|
1. Sau
62 Năm
MỞ LẠI
VỤ ÁN
PHẠM
QUỲNH
|

|
Không
có Công
lư, khi
kẻ giết
một
người
th́ bị
trừng
phạt, có
khi phải
đền mạng,
c̣n kẻ
giết
hàng
triệu
người
lại được
đúc
tượng,
xây lăng,
ướp xác.
Theo lời
một số
nhân
chứng và
thân
nhân ông
Phạm
Quỳnh,
ông đă
bị lực
lượng vũ
trang
Việt
Minh bắt
giữ ngày
23/8/1945
tại Huế
và bị
giết
chết
ngày
6/9/1945
tại khu
rừng Hắc
Thú
thuộc
tỉnh
Quảng
Trị, nằm
về phía
bắc
thành
phố Huế.
Ông đă
bị đập
vỡ sọ
bằng
cuốc và
vùi thây
dưới một
giao
thông
hào cùng
với hai
nạn nhân
khác là
Ngô Đ́nh
Khôi,
anh cố
Tổng
thống
VNCH Ngô
Đ́nh
Diệm, và
người
con trai
Ngô Đ́nh
Huân.
Mười một
năm sau,
1956, do
sự chỉ
dẫn của
một nhân
chứng,
thân
nhân của
các nạn
nhân mới
t́m được
nơi chôn
xác và
cải táng.
Theo
thân
nhân ông
Phạm
Quỳnh,
di cốt
của ông
đă không
c̣n
nguyên
vẹn và
chỉ được
xác nhận
nhờ cặp
kính cận
thị, vật
bất ly
thân của
ông.
Nhưng,
Phạm
Quỳnh là
ai?
Có thể
nói rằng
không
người
Việt Nam
có văn
hóa nào
không
biết
Phạm
Quỳnh,
hay
không
nghe tên
ông. V́
học giả
Phạm
Quỳnh là
ngôi Sao
Bắc Đẩu
của văn
hóa Việt
Nam tiền
bán Thế
kỷ 20.
V́ nhà
báo Phạm
Quỳnh là
người đă
khai
đường mở
lối cho
nền báo
chí Việt
Nam. V́
nhà cai
trị Phạm
Quỳnh
trong
phẩm
trật
Thượng
Thư
triều
đ́nh Huế
là người
có ḷng
yêu nước,
có tầm
nh́n xa
và có
đầu óc
cách
mạng.
Viết về
sự
nghiệp
của ông
cần
nhiều
pho sách,
và không
phải là
mục đích
của bài
viết này,
xin hẹn
để một
dịp khác.
Mục đích
của bài
viết này
là đi
t́m thủ
phạm đă
giết
Phạm
Quỳnh,
những
chính
phạm đă
gây ra
tội ác
này -
không
chỉ với
bản thân
Phạm
Quỳnh mà
c̣n với
dân tộc
Việt
Nam, và
với nhân
loại.
Thật vậy,
trong
tội ác
này các
thủ phạm
không
chỉ giết
Phạm
Quỳnh mà
c̣n hủy
diệt một
tinh hoa
của đất
nước
Việt
Nam, và
loại trừ
một
thành
viên ưu
tú trong
cộng
đồng
nhân
loại.
Trong vụ
án này
có chính
phạm và
những
ṭng
phạm,
hay nói
cách
khác, kẻ
ra lệnh
và người
thi hành.
Ngày
nay, mọi
người
đều biết
lực
lượng vũ
trang
của Việt
Minh tại
Huế vào
năm 1945
đă bắt
và giết
Phạm
Quỳnh.
Nhưng,
ai là kẻ
ra lệnh?
Việt
Minh lúc
ấy là
tên tổ
chức
kháng
chiến
chống
Pháp
dưới
quyền
chỉ huy
và điều
khiển
của Đảng
Cộng sản
Việt Nam
do Hồ
Chí Minh
lănh đạo.
Những
người
theo
Việt
Minh lúc
đầu hầu
hết là
những
người
yêu nước
đă đáp
lời kêu
gọi của
Hồ Chí
Minh để
tham gia
kháng
chiến,
đánh
đuổi
thực dân
Pháp,
giành
lại độc
lập cho
Việt
Nam.
