Phan Bội Châu:
nhà chánh trị và nhà văn là một


Trần Văn Chi

Ở xứ Trung Kỳ vào cuối thế kỷ XIX đă sản sanh ra hai nhơn vật họ Phan kiệt xuất: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Cả hai đều là nhà nho khoa bảng xuất dương hoạt động chống Pháp.

Ở trường hợp Phan Bội Châu, ngoài là nhà chánh trị, ông c̣n là nhà văn kiên quyết “đánh (Pháp) bằng lưỡi, đánh bằng óc, đánh bằng bút” nữa, thay v́ chỉ “đánh bằng kiếm”.

1- Phan Bội Châu (1867-1940), tục danh là San, tự là Hải Thu, bút hiệu là Sào Nam và c̣n nhiều bút hiệu khác nữa. Biệt hiệu là Phan Thị Hán, kư dưới tác phẩm “Thiên Hồ! Đế Hồ!” phổ biến năm 1923 tại Thượng Hải Trung Quốc.

Trong phiếu “Surété Générale”, Toàn Quyền Đông Dương ghi cụ sanh năm 1868, biệt danh Phan Đ́nh Sang, Sào Nam Tử, Vơ Lang, Trần Bá Hoa, Phan Đinh Hân.

Cha tôi là Phan Văn Phổ tiên sinh, mẹ tôi là Nguyễn Thị Nhàn nữ sĩ, về triều Nguyễn nước ta. Năm thứ 20 hiệu Tự Đức, năm Đinh Măo, Tháng Mười Hai (1867), sinh tôi ở làng Sa Nam, xă Đôn Liệt, tỉnh Nghệ An, một làng ở dưới núi Hùng trên sông Lam, nguyên làng mẹ tôi.

Nhà tôi đời nghiệp đọc sách. Từ vào Nguyễn triều, chỉ là một nhà thanh hàn. Sau ngày ông tôi mất, nhà càng ngày suy lạc, may cha tôi là một người thông Nho, ruộng nghiên cày bút, sinh nhai cũng vừa đủ xong. Cha tôi 30 tuổi mới đưa mẹ tôi về, đến năm cha tôi 36 tuổi sanh tôi. Chính giữa năm sanh tôi, nước ta mất Nam Kỳ đă 5 năm rồi. Một tiếng khóc oe oe, đă như cảnh cáo cho rằng: “Mày đă sắm sửa làm người vong quốc !” (trích ‘Phan Bội Châu Tự Phán’)

Thuở nhỏ, Phan Bội Châu nổi tiếng thông minh, 6 tuổi thuộc hết sách Tam Tự Kinh, 7 tuổi hiểu kinh truyện, 8 tuổi thông thạo loại văn cử tử, 16 tuổi đậu đầu sơ hạch ở tỉnh nên gọi la đầu xứ San.

Sớm biểu lộ là người có ḷng yêu nước và khí phách hơn người. Kinh thành Huế thất thủ (1 giờ sáng ngày 5 Tháng Bảy năm 1885) vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, đến Quảng B́nh xuống chiếu kêu gọi Cần Vương; Phan Bội Châu lúc ấy 19 tuổi, tích cực hưởng ứng. Ông lập đội quân sĩ tử, đề cờ “Sĩ Tử Cần Vương” nhưng chưa kịp làm ǵ th́ Tây kéo đến Nghệ An.

Thân hào địa phương phụng chiếu Hàm Nghi nổi lên mọi nơi, “dân binh như quạ nhóm, trương bụng đỡ đạn”, một dạ với vua! Phan cảm kích và kính trọng những con người đại nghĩa.

Đội “Sĩ Tử Cần Vương” giải tán, Phan Bội Châu rút ra bài học cho chính ḿnh: “Thành giá chưa cao, cánh lông chưa đủ mà, muốn những điều ḿnh mộng tưởng hiện ra được ở rày mai, lời nói trống c̣n không ai nghe, huống thực hành được ư?” (sách đă dẫn).

