá thư t́nh dài dặc mà sau
này Gaspard Thu Trang thu góp in trong cuốn Hồ Chí Minh à
Paris.
Những ngày nối sau, khi là đảng viên
Xă Hội Pháp, Hồ Chí Minh đă có một người t́nh cũng là đồng
chí, có tên Marie Brière được sử gia Daniel Héméry ghi lại
trong cuốn Hồ Chí Minh, de l'Indochine au Việt Nam.
Những năm đầu ở Mạc Tư Khoa, Hồ Chí
Minh cũng không thiếu đàn bà trong sinh hoạt thường nhật.
Manabendra N. Roy, lănh tụ Cộng Sản Ấn Độ từng là ủy viên
chính trị của Đệ Tam Quốc Tế, nhưng bị khai trừ năm 1928
trong tác phẩm Men I met kể về những người từng một thời gặp
gỡ có đoạn nhắc đến Hồ Chí Minh với cách sinh hoạt như sau:
“V́ ở Nga không có những quán cà phê kiểu Paris mà ông ta
thường lui tới nên để bù lại cuộc sống kham khổ buồn chán
của Mạc Tư Khoa trong những năm 20, Nguyễn Ái Quốc đă t́m
thú vui nơi đàn bà.
Đó là những nàng tư sản sa đọa hay
những thanh nữ cộng sản phóng đăng bị thu hút mănh liệt bởi
những khóa sinh người châu Á.” (12)
Rời Mạc Tư Khoa về Quảng Châu, Hồ Chí
Minh lấy vợ năm 1926.
Ngày 6-6-1931, lúc bị Cảnh Sát Anh bắt
tại Cửu Long, Hồ Chí Minh lại đang sống với một phụ nữ tên
Li Sam.
Ba năm sau đó, năm 1934, Hồ Chí Minh
có con với Nguyễn Thị Minh Khai. Khi Minh Khai về nước, Hồ
Chí Minh ở lại cùng Nguyễn Khánh Toàn và đă có một người vợ
Nga để có thêm một đứa con lai.
Ít năm sau Hồ Chí Minh về nước, sống
tại vùng rừng núi Cao Bằng và sinh hoạt tại đây cũng không
thiếu đàn bà. Brocheux ghi lời của đại úy Pháp Desfourneaux
là người từng có mặt bên Hồ Chí Minh lúc đó kể về một buổi
Hồ Chí Minh tiếp đón nhóm sĩ quan đặc vụ Mỹ: “Trong cái trại
có cả người Mỹ lẫn người Việt tụ tập thấy có 15 phụ nữ trẻ
từ Hà Nội đến để liên hoan. Ông Hồ giới thiệu họ là những
“cô gái giải trí chuyên nghiệp” (professional entertainers).
Trước buổi
liên hoan ông Hồ đă cho chuẩn bị sẵn một hợp chất gồm dược
thảo và lộc nhung được coi là có dược tính khích dâm. Người
Mỹ từ chối khi được mời tham dự buổi liên hoan”.
Desfoureaux thuật lại “nh́n thấy trong
ánh mắt ông Hồ như có một ngọn lửa lóe lên khi những nàng
kiều nữ tới trại”.
Ghi lại mẩu chuyện này, Brocheux thắc
mắc “các cô giải trí chuyên nghiệp, thường được hiểu là biết
nhảy, biết ca hát... Tại sao lại pha chế thuốc kích dâm (aphrodisiaques)
trước khi liên hoan”? (13)
Năm 1942, Hồ Chí Minh rời căn cứ Cao
Bằng trở qua Hoa Nam hơn hai năm. Trên đường trở lại Cao
Bằng vào tháng 8-1944, Hồ Chí Minh lại có một phụ nữ cùng đi
là Đỗ Thị Lạc và sau đó có cùng bà này một cô con gái.
Chỉ riêng với những trường hợp đă được
ghi nhận rơ ràng, hơn hai mươi năm hoạt động đấu tranh của
Hồ Chí Minh cũng là hơn hai mươi năm liên tục đắm ch́m trong
lạc thú yêu đương.
Nói như Bùi Tín, như Duiker v.v...
chuyện này chẳng có ǵ xấu. Nhưng trong lúc sống như vậy, Hồ
Chí Minh lại dối gạt mọi người rằng ḿnh là một lănh tụ cách
mạng thanh cao, đạo đức luôn khép ḿnh trong cuộc đời khổ
hạnh của một đấng chân tu, một vị Thánh.
Chính Bùi Tín từng nghĩ Hồ Chí Minh tự
nhận là cha già dân tộc và xưng Bác với đồng bào trong đó có
cả cụ già 70, 80 tuổi là không ổn... và cho là mỉa mai đến
buồn cười khi Hồ Chí Minh kư tên khác để viết về bản thân
ḿnh, tự khen ḿnh là vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, tự
nói về ḿnh rằng: “Bác Hồ rất khiêm tốn, Người không bao giờ
muốn nói đến bản thân...”