Không
mấy ai
biết
“kháng
chiến,
chống
Pháp”
chỉ là
một
chiêu
bài được
Đảng
CSVN
dùng để
cướp
chính
quyền,
cai trị
toàn
lănh thổ
Việt Nam
dưới thể
chế độc
tài cộng
sản. V́
vậy,
CSVN đă
thẳng
tay diệt
trừ
những cá
nhân và
những
thành
phần có
thể là
chướng
ngại vật
trên
đường
tiến tới
quyền
lực và
củng cố
quyền
lực của
họ,
trong đó
có những
người ở
ngoài và
cả ở
trong
hàng ngũ
kháng
chiến.
Đó là
lư do v́
sao Phạm
Quỳnh bị
giết.
Phạm
Quỳnh
không
phải là
người xa
lạ với
Hồ Chí
Minh.
Ngoài
việc ông
là một
nhân vật
rất nổi
tiếng
thời bấy
giờ, về
văn hóa
cũng như
chính
trị,
Phạm
Quỳnh đă
có những
giao
tiếp cá
nhân với
Hồ Chí
Minh từ
thời
Pháp
thuộc
khi
phong
trào
giành
độc lập
đang
nhen
nhúm
trong
giới
được gọi
là “sĩ
phu”
thời ấy.
Trong
cuốn
nhật kư
do chính
tay Phạm
Quỳnh
ghi chép
vào thời
gian ông
sang
Pháp năm
1922,
ông có
ghi vắn
tắt gặp
Hồ Chí
Minh (lúc
đó c̣n
mang bí
danh
Nguyễn
Ái Quốc)
hai lần,
một lần
vào ngày
13/7/1922:
“ăn cơm
an-nam
với Phan
Văn
Trường
và
Nguyễn
Ái Quốc
ở nhà
Trường”,
một lần
vào ngày
16/7/1922:
“ở nhà.-
Trường,
Ái Quốc
và
Chuyền
đến chơi.”
(Chuyền
là
Nguyễn
Thế
Truyền).
(Xem
phóng
ảnh đính
kèm do
người
viết
chụp từ
nguyên
bản Nhật
kư hiện
do Nhạc
sĩ Phạm
Tuyên,
con trai
út của
ông lưu
giữ).
Trong
nhật kư,
ông chỉ
ghi vắn
tắt,
không
nói rơ
chi tiết
hay nội
dung
những
câu
chuyện
trao đổi,
có thể
v́ không
muốn là
bằng cớ
để tự
buộc tội
ḿnh một
khi lọt
vào tay
mật thám
Pháp,
nhưng
chắc
chắn
không
phải
những
người
này gặp
nhau chỉ
để đánh
chén hay
nói
chuyện
trời mưa
trời
nắng.
Sau này,
trong
thiên
“Hành
tŕnh
Nhật kư”,
ông ghi
rơ thêm
là có
“nói
chuyện
nước nhà”
với “mấy
ông chí
sĩ”. Qua
những
câu
chuyện
ấy, Hồ
Chí Minh
đă biết
tư tưởng
và quan
điểm
chính
trị của
những
người
đối
thoại,
trong đó
có Phạm
Quỳnh.
Hai mươi
mốt năm
sau,
t́nh
h́nh
Việt Nam
chuyển
động
mạnh do
ảnh
hưởng
của trận
Thế
Chiến II
ở vào
giai
đoạn
chót mà
Quân
Phiệt
Nhật
đang làm
bá chủ
miền
Đông Á,
trong đó
có Việt
Nam, hất
cẳng
Pháp
khỏi
thuộc
địa Đông
Dương,
nhưng
chính
Nhật
cũng
đang
trên
đường
bại trận.
Các đảng
phái
chính
trị,
những
người
Việt Nam
yêu nước
đều rộn
rịp hoạt
động để
chuẩn bị
nắm thời
cơ. Khi
ấy, Phạm
Quỳnh
đang là
Thượng
thư Bộ
Lại, một
chức
chưởng
tại
triều
đ́nh Huế
thời ấy
có thể
xem như
thủ
tướng,
đă có
cái nh́n
chính
xác và
thực tế
về tương
lai nước
Việt
Nam.