Từ đó, sau khi mẹ mất, gia cảnh khó khăn, Phan Bội Châu dạy học mưu sinh, t́m cách kết giao đây đó với anh hùng hào kiệt. Năm 31 tuổi (năm 1900) đậu thủ khoa kỳ thi Hương tại trường Nghệ.

Và kể từ đây Phan Bội Châu dấn thân vào con đường hoạt động chánh trị, nhiều lần vào tù, cuối cùng bị Pháp cho an trí, giam lỏng tại Huế.

Những ngày cuối đời, cụ sống trong căn nhà nhỏ tại xóm Bến Ngự, bên bờ sông Hương, với bao nỗi sầu ưu uất. Ông được người dân miền Trung gọi với cái tên thân thương là “Ông già Bến Ngự”.

Phan Bội Châu mất tại Huế ngày 29 Tháng Mười năm 1940, thọ 74 tuổi, để lại sự nghiệp văn chương đồ sộ, với đủ thể loại, bằng chữ Hán lẫn chữ Quốc Ngữ.

2 - Khi Phan Bội Châu sanh ra th́ đất Nam Kỳ đă bị mất về tay Pháp rồi. Lớn lên, chưa đầy 18 tuổi, kinh thành Huế thất thủ, Phan Bội Châu cảm cảnh vua Hàm Nghi bôn tẩu ra Tân Sở, Cam Lộ, Quảng Trị, ban chiếu Cần Vương tại cổ thành Quảng Trị.

Thành cổ Quảng Trị là một thành lũy quân sự do Gia Long cho đắp bằng đất năm 1809 ở huyện Đăng Xương, dinh Quảng Trị bấy giờ, nhằm bảo vệ mặt Bắc kinh đô Huế.

Đến Minh Mạng, năm 1837 thành xây lại mới bằng gạch theo kiến trúc kiểu Vauban, h́nh vuông, bốn góc có bốn pháo đài nhô ra. Châu vi 2160 m, tường cao 4m, chân tường dày 12m, bên trên tường dày 0,65m; 4 cửa ra vào có xây vọng gác lầu mái cong, quanh thành có hào sâu 3,2m, rông 18,40m.

Thành được thiết kế bên trong như thành Gia Định gồm Hành Cung, Cột Cờ, dinh Tuần Vũ, Án Sát, Lănh Binh, kho, nhà lính...

Pháp chiếm Trung Kỳ lấy làm nhà giam, đến năm 1939 cho xây thêm nhà giam dưới hầm kiên cố.

Năm 1972 cổ thành Quảng Trị chứng kiến cuộc giao tranh khốc liệt của quân hai miền Nam Bắc!

(Theo tài liệu ‘Thành Cổ Quảng Trị’)

Đến khi Phan Bội Châu đậu thủ khoa trường Nghệ th́ nền Hán học đi vào thoái trào!

Bởi năm 1906 Toàn Quyền Paul Beau đă thiết lập nền giáo dục Tân học trên toàn nước, chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp thay thế chữ Hán, học tṛ học lịch sử Lang Sa!

Paul Beau bắt giam những nhà chủ trương và giải tán Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cho lập đại học đầu tiên ở Hà Nội mặc dầu đến năm 1917 mới chánh thức hoạt động.

Cụ Phan Bội Châu làm ǵ trước cảnh t́nh nước nhà như thế?

Vốn tư chất hiếu động, có tấm ḷng yêu nước, với cái sở học chữ Hán, cụ sớm tiếp nhận tư tưởng dân chủ, dân quyền của Tây phương qua các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khương Hữu Vi bằng chữ Hán truyền từ Trung Quốc vào.

Năm 1904, Phan Bội Châu lập Duy Tân Hội, tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ, chủ trương dựa vào ngoại viện để khôi phục độc lập xứ sở bằng đường lối bao động.