Bùi Tín nêu một loạt tiêu chuẩn cho
việc nhận diện Hồ Chí Minh là cần khách quan, công bằng,
không nên dự đoán và suy diễn. những tác giả như William
Duiker, Halberstam, Douglas Pike, Sainteny, Bernard Fall...
và hết thẩy những người khác hẳn cũng nghĩ thế. Vấn đề là
hết thẩy có theo nổi đúng những tiêu chuẩn do chính ḿnh đă
nêu không?
Riêng với Bùi Tín chắc chắn là “không”,
qua lời phát biểu: “Cá nhân tôi kính trọng ông Hồ Chí Minh...
Đây chính là con người thẳng thắn lương thiện (honnête),
sống rất giản dị, yêu thích trẻ con và dễ gần gụi với những
người hèn mọn nhất (humbles)...
Tôi cực lực bác bỏ giả thuyết cho rằng
đó chỉ là cái tài đóng kịch của ông.”
Bởi v́, có thể gọi là người thẳng thắn,
lương thiện không, khi người đó dùng mọi cách che giấu những
hành vi thực của ḿnh, thậm chí giả xưng nhà văn, nhà báo
viết sách ca ngợi ḿnh là anh hùng vĩ đại, là khiêm tốn, là
cao thượng?
Có thể gọi người luôn t́m cách đẩy vợ
vào bóng tối để tŕnh diễn cuộc sống độc thân và rũ bỏ những
đứa con của chính ḿnh là người giản dị, yêu thích trẻ con
không?
Có thể gọi người thản nhiên vô cảm
trước hành vi sát nhân mà nạn nhân chính là kẻ đầu gối tay
ấp với ḿnh là người nhân ái, dễ gần gụi với những kẻ hèn
mọn không?
Có thể gọi người nhân danh lư tưởng để
lạm dụng quyền hành vào việc thỏa măn những thú vui riêng
của bản thân là người tận tụy hy sinh không?
Có thể gọi người ôm ấp phụ nữ trên
giường giữa lúc khắp nơi dân chúng kêu khóc và máu của những
đồng chí đang tuôn đổ là người lo trước dân, hưởng sau dân
không?
Có thể gọi người luôn ngoảnh mặt làm
ngơ trước những chuyện bất b́nh đau đớn bằng cách viện dẫn
phải chiều theo một áp lực nào đó là người chí công vô tư
không?
Và, có thể gọi một người làm tất cả
những việc đó mà luôn xuất hiện trước đám đông với bộ mặt
dịu dàng, cử chỉ âu yếm, lời lẽ ngọt ngào khuyên nhủ cần
sống hợp đạo lư, cần hết ḷng thương yêu kẻ khác là người
không biết đóng kịch không?
Duiker, Halberstam, Douglas Pike, Bùi
Tín v.v... có thể kính trọng, ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, chọn Hồ
Chí Minh làm thần tượng không cần giải thích lư do.
Tuy nhiên, mọi câu trả lời khách quan
cho những nghi vấn trên chỉ phác họa chân dung một kẻ luôn
che giấu cuộc sống thực bằng những thủ đoạn tŕnh diễn kiệt
xuất như chính Douglas Pike và Halberstam đă nh́n nhận “...Hồ
luôn luôn chứng tỏ là kẻ đại tài về xảo trá và tàn bạo”.
Bùi Tín cũng đă kết án việc “vu khống
chụp mũ, ám sát, thủ tiêu những người lănh đạo trốt-kưt như
Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch là... một tội ác
trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc”. Tuy Bùi
Tín thận trọng ghi tội ác này là của những người lănh đạo
Đảng Cộng Sản Đông Dương, nhưng lại xác nhận mọi việc khởi
từ chỉ thị của Hồ Chí Minh, nhân danh thực hiện chủ nghĩa
Stalin.
Không dễ t́m nổi mối tương đồng giữa
kẻ chủ trương vu cáo, thủ tiêu những người yêu nước, phạm
tội ác trong lịch sử đấu tranh với người nhân ái, có công
đầu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Cũng không dễ t́m nổi mối tương đồng
giữa kẻ xảo trá tàn bạo với người thẳng thắn lương thiện,
giữa kẻ gạt bỏ tất cả những đứa con của ḿnh và nhẫn tâm sát
hại chính vợ ḿnh với người giản dị, yêu thương con trẻ và
người hèn mọn...
Càng khó t́m nổi mối tương đồng giữa
kẻ đă nhúng tay vào tội ác và có cuộc sống riêng nhầy nhụa,
lén lút nhưng luôn tô vẽ ḿnh là anh hùng vĩ đại, đạo đức
tuyệt vời, gương mẫu bậc nhất với người luôn thẳng thắn,
không hề biết đóng kịch.
Nhiều người v́ một lư do riêng nào đó
đă cố gắng xóa lằn ranh giữa tàn bạo và nhân ái, giữa lương
thiện và xảo trá, giữa giản dị và quanh co, giữa thẳng thắn
và gian dối... nhưng đây là việc bất khả thi dù tốn hao công
sức cỡ nào.
Lằn ranh kia sẽ tiếp tục tồn tại và
tồn tại măi măi để phân biệt hai mặt thực tế và xác định ư
hướng của mỗi con người trong cuộc sống.