Theo
nhân
chứng
Hoàng
Tâm V.T.,
lúc ấy
là Tri
phủ Quận
Mộ Đức,
tỉnh
Quảng
Ngăi,
trong
một lần
đi kinh
lư các
tỉnh
miền
Trung,
ngày
22/1/1945,
Thượng
thư Bộ
Lại Phạm
Quỳnh đă
nói với
ông
trong
pḥng
riêng
như sau:
“Này ông
phủ,
chiến
tranh ở
Âu Châu
đă đến
độ chấm
dứt và ở
Thái
B́nh
Dương
chiến
tranh
cũng đă
vào thời
kỳ kết
thúc.
Đây là
vận hội
tốt cho
rất
nhiều
nước bị
trị được
trả tự
do.
Nhưng ta
không
nên nghĩ
rằng tự
do ấy sẽ
được
hiến
dâng cho
ta trên
khay bạc,
mâm vàng.
Ta phải
tranh
đấu
nhiều,
ông hiểu
tôi muốn
nói
tranh
đấu
nhiều là
sao rồi,
đó là
tranh
đấu
quyết
liệt và
toàn
diện...”
Tuy nói
vậy,
Phạm
Quỳnh
chỉ làm
nhiệm vụ
của một
nhà cai
trị của
triều
đ́nh Huế
dưới
quyền
Vua Bảo
Đại.
Không có
tài liệu
hay nhân
chứng
nào cho
thấy ông
có những
hoạt
động
liên hệ
đến một
đảng
phái hay
phe nhóm
nào.
Những
tháng
đầu năm
1945
t́nh
h́nh
Việt Nam
có những
biến
chuyển
lớn khi
Nhật đảo
chính
Pháp,
lật đổ
chế độ
thuộc
địa ở
Đông
Dương
ngày
9/3/1945
và tuyên
bố trả
độc lập
cho ba
nước
Việt,
Miên,
Lào trên
bán đảo
này để
gia nhập
khối Đại
Đông Á
do Nhật
đứng đầu.
Theo hồi
kư “Con
Rồng
Việt
Nam” của
Bảo Đại,
ngày
11/3/1945
Vua Bảo
Đại và
Thượng
thư Bộ
Lại Phạm
Quỳnh đă
cùng
toàn thể
thượng
thư nội
các Nam
triều kư
vào bản
“Tuyên
ngôn độc
lập” do
Phạm
Quỳnh
soạn
thảo,
hủy bỏ
tất cả
các hiệp
ước
Pháp-Việt
trước đó.
Một tuần
sau,
ngày
19/3,
nội các
Nam
triều từ
chức.
Vua Bảo
Đại giao
cho Học
giả Trần
Trọng
Kim lập
chính
phủ Việt
Nam độc
lập đầu
tiên để
hợp tác
với Nhật
sau khi
tham
khảo ư
kiến
nhiều
người.
Phạm
Quỳnh
không
giữ chức
vụ ǵ
trong
nội các
mới và
trở về ở
tại tư
thất Hoa
Đường
nằm trên
bờ sông
An Cựu,
Huế.
Chính
tại ngôi
biệt thự
này, ông
đă bị
Việt
Minh bắt
và đưa
đi thủ
tiêu.
Trước đó,
Đảng
CSVN do
Hồ Chí
Minh
đứng đầu
núp dưới
tên Mặt
Trận
Việt
Minh đă
lợi dụng
khoảng
trống
quyền
lực sau
khi Nhật
đầu hàng
(14/ 8)
và chính
phủ Trần
Trọng
Kim tê
liệt,
cướp
chính
quyền
tại Hà
Nội ngày
19/8/1945,
và đ̣i
Vua Bảo
Đại
thoái vị.
Tuy đă
đầu hàng
nhưng
quân đội
Nhật tại
Việt Nam
chưa bị
giải
giới,
c̣n
nguyên
sức mạnh
và có
thể dẹp
tan cuộc
đảo
chính
của Việt
Minh với
lực
lượng vũ
trang
thô sơ,
nhưng
Vua Bảo
Đại đă
không
chấp
nhận đề
nghị của
viên đại
sứ Nhật
tại Huế
v́ sợ
gây nội
chiến.
