Tưởng Niệm Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng,
Một Danh Tướng
của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
Phan Đức Minh, Jan 24, 2007
A/- Đột ḍng suy nghĩ:
Viết xong những loạt bài cho Báo Xuân phát hành ở nhiều nơi, báo in cũng như báo
“online” nhiều nơi xa gần, trong và ngoài Hoa Kỳ, tôi đă định nghỉ xả hơi 1 thời
gian v́ tuổi đă cao (76, cộng thêm trên 12 năm đi tù cải tạo tại nhiều vùng rừng
núi âm u, kinh hoàng, bây giờ mới thấy hậu quả của nó ghê gớm, mà mấy tay Bác Sĩ
Mỹ cũng như Việt quen thuộc thường nói đùa là Ông hay Bác coi như ... 76 + 12 là
88 tuổi, sức khỏe như thế này là tốt quá rồi ). Vậy mà vừa đọc tin trên “ Net “,
check e-mail thấy bạn bè, báo “ online “ loan báo cựu Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng vừa mới qua đời.
Tôi thật bất ngờ và xúc động v́ tôi từng sống rất gần, hiểu khá nhiều về vị
Tướng này, đă 2 lần được tiếp chuyện với ông trong t́nh “ huynh đệ chi binh “,
và tôi rất kính trọng, khâm phục ông về nhiều điểm.
Lần gặp và nói chuyện đầu tiên với vị Tướng này là chuyện : Trung Tá Nguyễn Minh
Đ., 1 Sĩ Quan rất giỏi, can trường, xuất thân trường Vơ Bị Đà Lạt, từng làm
Trung Đoàn Trưởng (Regiment commander) đánh giặc gan ĺ, lên lon từ Thiếu Úy tới
Trung Tá hầu hết tại mặt trận, được ân thưởng 2 Bảo Quốc Huân Chương (Đệ Ngũ và
Đệ Tứ đẳng) với nhành Dương Liễu, rồi làm Quận Trưởng Quận Thăng B́nh , tỉnh
Quảng Ngăi là nơi Việt Cộng đánh phá ghê gớm th́ ông ra sức b́nh định lănh thổ
chịu trách nhiệm . Có khi ông đi hành quân không giống ai: xin pháo binh sẵn
sàng yểm trợ, rồi ông và lính mang súng đạn, dùng xe gắn máy tiến vào những làng
hẻo lánh, xa xôi mà tin t́nh báo cho hay có những đơn vị không lớn của địch về
đây lấy lương thực, tuyển quân vv... quân xa của ta không vào được, ông Trung Tá
Đ. vẫn đem lính vào để đánh địch và bắt sống hay tiêu diệt địch nhiều phen, nhờ
ông đă có công xây dựng cơ sở, dân chúng tin tưởng và hợp tác với ông, với quân
đội Cộng Ḥa. Ấy vậy mà ông Trung Tá này lại giống ngài Tổng Thống họ Nguyễn hồi
đó, y như Trung Tướng Hoàng Xuân L. và vài Tướng Lănh, Sĩ Quan cao cấp khác rất
cả tin vào cái vụ... tướng số, tử vi để đến nỗi bị truy tố ra Ṭa Án Quân Sự Mặt
Trận Quân Khu I – Vùng I Chiến Thuật, về tội “ Đào ngũ – Desertion “ mới chết
chớ.
V́ tin vào ông Thầy tướng số mà ông Trung Tá lại né 1 cuộc hành quân cỡ lớn,
trong đó có Trung Đoàn của ông tham dự,ï để vào Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng nằm
nghỉ chữa bệnh ít ngày, nhưng không làm đúng thủ tục hành chánh khi nhập viện .
Ông Thầy Tướng số nói : “ ông đi hành quân chuyến này không chết cũng ...bị
thương nặng... “. Đánh giặc hoài hoài, anh dũng, can trường hàng chục năm liên
tục, không biết sợ cái chết mà bữa nay lại tin lời ông Thầy Tướng Số để né trận
này, thật đáng ... đánh đ̣n.