Chọn lựa thẳng thắn hay gian dối, chọn
lựa giản dị hay quanh co... nằm trong ư hướng và nỗ lực của
mỗi con người được chứng minh bằng chính hành vi của con
người đó.
Hành vi của Hồ Chí Minh đă chứng tỏ ư
hướng và nỗ lực của ông nghiêng về phía nào, bất chấp mọi
biện giải của những người khác ở xung quanh ra sao.
Cho nên, để nhận diện Hồ Chí Minh một
cách khách quan và công bằng không thể dựa vào những biện
giải mà chỉ có thể nh́n thẳng vào hành vi của chính Hồ Chí
Minh.
Trên thực tế, Hồ Chí Minh từng có vợ,
có con và có nhiều vợ, nhiều con từ tuổi ba mươi tới cuối
đời. Đây là một thực tế không thể phủ nhận.
Suốt thời gian đó, Hồ Chí Minh luôn
tránh né đề cập đến việc vợ con và năm 1967, khi Bernard
Fall nêu câu hỏi về vấn đề này, chính Hồ Chí Minh đă cho
rằng tất cả chỉ là tin đồn sai sự thực. (14) Đây cũng là một
thực tế hiển nhiên.
Sự hiện diện song song của hai thực tế
này đủ bài bác mọi lời biện giải khởi từ những dự đoán hay
suy diễn mang tính chủ quan của mọi người.
Bùi Tín luôn kính trọng Hồ Chí Minh
cũng không thể phủ nhận tiếng nói này của thực tế. Tuy nhiên,
theo Bùi Tín, Hồ Chí Minh phải tuân hành ư Đảng.
Giả dụ cứ cho rằng ư nghĩ này không
phải dự đoán và suy diễn để coi là thực tế th́ lại gặp một
thực tế ngược lại. Đó là sự có mặt của cuốn sách do chính Hồ
Chí Minh giả xưng nhà báo Trần Dân Tiên để viết về ḿnh với
những ḍng mở đầu: “Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại
quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa nhưng măi đến nay chưa có người nào thành công.
Nguyên nhân
rất giản đơn: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân
thế ḿnh”.
Bùi Tín nói đây là điều mỉa mai đến
buồn cười v́ cảnh Hồ Chí Minh ngồi nắn nót hàng chữ trang
trọng “Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế”.
(15)
Nhưng đây mới chỉ là bước mở đầu cho
những bước tiếp không c̣n buồn cười mà phải cười ra nước mắt
khi h́nh dung chính Hồ Chí Minh đang viết những ḍng sau:
“Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm
nhường dường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc làm
sao có thể kể lại cho tôi nghe b́nh sinh của người được.”
Kiều Phong trong Chân dung Bác Hồ phát
biểu: “Nếu bác tôn trọng lời bác nói th́ cuốn sách... không
bao giờ được viết ra v́ từ ngày 4-9-1945 cho tới chết, có
bao giờ hết cảnh “rất nhiều đồng bào đang đói khổ” hay có
khi nào bác hết “những công việc cần kíp đâu.” (16)
Tất nhiên Hồ Chí Minh không tôn trọng
lời nói của ḿnh v́ biết rơ ḿnh đang nói dối và thấy nói
dối là cần nên đă tiếp tục kể: “Khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh c̣n
là người thiếu niên mười lăm tuổi...
đă sớm hiểu biết và
rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào... đă có chí
đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào... đă tham gia công
tác bí mật, nhận việc liên lạc... nhưng không hoàn toàn tán
thành cách làm của một người nào, v́: Cụ Phan Chu Trinh chỉ
yêu cầu Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận điều đó là sai
lầm, chẳng khác ǵ đến xin giặc rủ ḷng thương. Cụ Phan Bội
Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy
hiểm, chẳng khác ǵ “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ
Hoàng Hoa Thám trực tiếp chống Pháp, nhưng c̣n nặng cốt cách
phong kiến. Anh thấy rơ và quyết định con đường nên đi...”
Hồ Chí Minh tả tiếp về ḿnh vào ngày 2
tháng 9 năm 1945 sau khi đă chọn được con đường nên đi:
“Ngày hôm đó, lần đầu tiên thủ đô Hà Nội được “mắt thấy”
người con yêu quư nhất của dân tộc Việt Nam... Nhân dân nhận
thấy Hồ Chủ Tịch giản dị, thân mật như một người cha hiền về
với đám con... Quần chúng cảm thấy sâu sắc ḷng thương yêu
của một người Cha...”
Và, h́nh ảnh Hồ Chí Minh do Hồ Chí
Minh giới thiệu trước công chúng như sau: “Nhân dân Việt Nam
muôn người như một, nghe theo lời Hồ Chủ Tịch, v́ họ hoàn
toàn tin tưởng ở Hồ Chủ Tịch, họ hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ
Tịch. Không
có ǵ so sánh được với ḷng dân Việt Nam kính mến tin tưởng
lănh tụ Hồ Chí Minh... Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là
do ḷng yêu nước, yêu nhân dân... Hơn bốn mươi năm nay, Hồ
Chủ Tịch chỉ đeo đuổi một mục đích giải phóng Tổ Quốc và
đồng bào... Chủ Tịch đă từng chịu đựng khổ sở vất vả không
thể tưởng tượng được suốt trong thời kỳ hoạt động bí mật...