Do đó,
nội các
Trần
Trọng
Kim
tuyên bố
giải tán
sau khi
họp
phiên
cuối
cùng
ngày
23/8/1945.
Hai ngày
sau,
25/8,
Vua Bảo
Đại ra
chiếu
thoái vị
và ngày
30/8
trao
quốc ấn
và bảo
kiếm cho
phái
đoàn đại
diện
Việt
Minh do
Trần Huy
Liệu cầm
đầu tại
cửa Ngọ
Môn, và
tuyên bố:
“Thà làm
dân một
nước độc
lập c̣n
hơn làm
vua một
nước nô
lệ.”
Câu nói
hay đẹp
ấy không
biết ai
mớm cho
nhà vua
thiếu
trách
nhiệm
với đất
nước đă
hợp pháp
hóa
chính
quyền
Việt
Minh do
cộng sản
cầm đầu
chẳng
khác nào
“giao
trứng
cho ác”,
trong
lúc
những
người
quốc gia
yêu nước
bị ruồng
bố và
tàn sát.
Trong đó
có Phạm
Quỳnh,
cựu
Thượng
thư Bộ
Lại của
triều
đ́nh Bảo
Đại.
Dựa theo
những
nguồn
tin xác
thực,
nhà viết
sử Trần
Gia
Phụng
thuật
lại như
sau
trong
bài
“Trường
hợp Phạm
Quỳnh”:
“Trong
khi đó,
lấy cớ
t́m kiếm
vũ khí
c̣n tàng
trữ tại
nhà các
vị có
chức
quyền
trước
đây,
Việt
Minh cho
người
lục soát
biệt thự
‘Hoa
Đường’
ngày
23-8-1945.
Tuy
không
t́m được
ǵ, họ
vẫn
‘mời’
Phạm
Quỳnh và
người
con rể
là
Nguyễn
Tiến
Lăng đi
‘họp’
với Ủy
ban cách
mạng
Trung Bộ
đóng ở
ṭa Khâm
sứ Pháp
cũ. Đây
là thủ
thuật
bắt
người
của
chính
quyền
cộng sản
rất mới
lạ lúc
đó, và
rất quen
thuộc
với
người
Việt Nam
sau này.
Có lẽ
cần chú
ư việc
Phạm
Quỳnh về
trí sĩ
mà không
pḥng
thân,
hoặc
không lo
t́m
đường mà
trốn
tránh,
ngay cả
sau khi
Việt
Minh đảo
chánh,
chứng tỏ
bản thân
Phạm
Quỳnh
nghĩ
rằng ông
chẳng
phải là
tay sai
của Pháp
để phản
dân hại
nước, và
ông cũng
chẳng
theo một
đảng
phái
chính
trị nào,
nên chi
có ǵ
phải sợ
đề pḥng.
Nếu quả
thật ông
là tay
sai của
Pháp th́
ông đă
cao bay
xa chạy,
và Việt
Minh
không dễ
bắt được
ông như
vậy.
“Nguyễn
Tiến
Lăng bị
giam
riêng,
không
cùng chỗ
với nhạc
gia. Ông
Lăng và
gia đ́nh
không
biết tin
tức ǵ
của Phạm
Quỳnh,
cho đến
những
ngày
Việt
Minh sửa
soạn đưa
ông Lăng
ra ṭa,
nhóm họp
tại Điện
Thái Ḥa
vào
khoảng
đầu năm
1946,
th́ báo
chí Việt
Minh
công bố
rằng ông
Phạm
Quỳnh,
cùng ông
Ngô Đ́nh
Khôi và
con trai
trưởng
đang làm
thông
ngôn cho
Nhật là
Ngô Đ́nh
Huân, đă
bị xử tử
h́nh,
nhưng
không
cho biết
ngày giờ
các ông
bị giết,
cũng như
đă chôn
các ông
ở đâu.
Về sau,
gia đ́nh
mới được
biết
Phạm
Quỳnh đă
bị giết
ngày
6-9-1945
tại vùng
cách Huế
khoảng
20 cây
số. Có
lẽ cần
ghi nhận
thêm lúc
bấy giờ,
chủ tịch
Ủy ban
khởi
nghĩa
của
phong
trào
Việt
Minh ở
Huế là
Tố Hữu.”