Trung Tướng Trưởng cần Trung Tá Đ. để đưa vào phái đoàn 4 bên Quốc Tế kiểm soát
đ́nh chiến tại khu vực trách nhiệm của ông. Tướng Trưởng gọi điện thoại về Sư
Đoàn th́ được báo cáo là ông Trung Tá đi nằm bệnh viện Duy Tân. C̣n đang phân
vân chọn người khác th́ chiếc xe Beaulieu, gắn bảng đỏ có 3 sao trắng, của Tướng
Trưởng chạy dọc 1 đường phố Đà Nẵng. Ông Tướng và Sĩ Quan tùy viên trông thấy rơ
ràng Trung Tá Đ. nhà ta đang đi thong dong trên đường phố, chẳng có chi là “
bệnh nhân “ cả. Thế là ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật ra
lệnh cho Đại Tá Tham Mưu Trưởng liên lạc hỏi Trung Tá Bác Sĩ Chỉ Huy Trưởng Tổng
Y Viện Duy Tân về vụ “ bệnh nhân cao cấp “ dạo chơi ngoài phố, rồi gọi điện
thoại sang Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Vùng I Chiến Thuật (Field Court
Martial of the Ist military zone & Ist Tactical Area) yêu cầu Trung Tá Ủy Viên
Chính Phủ tới văn pḥng Tư Lệnh Vùng có việc cần. Bữa đó Trung Tá Ủy Viên Chính
Phủ đi công tác, tôi là Phó “ Xử lư thường vụ – Interim “ nên vội lái xe Jeep
sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, tới Văn Pḥng Trung Tá Đức, chánh văn pḥng. Trung Tá
Đức mời tôi ngồi và nói: Trung Tướng vừa lái trực thăng đi kiểm soát bất thần 1
đơn vị ở xa, Thiếu Tá chờ cho ít phút.
Vài phút sau Trung Tá Đức sang gặp Tướng Trưởng rồi trở lại: Trung Tướng mời
Thiếu Tá sang. Tôi bước vào và chào Tướng Trưởng theo quân cách. Ông bắt tay rồi
mời tôi ngồi ngay chiếc ghế bên cạnh bàn làm việc của ông. Ông nói nhỏ nhẹ và
vắn tắt: Chắc Thiếu Tá đă rơ việc tôi cho gọi điện thoại mời Thiếu Tá sang đây?
– Tôi đáp : Thưa Trung Tướng tôi đă rơ. Tướng Trưởng nói tiếp: Tôi không bao giờ
can thiệp vào công việc chuyên môn của Ṭa Án, của Thiếu Tá, nhưng với tư cách
là Tư Lệnh 1 đại đơn vị, tôi chỉ mong muốn Thiếu Tá cũng như các anh em khác bên
Ṭa Án luôn luôn tích cực giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ đối với Quân Đội, giữ
vững kỷ luật Quân Đội v́ đó là sức mạnh của chúng ta nếu chúng ta muốn thắng
cộng sản. Một Ông Tướng đánh giặc giỏi, lừng danh mà ăn nói thật nhẹ nhàng, nhỏ
nhẹ, từ tốn đến mức dễ thương. Tôi đáp: Trung Tướng an tâm, chúng tôi sẽ hết sức
làm việc để góp sức xây dựng quân đội như Trung Tướng mong muốn. Sau vài câu
chuyện hỏi thăm về công việc, ông đứng dậy bắt tay tôi, tiễn vài bước ra phía
cửa rồi mới quay trở lại. Hôm xử vụ án Trung Tá Đ., bị can đào ngũ cao cấp nhất
từ ngày tôi làm việc ở đây, tôi ngồi ghế Công Tố Viên ( prosecutor ), Chánh Thẩm
( Chánh Án – Presiding judge ) là Ông Vơ Nhất Minh, Chánh Án Ṭa Sơ Thẩm Quảng
Nam – Đà Nẵng (được mời và bổ nhiệm bởi Liên Bộ Quốc Pḥng & Tư Pháp từng kỳ hạn