Nhưng Chủ Tịch dũng cảm và kiên quyết vượt qua mọi khó khăn.
Chủ Tịch không bao giờ thay đổi, vẫn luôn luôn là một người
yêu nước trong sạch và nhiệt t́nh... Hồ Chủ Tịch được nhân
dân yêu mến là do ḷng hy sinh và ḷng nhân từ của Người.
Đúng như lời nói của Mặc Tử, nhà triết học Trung Quốc đời
xưa: “Nếu có lợi cho thiên hạ th́ dù ḿnh bị mài ṃn từ gót
đến đầu cũng vui ḷng”... Chủ Tịch không bao giờ nghĩ đến
ḿnh. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân. Hồ
Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do tính cương trực và ḷng
trong sạch của Người. Thái độ của Người ngay thẳng... V́ Bác
Hồ mà những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng
tăng thêm năng suất. Đối với nhi đồng, tên bác Hồ như là một
người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là những em trở nên
ngoan ngoăn... Nhân dân gọi Chủ Tịch là Cha Già của Dân Tộc...”
(17)
Kiều Phong nhận xét: “Hăy bỏ qua những
câu chuyện dại dột, lố bịch....
chỉ cần nh́n lại chính cái giây phút
Bác ngồi nắn nót viết câu đó là thấy Bác man trá chừng nào.
Đất nước c̣n nghèo, nhân dân c̣n đói, chiến tranh c̣n khốc
liệt... con người “chỉ nghĩ đến nhân dân” ấy lại tranh nghề
của bọn văn nô, bỏ hết thời giờ tâm trí vào việc ngồi viết
văn tự tâng bốc. Vào lúc người dân Việt đang thi đua gục ngă
ở chiến trường theo sự hướng dẫn của Chủ Tịch th́ vị “cha
già dân tộc” cứ say sưa bận rộn với sự nghiệp tự nâng bi. Có
ông Cha già nào trên đời lại nhố nhăng, vị kỷ và bất nhân
đến thế!” (18)
Thực ra phải nói không một người nào,
dù chỉ đạt mức thẳng thắn và lương thiện tối thiểu, lại dám
tự gán cho ḿnh những mỹ hiệu tột đỉnh như “người con yêu
quư nhất của Việt Nam, người cha hiền của quần chúng, người
được toàn dân kính yêu không ǵ so sánh nổi, người sẵn sàng
mài ṃn từ gót đến đầu để mưu lợi ích cho thiên hạ, người
dũng cảm, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, người chịu đựng
mọi gian khổ cùng cực, người cương trực, trong sạch và người
được nhân dân gọi là Cha Già của Dân Tộc...”
Trong lịch sử nhân loại chắc chỉ duy
nhất có một người hoàn hảo như vậy, một người mà danh hiệu
Thánh Sống cũng chưa diễn tả hết những đức tính tuyệt vời.
Nhưng thực tế cuộc sống của người đó
ra sao?
Mức gian khổ cùng cực được đưa ra là
ǵ?
Phải chăng là vỏn vẹn hai lần bị bắt
tại Trung Hoa v́ lư do hoạt động cho Cộng Sản với không đầy
ba năm tù và chưa từng bị đ̣n vọt?
Phải chăng là những năm tháng đóng vai
nhà báo, đóng vai sĩ quan Trung Cộng... với nguồn tiền bạc
do Đệ Tam Quốc Tế cung cấp đều đặn?
Phải chăng là những buổi liên hoan có
cả thuốc kích dâm ngay giữa mật khu và ở đâu, lúc nào cũng
không thiếu đàn bà bên cạnh?...
Theo Bùi Tín, Nguyễn Tạo và cả Vũ Thư
Hiên, Hồ Chí Minh ở vào thế không thể đi ngược ư muốn của tổ
chức, cụ thể là do Đảng quyết định.
Đảng muốn biến Hồ Chí Minh thành
“Thánh Sống” trước mắt dân chúng để trở thành “Cha Già Dân
Tộc” và Hồ Chí Minh bắt buộc phải tuân theo.
Như vậy, tội xảo trá lừa gạt là tội
của Đảng c̣n Hồ Chí Minh đă trở thành Thánh Sống, thành Cha
Già Dân Tộc một cách bất đắc dĩ.
Nhưng cả Bùi Tín lẫn Vũ Thư Hiên đều
thấy việc Hồ Chí Minh giả xưng nhà báo để viết hai cuốn sách
về ḿnh không do lệnh Đảng. Bùi Tín nghĩ là điều mỉa mai
buồn cười c̣n Vũ Thư Hiên cho là hành động ngớ ngẩn thừa
thăi.
Thực ra, người ngớ ngẩn đáng buồn cười
không bao giờ là Hồ Chí Minh. Chính Bùi Tín từng nói Hồ Chí
Minh tuyệt đối tin tưởng ở đường lối và kinh nghiệm của Liên
Xô với thái độ giáo điều, đă đi đầu trong việc mang chủ
nghĩa Mác-Lênin được Stalin hóa vào Việt Nam.