Tiếp xúc
với
người
viết tại
nhà ông
ngày
18/7/2007,
ông Phạm
Tuân xác
nhận
những
điều
trên đây
và nhấn
mạnh di
cốt của
thân phụ
ông
không
c̣n đầy
đủ, sọ
bị nứt
một
đường
dài, và
chỉ nhận
ra được
do cặp
kính cận
găy gọng.
Trong
cuốn
“Hồi kư
người
lính già”,
Đại tá (CSVN)
Đặng Văn
Việt có
nói đến
việc ông
Phạm
Quỳnh đă
bị bắt
và giết
như thế
nào,
nhưng
cũng chỉ
nói một
nửa sự
thật,
phần sự
thật
được cho
phép nói.
Nhưng
“ṭa”
nào đă
xử và
kết tội
ông Phạm
Quỳnh?
Những ai
ngồi xử
và diễn
ra tại
đâu?
Ngày nào?
Hay, ai
đă ra
lệnh
giết
Phạm
Quỳnh?
Ông Trần
Gia
Phụng
lưu ư
người
đọc:
“Phạm
Quỳnh bị
bắt ngày
23-8-1945,
và bị
giết
ngày
6-9,
nghĩa là
ông
không bi
nhóm
Việt
Minh địa
phương
Huế giết
liền khi
họ nổi
dậy. Ông
bị giam
giữ một
thời
gian rồi
mới bị
giết sau
khi nhóm
Trần Huy
Liệu đến
Huế dự
lễ thoái
vị của
Vua Bảo
Đại. Khi
có sự
hiện
diện của
đại diện
trung
ương,
các cán
bộ Việt
Minh địa
phương
không
dám tự
tiện ra
tay, mà
chắc
chắn
phải có
ư kiến
của
trung
ương.
Nhóm
Trần Huy
Liệu
cũng
không
thể tự
quyết
định
được
việc này.
Như vậy
phải
chăng
chính
nhóm
Trần Huy
Liệu đă
đem lệnh
từ Hà
Nội vào
Huế giết
Phạm
Quỳnh?
Và lệnh
đó từ
đâu, nếu
không
phải là
từ Hồ
Chí
Minh?”
Theo hồi
kư viết
năm 1992
của bà
Phạm Thị
Thức,
người
con gái
của Phạm
Quỳnh,
sau khi
Phạm
Quỳnh bị
giết, bà
cùng
người
chị là
Phạm Thị
Giá đă
ra Hà
Nội gặp
Hồ Chí
Minh qua
sự giúp
đỡ của
người
cận vệ
của ông
ta là
ông Vũ
Đ́nh
Huỳnh.
Bà Thức
cho biết
Hồ Chí
Minh
chối,
không
nhận đă
ra lệnh
giết
Phạm
Quỳnh và
đổ tội
cho cán
bộ địa
phương.
Họ Hồ
bảo:
“Hồi ấy
tôi chưa
về... Và
trong
thời kỳ
khởi
nghĩa
quá độ
và có
thể có
nhiều
sai sót
đáng
tiếc.”
Sự
thật ra
sao?
Nếu ngày
6/9/1945
Hồ Chí
Minh
“chưa về”
th́ ai
đọc
“tuyên
ngôn độc
lập” tại
Hà Nội
ngày
2/9/1945?
Ai ra
lệnh cho
bộ máy
tuyên
truyền
của nhà
nước
cộng sản
trong
nhiều
năm trời
sau đó
vu cáo
Phạm
Quỳnh là
“Việt
gian”,
tay sai
thực dân
Pháp, và
bôi xóa
tên Phạm
Quỳnh
trong
văn học
sử Việt
Nam?
Nếu Phạm
Quỳnh
chỉ là
nạn nhân
của
“nhiều
sai sót
đáng
tiếc”
th́ Tố
Hữu, kẻ
nắm chức
chủ tịch
Ủy ban
khởi
nghĩa
của Việt
Minh ở
Huế lúc
giết
Phạm
Quỳnh
không
thể
thăng
tiến đều
đều trên
nấc
thang
đảng
CSVN để
sau này
lên đến
phó thủ
tướng.