1 năm, c̣n Chánh Thẩm dự khuyết là 1 Đại Tá thuộc ngành Quân pháp chúng tôi),
Phụ Thẩm Đoàn là 4 Thẩm Phán quân sự (military judges) hầu hết là Luật Sư dân sự
trước khi động viên vào quân đội, hoặc là Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa
rồi thêm trung b́nh 3 năm tập sự để trở thành Thẩm Phán. Thành phần xét xử của
các Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận thuộc 4 Vùng chiến thuật là hùng hậu nhất, 5 Thẩm
Phán thực thụ, sau vụ xét xử Dân Biểu Quốc Hội Trần Ngọc Châu có liên lạc với
anh em ruột thịt là cán bộ cộng sản Trần Ngọc Hiền. Luật Sư của bị can nêu vấn
đề tổ chức Ṭa Án xét xử bị can phạm tội chính trị Trần Ngọc Châu là vi hiến v́
Hiến Pháp hồi đó quy định là trường hợp như trên, bị can phải được xét xử bởi
các Thẩm Phán chuyên nghiệp (chớ không có mời phụ thẩm nhân dân hay các Sĩ Quan
đang tại ngũ như Ṭa Án Quân Sự Thường trực (Permanent military court). Bốn Ṭa
Án loại này của Nam Việt Nam phải tạm thời ngưng họat động 6 tháng để sắp xếp
lại cơ cấu tổ chức. Theo bản cáo trạng, tôi lên tiếng buộc tội nghiêm khắc bị
can Trung Tá Đ., một Sĩ Quan thuộc hàng cao cấp, từng giữ những chức vụ chỉ huy
quan trọng, hiểu biết rơ ràng về quân kỷ, thủ tục hành chánh khi nhập bệnh viện,
đă cố t́nh trốn tránh trách nhiệm trong vụ này nên bị coi là can tội đào ngũ
trong thời chiến. Tôi yêu cầu Ṭa phạt thật nặng để làm gương cho các Sĩ Quan
khác. Tuy nhiên, tôi nói tiếp : Công tố viên là người bảo vệ Luật Pháp, truy tố
tội phạm, nhưng không có nghĩa là chỉ biết buộc tội bằng cách nh́n về một phía,
mà không biết nh́n sang phía khác với những công trạng, thành tích của 1 quân
nhân đă hàng chục năm chiến đấu anh dũng, chỉ huy tài giỏi, thành công to lớn
trong binh nghiệp, xin lưu ư Thẩm Phán Đoàn về những điều đó để quư vị tùy nghi
quyết định. Với 1 quân nhân, nhất là Sĩ Quan, có tội cần phải trừng phạt nặng để
làm gương cho cấp dưới, cho bạn đồng ngũ, nhưng Luật Pháp, Quân Đội không bao
giờ bỏ quên những quân nhân anh hùng, dám hi sinh thân ḿnh cho đại cuộc. Không
khí phiên Ṭa, xét xử duy nhất 1 bị can đào ngũ mang cấp bậc Trung Tá, thật là
căng thẳng. Luật Sư Vương Thị Thúy tiếp lời bào chữa cho bị can một cách rất
khôn khéo, hợp lư, hợp t́nh... Ṭa tuyên bố tạm nghỉ để vào pḥng nghị án. Pḥng
xử án hôm đó rất đông, có nhiều Sĩ Quan, thân nhân, bạn bè của bị can, tất nhiên
có cả quan sát viên của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đến theo dơi để về báo cáo lên
Trung Tướng Trưởng. Anh em Quân Cảnh đi lại bên ngoài pḥng xử. Không khí đợi
chờ bản án thật là yên lặng, tưởng như con ruồi bay qua, người ta cũng nghe thấy
tiếng ... Một hồi chuông rung. Ông Chánh Thẩm và Thẩm Phán Đoàn trở lại vị trí.