Bí mật xuất dương sang Nhựt năm 1905, gặp được nhà cách mạng Trung Hoa Lương Khải Siêu và kết giao với nhiều nhà yêu nước Nhựt. Tập “Việt Nam vong quốc sử” được cụ viết thời gian này để vận động ngoại quốc, cho họ hiểu biết hoàn cảnh Việt Nam.

- Từ 1905 đến 1908, kể từ sau khi từ Nhựt về, phong trào Đông Du nổi lên cả nước. Cụ vào Nam ra Bắc vận động thanh niên đông du để t́m học cái mới, để nâng cao dân trí, cho người ḿnh tự tin hơn trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Có 200 thanh niên được cụ cưu mang, d́u dắt theo học ở Nhựt Bổn trong thời gian này.

Cụ c̣n lập Đông Á Đồng Minh Hội kết hợp những người yêu nước Trung Hoa, Nhựt, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam thành mặt trận chống thực dân.

Đây là sáng kiến hiếm thấy trong thời đại Phan Bội Châu.

- Tháng Ba năm 1909 dưới áp lực của Pháp, Nhựt giải tán tổ chức Đông Du, cụ bi trục xuất nên phải chạy sang Trung Hoa hoạt đông.

Tại đây cụ lập tổ chức chánh trị Việt Nam Quang Phục Hội, mục đích xây dựng nước “Cộng Ḥa Dân Quốc Việt Nam”. Từ phong trào Đông Du đến Việt Nam Quang Phục Hội, Cộng Ḥa Dân Quốc Việt Nam, cho thấy cụ Phan Bội Châu đă đoạt tuyệt với quân chủ.

Phan Bội Châu là nhà Nho cách mạng, nhạy bén, thông hiểu t́nh h́nh thế giới hiếm hoi thời bấy giờ.

- Ngày 24 Tháng Mười Hai năm 1913 cụ bị quân phiệt Tàu bắt giam cho đến sau Thế Chiến Thứ I, năm 1917, cụ mới được ra tù.

Trong giai đoạn này, Phan Bội Châu làm báo mưu sinh vừa dùng ng̣i bút chống Pháp. Ảnh hưởng bởi Tôn Dật Tiên cụ cải tổ Việt Nam Quang Phuc Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng, một tổ chức mang tánh chánh trị cao so với Việt Nam Quang Phục Hội.

Tháng Mười Hai năm 1924, ông Hồ Chí Minh có tiếp xúc và vận động cụ cải tổ Việt Nam Quốc Dân Đảng theo hướng (tiến bộ) gần với Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, như trường hợp của tổ chức Tâm Tâm Xă. Bấy giờ, những ngươi có liên lạc, chịu trách nhiệm tiếp đón thăm nom nhằm thuyết phục cụ có Hồ Tùng Mậu, Vương Thúc Oánh, Lâm Đức Thụ (Lâm sau này bị chết ở Thái B́nh năm 1949).

Trong tài liệu tự thuật, viết bởi Vương Thúc Oánh, phổ biến ở Hà Nội năm 1962 có nhắc lời ông Hồ Chí Minh nói, “Cụ Phan ái quốc thật, nhưng người quá già, đầu óc rất khó hấp thụ những trào lưu tư tưởng mới. Cụ lại quá thành thực, dễ tin người...”

- Năm 1925 trên đường từ Hàng Châu đi về Quảng Châu vừa đến ga Bắc ở Thượng Hải, cụ bị mật thám Pháp bắt cóc. “12 giờ chính trưa ngày 11 Tháng Năm Âm Lịch (1925), xe lửa Hàng Châu đi đến trạm Bắc trạm... Tôi mới ra khỏi ga vài bước th́ thấy có một người Tây hung dữ lại trước mặt tôi... Th́nh ĺnh 3 người Tây nữa ở sau xe, hết sức đẩy tôi lên xe, máy xe tức khắc vặn th́ tôi đă vào tô giới Pháp! Xe chạy đến bờ bể, binh thuyền nước Pháp đă chực sẵn ở đó rồi! Tôi thành ra người tù ở trong tàu binh.”( sách đă dẫn).