V́ vậy,
câu trả
lời của
Hồ Chí
Minh chỉ
là một
lời nói
dối sống
sượng.
Nó c̣n
cho thấy
thái độ
coi mạng
người
như cỏ
rác của
kẻ cầm
đầu Đảng
CSVN,
xem việc
giết
người
chỉ là
“sai sót
đáng
tiếc”,
rồi thôi,
không
điều tra,
không
trừng
phạt kẻ
có tội,
không
phục hồi
danh dự
và bồi
thường
cho nạn
nhân.
Không
khác nào
chuyện
bắt của
dân con
gà, con
vịt.
Thật ra,
Phạm
Quỳnh
không
phải là
nạn nhân
của
“nhiều
sai sót
đáng
tiếc...
trong
thời kỳ
khởi
nghĩa
quá độ”.
Ông đă
là một
trong
hơn một
triệu
nạn nhân
của
chính
sách tàn
bạo được
hoạch
định từ
cấp cao
nhất của
Đảng
Cộng sản
Việt
Nam.
Trong
bản danh
sách đen
ấy, có
lẽ Phạm
Quỳnh đă
được xếp
hạng “ưu
tiên” v́
những lư
do đặc
biệt.
Mặc dù
không có
hành
động nào
chống
lại Việt
Minh lúc
ấy, Phạm
Quỳnh
được coi
là mối
nguy cho
chính
quyền
non yếu
của Hồ
Chí Minh
trong
giai
đoạn sơ
khai v́
ông đang
là người
có uy
tín rất
lớn với
mọi giới
trong xă
hội Việt
Nam, lại
có tài
năng
lănh đạo
và cai
trị mà
Hồ Chí
Minh
biết rơ
điều ấy
do thành
tích của
ông và
qua sự
giao
tiếp cá
nhân như
đă nói ở
phần
trên. Và
điều
quan
trọng
hơn cả,
cũng qua
giao
tiếp cá
nhân, Hồ
Chí Minh
biết rơ
Phạm
Quỳnh
không
chấp
nhận chủ
nghĩa
cộng sản
và không
thể
khuyến
dụ.
Khi bị
giết,
Phạm
Quỳnh
mới 53
tuổi -
cái tuổi
chín mùi
của tài
năng,
sung măn
sinh lực
và già
dặn kinh
nghiệm.
Đó là lư
do v́
sao Hồ
Chí Minh
không
giết Vua
Bảo Đại
mà lại
giết cựu
Thượng
thư Phạm
Quỳnh.
Trong
cuộc
“cách
mạng
tháng
mười”
năm 1917
tại Nga,
bọn cộng
sản
Bôn-sê-vích,
đàn anh
và đồng
chí của
Hồ Chí
Minh,
không
chỉ giết
Sa Hoàng
Nicolai
II mà
c̣n tàn
sát cả
gia tộc
vua,
giết
luôn cả
tôi tớ
của
hoàng
gia.
Dưới mắt
Hồ Chí
Minh,
Bảo Đại
là một
kẻ vô
hại, dù
đang làm
vua
nhưng
chỉ ngồi
làm v́
trên
ngai
vàng,
không có
tài năng
ǵ và
chỉ
thích ăn
chơi,
nhu
nhược,
không
thể lănh
đạo một
lực
lượng
đối
nghịch
nào
chống
lại cộng
sản.
Nhưng,
Phạm
Quỳnh
th́ có
thể bất
cứ lúc
nào trở
thành
một kẻ
thù nguy
hiểm. Hồ
Chí Minh
đă nhận
xét
không
sai về
Vua Bảo
Đại. Sau
khi
thoái vị,
trao
quyền
cho Hồ
Chí
Minh,
công dân
Vĩnh
Thụy vui
vẻ nhận
chức “cố
vấn tối
cao” và
đi Hong
Kong
nghỉ mát.
Với Phạm
Quỳnh,
Hồ Chí
Minh c̣n
có một
lư do
thầm kín
khác để
cần phải
trừ khử.
Hồ Chí
Minh tự
biết
thua kém
Phạm
Quỳnh về
mọi mặt,
và ngược
lại,
Phạm
Quỳnh
cũng
biết rơ
quá khứ
u ám của
Hồ Chí
Minh, kẻ
tự nhận
là
Nguyễn
Ái Quốc.