Như vậy, hơn ai hết, Hồ Chí Minh ư
thức rất rơ tầm vóc quan trọng của vơ khí tuyên truyền,
trong đó việc tạo dựng thần tượng là một yếu tố quyết định
thành bại của nỗ lực đấu tranh.
Thần tượng tạo sức mạnh thu hút, đồng
thời cũng tạo sức mạnh chi phối đối với quần chúng và dư
luận. Để đạt mục tiêu này, thần tượng phải bao gồm mọi khía
cạnh đáp ứng đúng nhu cầu t́nh thế và nguyện vọng quần chúng.
Trong hoàn cảnh toàn dân sôi sục nhiệt
t́nh yêu nước, thần tượng không thể chỉ hiện ra như một nhân
vật tài năng quán thế mà c̣n phải là biểu tượng tột cùng của
tinh thần dân tộc.
Đây cũng là khía cạnh vô cùng quan
trọng trong đ̣i hỏi của t́nh h́nh thế giới đang bắt đầu h́nh
thành trận tuyến giữa tự do và cộng sản. Chính v́ thế, mặc
dù tự gán cho ḿnh mọi màu sắc tuyệt vời, Hồ Chí Minh đă nỗ
lực che giấu niềm tự hào cao nhất là tính chất Cộng Sản.
Hồ Chí Minh không hề ngớ ngẩn thừa
thăi hoặc làm tṛ cười khi vùi lấp vóc dáng thực là Vị Thánh
của Chủ Nghĩa Cộng Sản như Krutshchev đă mô tả để tự gán cho
ḿnh danh hiệu Cha Già Dân Tộc.
Danh hiệu này chính là vơ khí cần
thiết cho việc thu hút những người yêu nước, đặt tất cả dưới
sự chi phối đồng thời vận động sự hỗ trợ trên khắp thế giới
để tạo một thế trận dư luận bao vây cô lập mọi đối thủ.
Diễn tŕnh cuộc chiến Việt Nam trước
và sau 1954 đă nói lên thực tế này rất rơ ràng với không ít
chứng liệu.
Hồ Chí Minh, như Bùi Tín diễn tả, là
người đi đầu trong việc truyền bá lư tưởng Cộng Sản, là tín
đồ nặng tinh thần giáo điều của chủ thuyết Stalin, nên không
thể nhắm mục tiêu nào ngoài việc phát triển ảnh hưởng Cộng
Sản để đi tới thiết lập nền chuyên chính vô sản trên toàn
thế giới.
Nhưng đă không ít lần, Hồ Chí Minh
cũng như những thủ hạ từng tuyên bố ḿnh không hề là Cộng
Sản, mục đích của ḿnh chỉ là giải phóng dân tộc.
Luận điệu tuyên truyền này được phụ
họa với dàn đồng ca xưng tụng thần tượng là Cha Già Dân Tộc
cất lên không ngừng ở bất kỳ nơi nào đă tạo ảnh hưởng không
nhỏ trong dư luận thế giới mà chứng tích đầy rẫy trong sách
báo. Ảnh hưởng đó đă góp phần quyết định thắng lợi cho Cộng
Sản trong mục tiêu giành quyền thống trị.
Tự phong là Cha Già Dân Tộc, Hồ Chí
Minh không hề ngớ ngẩn mà đă mở ra một chiến dịch lớn trên
mặt trận tuyên truyền tấn công thẳng vào dư luận cả trong
lẫn ngoài nước để củng cố chiêu bài giải phóng dân tộc cho
Đảng Cộng Sản theo đuổi mục tiêu độc chiếm quyền lực tại
Việt Nam.
Tầm mức quan trọng đó khiến Hồ Chí
Minh phải đích thân tự tô vẽ bức tranh thần tượng của ḿnh
thay v́ trao cho thủ hạ. Cho tới nay, nhiều h́nh ảnh Hồ Chí
Minh được giới thiệu ở khắp nơi đều rập theo khuôn mẫu do Hồ
Chí Minh đưa ra từ đầu năm 1948 cho thấy ảnh hưởng của trận
đánh tuyên truyền này sâu rộng tới mức nào.
Nhưng dù nhắm mục đích nào, lường gạt
vẫn là lường gạt.
Hồ Chí Minh đă lường gạt quần chúng
Việt Nam và lường gạt cả dư luận thế giới để giành thắng lợi
cho Cộng Sản.
Biện giải để trút bỏ trách nhiệm lường
gạt từ Hồ Chí Minh qua Đảng Cộng Sản Đông Dương là điều
ngược với thực tế.
Bởi lẽ, Đảng trị chỉ là tên gọi khác
của một kiểu mẫu chế độ độc tài mà trong đó lănh tụ luôn nắm
quyền uy tuyệt đối của một bạo chúa.
Bùi Tín đă nh́n về Đảng Cộng Sản Việt
Nam như sau: “Đảng độc quyền lănh đạo, không cho phe phái
xuất hiện trong Đảng, giữ một khối thống nhất nguyên khối (monolithique)...