Mọi người hồi hộp. Ông Chánh Thẩm long trọng đọc những điều có tính cách thủ tục
rồi tuyên án... Ṭa quyết định: phạt bị can Nguyễn Minh Đ. 5 năm tù ở về tội đào
ngũ trong thời chiến... Có tiếng thở dài đâu đó và có người trong pḥng xử xỉu
ngă, chắc chắn là thân nhân của bị can, nhưng tiếp theo liền đó, Ông Chánh Thẩm
tuyên bố : căn cứ theo hồ sơ, bị can là 1 Sĩ Quan có nhiều công trạng, thành
tích , tinh thần chiến đấu cũng như chỉ huy trong quá khứ, cùng với những bằng
chứng khen thưởng quư giá như thăng cấp liên tục tại mặt trận, được ban thưởng
nhiều huy chương cao quư, nhất là Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương với nhành
dương liễu gắn tại chiến trường... lần đầu tiên phạm Quân Luật, cho nên Ṭa
khoan hồng cho bị can được hưởng ... án treo! Không khí trong pḥng xử như sống
lại trong khi phiên Ṭa bế mạc... Trung Tá Nguyễn Minh Đ., viên Sĩ Quan rất tài
giỏi, nhưng chỉ phải cái tội quá tin vào vụ Tử Vi, tướng số tào lao mà suưt nữa
khổ cả một đời. Trung Tá Đ. tạm thoát được án tù 5 năm, nhưng sau đó bị mất
quyền chỉ huy đơn vị tác chiến như xưa, chỉ được làm những công việc có tính
cách chuyên môn buồn tẻ. Thỉnh thoảng gặp lại tôi tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, khi
các Sĩ Quan đi ăn cơm trưa tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn, ông tuy là Trung Tá,
nhưng thường giơ tay chào tôi trước, và có lần không quên nhắc lại: May mà gặp
được Thiếu Tá ngồi ghế Công Tố Ủy Viên bữa đó, biết rơ hoàn cảnh anh em, tội th́
phạt, công th́ thưởng nên tôi mới thoát, chớ nếu gặp tay khác... cực đoan, chỉ
nh́n 1 phía con người th́ cuộc đời tôi chắc đă ... tàn rồi. Anh em bắt tay nhau
vui vẻ, tôi hỏi: Ông Tướng Tư Lệnh có gọi lên tŕnh diện quở trách chi không ?
Trung Tá Đ. nói: th́ phải có chớ! Nhưng Ổng chỉ khuyên bảo đôi điều nhẹ nhàng
rồi ra lệnh từ nay trở đi không được tái phạm. Ṭa khoan hồng chỉ 1 lần, không
thể lần thứ 2. Th́ ra Ông Tướng Ngô Quang Trưởng đă biết hết sự việc của phiên
Ṭa, kết quả ra sao, và luôn tỏ ra rộng lượng, tha thứ cho thuộc cấp có nhiều
công trạng, thành tích mà lần đâu tiên vi phạm Quân Luật .
Với chức vụ Phó Ủy Viên Chính Phủ Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I, Cố Vấn
Pháp Luật cho Nghiệp Đoàn kư giả miền Trung Việt Nam cho nên tôi đă có nhiều dịp
gặp gỡ chuyện tṛ trong khung cảnh thân mật với 1 số Tướng Lănh như Trung Tướng
Hoàng Xuân L., Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh vv... cùng nhiều Sĩ Quan cao cấp khác
trong Quân Khu tôi làm việc, nhưng h́nh ảnh Trung Tướng Ngô Quang Trưởng kể trên
làm tôi khó bao giờ quên được.