Bấy giờ, hầu như tất cả những người cách mạng Việt Nam lưu vong ở Trung Hoa đều tập trung tại Quảng Châu thủ phủ tỉnh Quảng Đông, biên giới Việt Nam. Có một số ít hoạt dộng ở Hàng Châu và Hồng Kông.

Tất cả độ 200 người đều biết cụ Phan đang ở Hàng Châu.

Pháp đưa cụ về Hà Nội, kêu án tử h́nh trong phiên ṭa ngày 23 Tháng Mười Một, 1925. Bị áp lực mạnh mẽ của dân chúng qua phong trào đ́nh công, băi khóa, băi thị... nổi lên khắp nước, Pháp phải băi bỏ án tử h́nh, ân xá và đưa cụ Phan đi an trí tại Huế.

Phan Bội Châu trở thành người anh hùng dân tộc dưới con mắt của 20 triệu người nô lệ Việt Nam.

3 - Trong 80 năm bị đô hộ, biết bao nhiêu người dân Việt nổi lên chống Pháp. Trường hợp Phan Bội Châu là người viết văn, viết báo, sáng tác nhiều nhứt.

Cụ để lại trên 800 bài thơ Nôm, nhiều bài phú, văn tế, tạp bút. tạp văn, tiểu luận... Tác phẩm của cụ ước lượng chừng cả 100, phần lớn được sáng tác trong thời gian 20 năm sống lưu vong, nên đă bị thất lạc!

Nội dung đa dạng gồm từ lịch sử, nghiên cứu Phật Giáo, Khổng Giáo, viết về quân sự (làm báo quân sự cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa), viết chánh luận, làm thơ tiêu dao (lúc ở Huế), v.v.

Khi Phan Bội Châu xuất dương ra hải ngoại th́ chữ quốc ngữ mới bắt đầu phát triển, cụ tự học để dịch chính các tác phẩm chữ Hán của ḿnh. Cụ viết thơ kêu gọi người Việt sống ở Thái Lan, viết báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng ở Huế bằng chữ Quốc Ngữ.

Một số tác phẩm tiêu biểu của cụ c̣n được biết tới nay như: Việt Nam Vong Quốc Sử, Hải Ngoại Huyết Thư, Ái Quốc Ca, Trùng Quang Tâm Sự, Thiên Hồ! Đế Hồ, Nam Nữ Quốc Dân Tu Trí, Bài Thuốc Chữa Bịnh Dân Nghèo, Cao Đẳng Quốc Dân, Luân Lư Vấn Đáp, Lời Hỏi Thanh Niên, v.v., Ở bất cứ thể loại nào, cụ Phan luôn khai thác các mặt tích cực của đề tài để vân động chống Pháp.

Phan Bội Châu là người kế thừa sự nghiệp của Trần Thái Tông “Văn bút tảo thiên quân chi trận”, thơ văn có thể đánh bại ngàn quân giặc ngoài trận. Nên thơ văn Phan Bội Châu là khát vọng của chính ông và cũng là của dân tộc Việt Nam thời bấy giờ.

Cuộc đời của Phan bội Châu, như trong lời cụ tự phán, hoàn toàn là “thất bại”, cũng như sự thất bại của đất nước chúng ta trong giai đoạn bấy giờ! Phan Bội Châu là nhà cách mạng, không thể lấy thành bại mà luận anh hùng.

Cả đời hoạt động cống hiến cho đất nước cùng sự nghiệp văn chương của Phan Bội Châu là tấm gương sáng cho hậu thế.

Phan Bội Châu là anh hùng dân tộc, đánh giặc bằng chánh trị và văn chương.

tranvanchi@earthlink.net