Hồ Chí
Minh
cùng lứa
tuổi với
Phạm
Quỳnh,
khi gặp
nhau tại
Pháp năm
1922 cả
hai cùng
khoảng
30. Khi
ấy, Phạm
Quỳnh đă
là một
học giả
lẫy lừng,
một nhà
báo nổi
tiếng,
“hoạn lộ”
thênh
thang,
sang
Pháp
cùng với
Vua Khải
Định dự
Hội chợ
Marseille,
và được
mời diễn
thuyết
tại
Trường
Thuộc
địa
Paris (École
Coloniale)
- chính
cái
trường
mà năm
1911, Hồ
Chí Minh
dưới tên
Nguyễn
Tất
Thành đă
viết đơn
cho tổng
thống
Pháp xin
đặc ân
theo học
nhưng bị
từ chối
(trong
đơn này,
HCM khai
là sinh
năm
1892,
cùng năm
sinh với
Phạm
Quỳnh).
Cho tới
lúc gặp
Phạm
Quỳnh,
Hồ Chí
Minh
không có
nghề
nghiệp
ổn định,
không có
tên tuổi
nhất
định, lư
lịch mù
mờ, và
đă gia
nhập
Đảng
Cộng sản
Pháp
được vài
năm,
hoàn
toàn vô
danh
trong xă
hội Việt
Nam.
Là một
cán bộ
cộng sản,
Hồ Chí
Minh
không
thể
không
biết tài
năng và
lập
trường
chính
trị của
Phạm
Quỳnh,
nhất là
sau mấy
lần gặp
gỡ ở
Paris.
V́ vậy,
khi cướp
được
chính
quyền
năm
1945, Hồ
Chí Minh
đă ra
tay trừ
khử Phạm
Quỳnh.
Phạm
Quỳnh
cũng
không
phải
“chỉ là
nạn nhân
của một
chế độ
buổi
giao
thời hỗn
loạn”
như có
người
nói. Ông
đă là
nạn nhân
tất yếu
của
chính
sách đẫm
máu của
người
cộng sản
được thi
hành một
cách có
kế hoạch,
có hệ
thống.
Phạm
Quỳnh và
những
nạn nhân
khác đă
chết v́
đứng ở
thế đối
kháng
với cộng
sản, dù
không,
hay chưa
có hành
động ǵ
tích cực.
Họ cần
được tôn
vinh,
chứ
không
cần được
“giải
oan” v́
họ đă
không bi
xét xử
và kết
tội bởi
một ṭa
án nhân
danh
công lư.
Họ đă bị
thủ tiêu
một cách
mờ ám và
phi pháp
trong
bóng tối
mà chính
kẻ cầm
đầu chế
độ cũng
không
dám nhận
trách
nhiệm.
Chế độ
bất
lương ấy
càng
không có
tư cách
để “giải
oan” cho
những
nạn nhân
của nó,
mà chính
chế độ
ấy cần
phải bị
lên án
và kết
tội.
Trong lễ
khánh
thành
Đài
Tưởng
Niệm hơn
100
triệu
nạn nhân
cộng sản
trên thế
giới tại
Washington
DC ngày
12/6 vừa
qua,
Tổng
Giám Mục
Pietro
Sambi
nói rằng:
“Hàng
triệu
người đă
bị cộng
sản giết
hại.
Chúng ta
không
biết mặt
họ,
không
biết tên
tuổi họ,
nhưng
Thượng
đế biết.”
Có lẽ
cần thêm:
“Và
Thượng
đế biết
những kẻ
đă giết
họ.”
Những
nạn nhân
ấy đ̣i
hỏi Công
Lư, chứ
không
xin được
giải oan.
Công lư
không
chỉ cần
cho
người
sống,
nhưng
cũng cần
cho
những
người đă
bị giết
chết như
những
con vật
không
phương
thế tự
vệ.
Không có
Công lư,
khi kẻ
giết một
người
th́ bị
trừng
phạt, có
khi phải
đền mạng,
c̣n kẻ
giết
hàng
triệu
người
lại được
đúc
tượng,
xây lăng,
ướp xác. |