Lần thứ 2 tôi gặp và tiếp chuyện với Trung Tướng Trưởng là lần Ông sang thăm Ṭa
Án của chúng tôi, mà Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn chỉ điện thoại báo trước
có 10 phút. Lần này, Trung Tá Ủy Viên của tôi cũng đi vắng, tôi lại “ xử lư
thường vụ “ nghĩa là tạm thời thay mặt ông giải quyết mọi việc, trừ việc thật
đặc biệt quan trọng. Khi xe Quân Cảnh dẫn trước chiếc xe gắn bảng đỏ với 3 ngôi
sao trắng của Tướng Trưởng đậu trước cửa, tôi ra đón chào và mời Ông vào. Tướng
Trưởng mặc quân phục bộ binh, đội mũ sắt 2 lớp ( Ông luôn làm gương cho các Sĩ
Quan là lúc nào cũng trong t́nh trạng sẵn sàng tác chiến), đeo súng ngắn bên
thắt lưng dă chiến) đứng nói chuyện với tôi vài ba phút ngay trước cửa, rồi ông
bảo tôi dẫn đi thăm anh em nhân viên làm việc của Ṭa Án. Sau khi đi thăm ḷng
ṿng 1 lúc, ông trở lại văn pḥng của tôi và nói : Thiếu Tá nhớ luôn luôn nhắc
nhỡ anh em về tinh thần làm việc và tôn trọng kỷ luật quân đội. Chợt ông hỏi tôi
: trước khi làm việc ở đây, Thiếu Tá có phục vụ ở 1 đơn vị nào khác không ? Tôi
hơi ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu ra và trả lời: thưa Trung Tướng , trước kia tôi
phục vụ tại Tiểu Đoàn Truyền Tin Quân Đoàn 1, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá
Nguyễn Hữu Viên, và trưa nào chúng tôi cũng sang Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn ăn
cơm, thường có sự hiện của Trung Tướng. Ông à! một tiếng, không nói ǵ thêm rồi
bắt tay tôi từ giă ra xe, rời Toà Án. Khi Ông đi rồi, tôi có hỏi một vài nhân
viên đứng phía sau gần đó: anh em có hiểu tại sao ông Trung Tướng hỏi tôi câu đó
không? Có anh em đoán đúng ư tôi: Tại Trung Tướng thấy coi bộ cả Ṭa chỉ có một
ḿnh Thiếu Tá mặc quân phục, đầu tóc giống Trung Tướng nhiều hơn, c̣n lại không
mấy ai giống Trung Tướng cả. Ông Tướng Trưởng thông cảm cho 1 cơ quan chuyên môn
là Ṭa Án cho nên nhiều anh em đầu tóc không cắt cao kiểu “lính“, quân phục là
đồ tác chiến nhưng thường không bỏ ống vào trong giầy cao cổ, Sĩ Quan th́ hầu
hết là Luật Sư dân sự động viên đi học Trường Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức hay Sĩ Quan
tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa, tập sự mấy năm thành phán rồi về thẳng đây phục vụ
cho nên đầu tóc, quân phục làm sao mà giống ông Trung Tướng gốc nhẩy dù này được
!
B/-
Trích Báo Calitoday online: (Ngày 22 -1 - 2007 )
Calitoday đă loan tin : Cựu Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng đă mệnh chung vào lúc 3 giờ 30 sáng hôm nay tại Virginia, vùng
Hoa Thịnh Đốn, hưởng thọ 76 tuổi. Vị Trung Tướng lừng danh trong Quân Lực Việt
nam Cộng Ḥa từng phục vụ trong những năm 1954 đến năm 1975. Ông được xem là
người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân cộng sản Hà Nội và tái chiếm Cổ Thành
Quảng Trị năm 1972. Ông tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Vơ Khoa Sĩ Quan trừ bị Thủ
Đức năm 1954. Ra trường, được bổ nhiệm làm Đại Đội Trưởng đại đội 1, Tiểu Đoàn 5
nhẩy dù. Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng B́nh Xuyên và được đặc
cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận. Năm 1963, ông được thăng cấp Đại Úy. Năm
1964 ông được thăng cấp Thiếu Tá và được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng
Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù. Cùng năm 1964, Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù do ông chỉ huy được trực
thăng vận nhẩy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc Quận minh Long, tỉnh Quảng Ngăi, phá vỡ
căn cứ địa của Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tịch thu 160
súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn của ông được trực thăng vận nhẩy vào mật khu
Hắc Dịch, thuộc vùng núi Ông Trinh, tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa, căn cứ của Công
Trường 7 cộng sản Bắc Việt. Sau 2 ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho 2
Trung Đoàn địch thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp Trung Tá tại
mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965, sau
trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn nhẩy dù.