Đảng là nhà nước, đồng nhất với nhà nước, Đảng là luật pháp,
coi thường luật pháp... Đảng và chính quyền là của một nhóm
lănh đạo, là của một lănh tụ duy nhất”. (19) Khi Đảng đă là
thứ nằm dưới quyền sai xử của một lănh tụ duy nhất th́ có
thể ban chỉ thị cho lănh tụ chăng?
Nếu Đảng có đủ uy lực ép buộc Hồ Chí
Minh phải làm ngược ư muốn chắc chắn Hồ Chí Minh đă không
thể có cuộc sống hoang tàng như từng có.
Để diễn tả chính xác, chỉ có thể bảo
Đảng chính là một công cụ vận dụng tối đa uy lực để phục vụ
Hồ Chí Minh.
Trước hết, chính những cán bộ cao cấp
của Đảng đă phải đi kiếm gái đẹp về cho Hồ Chí Minh. Trường
hợp cô Xuân là một chứng minh và có thể kể thêm trường hợp
bất thành với cô Nguyễn Thị Phương Mai tại Thanh Hóa.
Kế tiếp, chính những cán bộ cao cấp
của Đảng phải cúi đầu nhận cái công việc đêm đêm lén lút đưa
gái tới với Hồ Chí Minh.
Sau đó, cơ cấu chỉ đạo cao nhất của
Đảng cùng những cơ quan viên chức Nhà Nước lại lên tiếng ca
ngợi Hồ Chí Minh là ông Thánh Sống, là bậc chân tu đạo hạnh
tuyệt vời để dối gạt dư luận. Hồ Chí Minh đă hóa thân thành
Đảng và nhân danh Đảng để biến đồng chí thành một nhóm thủ
hạ tận trung tới mức sẵn sàng làm mọi việc kể cả nhúng tay
vào máu như trường hợp cô Xuân, khi phát giác thấy dấu hiệu
đe dọa sự nguyên vẹn của tấm áo thần thánh mà Hồ Chí Minh
đang mặc.
Chiếu theo thực tế, uy quyền của Hồ
Chí Minh trong tương quan với Đảng Cộng Sản Việt Nam c̣n
vượt khỏi phạm vi diễn tả của Bùi Tín.
Trước 1945, Đảng chỉ có tư cách một
chi bộ độc lập trực thuộc Đệ Tam Quốc Tế mà Hồ Chí Minh là
đại diện nên người ra chỉ thị cho Đảng, quyết định mọi đường
đi nước bước của Đảng chính là Hồ Chí Minh.
Trong tương quan cá nhân, hết thẩy tập
thể lănh đạo Đảng đều thuộc vai học tṛ của Hồ Chí Minh nên
Hồ Chí Minh từng thoải mái tuyên bố là không ai có thể làm
được điều ǵ nếu không có Hồ Chí Minh.
Kể từ 1945, khi Hồ Chí Minh trực tiếp
lănh đạo Đảng th́ uy quyền trở nên tuyệt đối hơn. Vơ Nguyên
Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng... đều đă bày tỏ thái độ
tuân phục triệt để trước Hồ Chí Minh mà chứng cớ cụ thể là
lời lẽ phát biểu về lănh tụ trong những tác phẩm viết nối
tiếp sau tác phẩm của Hồ Chí Minh tự ca ngợi ḿnh.
P.J Honey từng mô tả về uy quyền lănh
đạo của Hồ Chí Minh trong Đảng và Nhà Nước ở Hà Nội: “Chỉ
một ḿnh ông quyết định những vấn đề chính trị cao cấp, c̣n
những kẻ khác, kể cả những ủy viên bộ chính trị, chỉ có việc
chấp nhận và tuân hành mệnh lệnh của ông về những vấn đề
liên quan”.
Cho nên, không thể cho rằng Đảng ép
buộc Hồ Chí Minh phải trở thành Thánh Sống.
Trên thực tế, chính Hồ Chí Minh đă chỉ
đường vạch lối cho Đảng phải thần thánh hóa ḿnh và c̣n vẽ
ra cả h́nh thù của vị thánh Hồ Chí Minh. Bằng chứng về ư
muốn này của Hồ Chí Minh đă hiện diện ngay trước mắt mọi
người là 2 cuốn sách kư tên Trần Dân Tiên và T. Lan.
Dù 2 cuốn sách được viết ra bởi bất kỳ
lư do nào th́ vẫn chứa đựng ư của người viết muốn tô điểm
ḿnh thành một khuôn mẫu nhân vật do chính ḿnh diễn tả bằng
mọi thứ mỹ từ như anh hùng cứu nước, con yêu của đất nước,
cha già dân tộc...
Khởi từ đây, Đảng đă tô vẽ cuộc đời
đấu tranh không thiếu niềm vui của Hồ Chí Minh thành cuộc
đời đầy gian lao khổ hạnh, đă làm mọi cách để vùi lấp những
người đàn bà sống bên cạnh Hồ Chí Minh kể cả nhúng tay vào
máu, đă phải đi từ khuyến dụ tới ép buộc mọi người dành
riêng tiếng Bác để gọi Hồ Chí Minh và tô vẽ cho Hồ Chí Minh
những màu sắc huy hoàng nhất bằng những màn tŕnh diễn suy
tôn Thánh Sống trong những buổi sinh hoạt với dân chúng trên
toàn miền Bắc từ năm 1946.