Đến cuối năm 1965, Trung Tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu
Trưởng Sư Đoàn nhẩy dù. Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ
nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của của Tư Lệnh Quân
Đoàn là Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lăm. Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh
do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 thiệt vận xa
M-113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 nhẩy dù do thiếu Tá Nguyễn Thế Nhă chỉ huy, tấn
công phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc Mặt Trận
Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc Quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này
ông được thăng cấp Chuẩn Tướng. Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh do
ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn 1 nhẩy dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9, do
Trung Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đă pḥng thủ, bảo vệ thành công trước trận tấn
công đại quy mô quyết tâm dứt điểm Huế của cộng sản vào Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn, thành Mang Cá và những điểm quan trọng của thành phố Huế , trong suốt thời
gian 26 ngày, từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2 – 1968. Quân cộng sản bị đẩy lui, gồm
các đơn vị xung kích của Mặt Trận Giải Phóng miến Nam, gồm Đoàn 5 : các Tiểu
Đoàn K4A, K4B, Tiểu Đoàn 12 đặc công nội thành Huế, Đoàn 6 : gồm các Tiểu Đoàn
K41, K6, Tiểu Đoàn 13 đacë công nội thành Huế, các Đại Đội đặc công 15, 16, 17,
18, tăng cường 1 đại đội súng pḥng không 37 ly, 2 đại đội du kích Quận Hương
Trà, Phong Điền, 2 đại đội đặc biệt nội thành Huế và 2 Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc
Đoàn Cù Chính Lan, tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đă giữ vững
Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công của địch. Sau trận Mậu Thân
( 1968 ), ông được đặc cách thăng cấp Thiếu Tướng và bổ nhiệm lên giữ chức vụ Tư
Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV ở trong Nam. Năm 1970, ông được thăng cấp Trung
Tướng.... Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đ́nh tại
tiểu Bang Virginia, ngay bên cạnh Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Ông từ chối tiếp xúc với
bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày
cuối cùng, và không xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các
cựu chiến sĩ kính trọng v́ ngoài những thành tích lớn lao kể trên, ông c̣n được
mệnh danh là 1 trong 4 vị Tướng thanh liêm trong sạch của Quân Lực Việt Nam cộng
Ḥa, qua câu nói của quân dân miền Nam “ nhất Thắng, nh́ Chinh, tam Thanh, tứ
Trưởng” (ngưng trích).
Đến đây, người ta thấy Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bi
Thủ Đức năm 1954, phục vụ trong lực lượng nhẩy dù, chỉ huy tác chiến từ cấp đầu
tiên là Thiếu Úy rồi thăng cấp tại mặt trận liên tục sau những chiến thắng do
ông chỉ huy từ nhỏ tới lớn, được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy đơn vị nhỏ đến
đại dơn vị , cấp cao nhất là Tư Lệnh Quân Đoàn (Army Corps Commander), mang cấp
bậc Trung Tướng (3 sao) một cách thật nhanh chóng và xuất sắc mà các bạn đồng
khóa với ông không một ai sánh kịp.