Khi Hồ Chí Minh giả xưng nhà báo có
tên Trần Dân Tiên tạo ra khuôn mẫu thần tượng cho bản thân
ḿnh th́ toàn Đảng có nhiệm vụ phổ biến khuôn mẫu thần tượng
này. Đảng chỉ tuân hành chỉ thị c̣n người chủ trương xảo trá,
lừa gạt không là ai khác, ngoài Hồ Chí Minh, dù đă có những
biện giải ra sao.
Với thực tế này, việc Hồ Chí Minh có
tài đóng kịch đă trở thành rơ ràng. Bởi kẻ thiếu tài đóng
kịch để che giấu chân tướng th́ không lường gạt nổi ai.
Cho tới giờ này, sự kiện Hồ Chí Minh
vẫn được Bùi Tín kính trọng v́ cho là người lương thiện, vẫn
được Sainteny nghĩ là người tin ở Chúa Jésus, vẫn được
Nguyễn Tạo, Vũ Thư Hiên tội nghiệp do bị áp lực đến nỗi phải
im lặng khi vợ ḿnh bị thủ hạ sát hại và vẫn được nhiều
người cho là nhà ái quốc vĩ đại hết ḷng lo cho dân, cho
nước... chứng tỏ Hồ Chí Minh không chỉ có tài đóng kịch mà
c̣n là kịch sĩ kiệt xuất đă che mắt không chỉ một người mà
nhiều người trong một thời gian dài.
Tài đóng kịch của Hồ Chí Minh có thể
do thiên phú và phần khác do được rèn luyện về những kỹ năng
tuyên truyền, kỹ năng điệp báo...
Truy tầm nguồn gốc những kỹ năng này
hoàn toàn không cần thiết bởi chủ điểm của vấn đề ở đây chỉ
là Hồ Chí Minh có tài đóng kịch hay không. Chủ điểm đó đă có
lời giải đáp qua thực tế con người hai mặt không thể phủ
nhận của Hồ Chí Minh với đủ loại huyền thoại.
Dù sao, công b́nh mà nói phải nhận là
về phương diện này Hồ Chí Minh đă chứng tỏ tài trí hơn người.
Cứ tưởng tượng một diễn viên điện ảnh hay một điệp viên quốc
tế đă phải tốn biết bao công phu rèn luyện mới leo lên đến
bậc siêu sao hay điệp viên thượng thặng. Thế mà Hồ Chí Minh,
ngoài cái tài xuất chúng về tuyên truyền chẳng khác ǵ một
nhạc trưởng của dàn nhạc giao hưởng, ông c̣n có tài “đóng
kịch” một cách kiệt xuất, đến nỗi những kẻ gần bên ông như
Bùi Tín, hay những bậc thức giả như Bernard Fall đă phải
thốt lên: “Không phải kịch!” hay “Không thể nào đóng kịch
tài đến thế trong suốt một thời gian dài đến thế!” Nhiều
người đă đánh giá ông Hồ quá thấp khi bảo tuyên truyền chỉ
là nói dối, ai làm không được. Hoặc đóng kịch chỉ là đánh
lừa, cái tài của bọn gian manh!
Thực ra tuyên truyền chính trị là một
khoa học, hơn nữa đồng thời cũng là một nghệ thuật mà người
lănh đạo mặt trận này được ví như nhạc trưởng tài ba vừa
thông thạo nhạc lư, vừa có khả năng sử dụng một cách điêu
luyện nhiều nhạc cụ, lại có uy tín đủ để tập họp được một
tập thể nhạc công có tài... Và nghề điệp báo hay diễn viên
điện ảnh cũng là cả một khoa học phức tạp không có tài thiên
phú khó mà thành công. Cho nên phải nh́n nhận Hồ Chí Minh đă
phải có chí lớn, có một lư tưởng mà ông tôn thờ, say mê nhắm
tới mới có thể bền chí khổ công rèn luyện mà thành. Chỉ tiếc
rằng lư tưởng của ông là ảo tưởng (của chủ nghĩa Mác-Lênin),
và cái tài của ông đă được sử dụng để đánh lừa và nhấn ch́m
cả một dân tộc vào cảnh máu lửa triền miên.
Hồ Chí Minh đă có hàng trăm huyền
thoại về cười, khóc, về cung cách thân mật, về lời lẽ ngọt
ngào, về hành vi nhân ái... Giữa những huyền thoại đó, huyền
thoại về đôi dép râu được nhắc lại không biết bao nhiêu lần
như một chứng liệu về nếp sống giản dị và sự quên ḿnh của
Hồ Chí Minh.
Theo lời kể, Hồ Chí Minh gần như không
khi nào rời đôi dép râu, kể cả khi đón tiếp quốc khách quan
trọng như Mao Trạch Đông. Chuyện kể ngụ ư Hồ Chí Minh có
tính t́nh giản dị và luôn tiết kiệm, nhất là có xu hướng gần
gũi với người nghèo khổ.