C/- Tướng Ngô Quang Trưởng và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa:
Nhiều người đă đánh giá toàn thể Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa qua hành động xấu
xa của một vài Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn
cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam ( sai lầm
chiến lược ) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách. Họ đánh giá Quân
Đội VNCH qua h́nh ảnh tan ră cuả nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng
cuả cuộc chiến, mà kẻ gây ra t́nh trạng thê thảm này đích danh thủ phạm là Ông
Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lănh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội VNCH,
ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, và Tướng Ngô Quang Trưởng,
Tư Lệnh Quân Khu I - một Tướng Lănh từng được kể vào hàng Danh Tướng - phải bỏ
Quân Khu I lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội cuả 2 Tướng này đang
sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đă từng đánh bại quân
cộng sản trên lănh thổ 2 Quân Khu này. Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi
chưa chạm địch để làm áp lực, lôi kéo người bạn Đồng Minh khổng lồ (đang bỏ đi
bằng mọi giá ) quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, "Tiền đồn chống cộng
sản cuả Mỹ tại Đông Nam Á Châu sẽ xụp đổ ". Tổng Thống Mỹ Richard Nixon phải hứa
với nhân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh
dự, trả người thân về với gia đ́nh cuả họ. Qua trung gian cuả Tổng Thống Hồi
Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger (một nhân vật chính trị, ngoại giao
quỷ quyệt, độc ác và tàn nhẫn ) dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Đông, lănh
tụ Cộng sản Trung Quốc. Họ Mao với sức mạnh cuả Sư Phụ, với uy thế cuả Ông Thầy
bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực…đă ra lệnh cho
cộng sản Hà Nội không được chợi trội, bắt bí phái Đoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris ,
doạ đánh cho Mỹ phải chạy mà không có " Hiệp Định ngưng bắn - Agreement of
cease- fire " chi cả. Họ Mao đă cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng
đáng:
1.- Vận động để cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế Hội Viên
Thường Trực cuả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với quyền Phủ quyết cuối năm
1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu Họ Mao đă chiếm
hết lục địa Trung Quốc, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949.
C̣n Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa th́ vẫn là bạn cuả Mỹ nhưng phải rời khỏi cái
ghế đó, chạy ra đảo Đài Loan.
2.- Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho Họ Mao những vũ khí, kỹ
thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Quốc đủ sức “đánh nhau
tay đôi " với Liên Sô khi cần, v́ Liên Sô đă kết án,và đe doạ trừng trị Họ Mao
về nhiều tội :
* Bất phục tùng Trung Tâm Lănh Đạo phong
trào cộng sản thế giới là Điện Kremlin ở Moscow.
* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Đông, trái nghịch với Học Thuyết Marx - Lenin
là : Thiết lập nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Quốc : lấy Nông Dân (đại đa số
dân Trung Quốc) làm giai cấp lănh đạo, thay v́ giai cấp Công Nhân lănh đạo, như
Học Thuyết Marx-Lenin, đă được dùng làm Phương Châm Đấu Tranh cho Phong Trào
Cộng Sản Toàn Cầu.
* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh cuả Trung Quốc và Tư Tưởng Mao Trạch Đông,
tách ra khỏi sự lănh đạo cuả điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận " Kết
hợp chủ nghiă yêu nước với chủ nghiă Quốc Tế Vô Sản ", theo luận điểm cuả Lenin
về khả năng tiến lên Chủ Nghiă Xă Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ
Nghiă (Lenin's thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing
the stage of capitalist development ) v́ Liên Sô đă có cơ sở công nghiệp trong
khi Trung Quốc chỉ có " Con trâu đi trước cái cầy ". Như thế mới gọi là tư tưởng
Mao Trạch Đông, chớ Hồ Chí Minh, lănh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết tṛ " Đu
dây " theo voi ăn bă miá cả 2 phiá Liên Sô và Trung Quốc th́ làm ǵ có cái gọi
là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí
Minh.