Sau năm 2000 Lữ Phương c̣n say sưa kể
lại chuyện này để đề cao lănh tụ: “Bác Hồ đi dép râu th́ ai
cũng biết. Bác đi một đôi dép đến ṃn lẳn. Cậu bảo vệ đề
nghị Bác thay nhiều lần nhưng Bác nhất định không chịu. Cuối
cùng nài nỉ măi không được, cậu phải lấy lén đôi dép ấy đi
đổi. Khi phát hiện, Bác không vừa ḷng và nhất quyết bắt cậu
bảo vệ đi lấy lại đôi dép cũ.” (20)
Nhưng Hồ Chí Minh trung thành với đôi
dép râu tới mức đó chưa hẳn do ư hướng như người kể muốn
nhắc.
Trên thực tế, chuyện đă gợi nhớ lời kể
của Vơ Nguyên Giáp: “Bác chỉ định mấy đồng chí cùng đi.
Thấy một
đồng chí mang dép, Bác bảo về nhà thay giày. Bác nói: Khi
nào gặp “người ta”, tôi ăn mặc thế nào cứ mặc tôi, nhưng
những chú th́ phải cho tề chỉnh”.
Lời kể này diễn tả khá đầy đủ ư nghĩa
việc Hồ Chí Minh nằng nặc đ̣i lại đôi dép cũ và đă phản ảnh
sự việc không hề do bản tính tự nhiên mà có chủ ư rơ rệt.
Mấy câu thơ của Nguyễn Chí Thiện trong Hoa Địa Ngục có lẽ
cũng bắt nguồn từ giai thoại về đôi dép này:
Chân đi dép lốp
Mồm đốt đôla
Bác Hồ chúng ta
Kịch gia xuất sắc.
Phía sau con người thánh thiện Hồ Chí
Minh đă hiển hiện một con người đúng như Olivier Todd diễn
tả là dù “chết hay sống, chúng ta không có quyền nh́n quá
lâu, hoặc quá gần”. (21)
Minh Vơ
Trích chương 49 tác phẩm biên khảo HỒ
CHÍ MINH, nhận định tổng hợp do Tủ Sách Tiếng Quê Hương ở
Virginia (điện thoại: 703-573-1207) xuất bản cách đây hơn
một năm.
CHÚ THÍCH
(01) Những năm tháng không thể nào
quên - Vơ Nguyên Giáp, tr. 76.
(02) Về những đoạn trích dẫn, xin đọc
thêm những chương về những tác giả liên hệ.
(03)-(11)-(19) Mặt Thật - Thành Tín,
tr. 91, 91-92, 98-99.
(04)-(12)-(13) Hồ Chí Minh - Pierre
Brocheux, Presses de Sciences PO, Paris 2000, tr. 104,
105-106
(05) Vũ Thư Hiên chỉ ghi tên Xuân
không xác định họ. Nguyễn Minh Cần ghi họ Nguyễn trong khi
nhiều tài liệu khác ghi họ Nông.
(06) Nguyễn Tạo nguyên Phó Tổng Giám
Đốc Nha Công An thời Lê Giản làm Tổng Giám Đốc cho tới cuối
năm 1954 Nha này biến thành Bộ Công An do Trần Quốc Hoàn làm
Bộ Trưởng mới chuyển qua làm Thứ Trưởng Lâm Nghiệp.
(07)-(10) Đêm giữa ban ngày, Văn Nghệ,
Cali 1997, tr. 605- 609, Phần phụ lục, tr. I-VII
(08) Thế kỷ 21 số 96. Cali, tháng
4-1997 - Nguyễn Minh Cần: Thêm vài mẩu chuyện về cuộc đời
của Hồ Chí Minh.
(09) Sau khi cô Xuân bị giết, đứa con
được giao cho Nguyễn Lương Bằng nuôi tới khoảng 1961-1962
gửi cho Chu Văn Tấn, tới 1969 khi Hồ Chí Minh chết, được
giao cho Vũ Kỳ nhận làm con nuôi, đổi tên là Vũ Trung.
(14) Xin coi thêm chương về Bernard
Fall và tác phẩm Ho Chi Minh on Revolution.
(15) Tác giả Kiều Phong châm biếm:
“Không muốn nhắc mà lại tự ḿnh ngồi viết cả một cuốn sách
bốc thơm ḿnh....” Không” cái kiểu ấy hơi lạ. Đáng lẽ phải
viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn đứa khác viết về thân
thế của Người. Chính người phải tự viết lấy, tự ca tụng ḿnh
th́ mới đă đời”.- Chân Dung Bác Hồ, Cali 1989, tr. 87.
(16) - (18) Chân Dung Bác Hồ - Kiều
Phong, Cali 1989, tr. 20 và 137.
(17) Xin đọc thêm chương 8 về Những
mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch.
(20) Huyền Thoại Hồ Chí Minh - Lữ
Phương, đăng trên nhiều báo ở Mỹ, tháng 10-2001.
(21) Xin coi thêm chương về Nhóm Đường Mới, phần nói về Olivier Todd.