Nhiều Sĩ Quan cao cấp cuả VNCH trông cảnh
quân sĩ dưới quyền bị tan ră một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả
triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lănh đạn trọng pháo, hoả tiễn cuả
Liên Sô và Trung Quốc tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dă man mà thấy sót
sa trong tim, trong ḷng, phát điên phát khùng lên v́ sự khờ dại, cuả Nguyễn Văn
Thiệu. Là Tướng Lănh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội mà Nguyễn Văn
Thiệu không hiểu rằng : Những pḥng tuyến đầu tiên bị tan ră, quân đội chưa đánh
mà bỏ chạy tán loạn cùng hàng triệu dân chúng th́ hậu quả quân sự, chính trị,
tâm lư cuả Nam Việt Nam sẽ ra làm sao!
Họ đă cố t́nh quên đi tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà trong
dịp Tết Mậu Thân (1968 ). Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả
bằng súng tiểu liên xung kích AK-47 cuả Liên Sô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng
vơ trang cuả " Mặt Trận Giải phóng miền Nam ", lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản
bội thoả hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền cuả dân tộc Việt
Nam, th́nh ĺnh mở cuộc " Tổng tấn công " vào hầu hết các thành phố, thị trấn
cuả Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Đội VNCH hầu hết chỉ được trang bị bằng súng
trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 cuả
quân đội Mỹ sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. V́ bất ngờ cho nên chúng đă
kiểm soát được một số lănh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân
Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Đô Sài G̣n. Bộ Chính Trị
Trung Ương Đảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đă chiếm bằng mọi giá để đưa dân
chúng Nam Việt Nam vào 1 cuộc " Tổng nổi dậy ", cướp chính quyền. Do đó, khi
chiến trường đă được quân đội VNCH giải toả, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ
chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền h́nh đi theo quân đội mới thấy
những xác chết cuả lính cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích
kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ được rằng Quân Đội
VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau 1 thời gian cộng sản chiếm
đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương
to lớn cuả chúng ở bên kia sông Thạch Hăn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà
cộng sản đă phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu
Thân (1968), chỉ kịp luà theo chúng hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chính
quyền, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, đễ dẫn đi tàn sát, chôn
sống tập thể theo kiểu Hitler giêt người Do Thái, Staline giết người Ba Lan,
nhưng ghê tởm hơn, v́ chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mă tấu, c̣n sống
cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người 1 lúc.
Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần " Bỏ cuộc, chạy làng " cuả tay " Sen đầm
quốc tế " khổng lồ, nhưng đă quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không
thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân v́ nó chẳng có mặt trận, chiến
tuyến nào rơ ràng để ḿnh chủ động sử dụng " ưu thế hoả lực- Superiority of
firepower " được cả, mà hậu phương th́ rối loạn, nát bấy v́ biểu t́nh, phản đối
chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội căi nhau như mổ ḅ về chuyện
có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái " Tiền
đồn chống công ở Á Châu " . Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18
năm về trước, đă dùng chiến thắng Điện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hoà
Hội Geneva.
Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Đoàn tinh nhuệ, thiện chiến
nhất đă từng đánh tan 2 Binh Đoàn Lưu Động ( Groupements mobililes ) cuả Pháp
tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, bắt sống 2 Binh Đoàn Trưởng (
Commandants de Groupements mobiles ) : Đại Tá Le Page và Trung Tá Charton , đưa
những Sư Đoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường
Điện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ băo theo lối " Chiến tranh quy
ước – Conventional War" hẳn hoi. Hà Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lănh thổ địa
đầu cuả Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân cuả Sư Đoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17,
dưới sự yểm trợ cuả pháo binh và hoả lực pḥng không trang bị hoả tiễn điạ -không
SAM-2 cuả Liên Sô, sau 3 ngày đêm đội những trận băo lưả Pháo Binh và Hoả Tiễn .
Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH là Sư Đoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Đoàn 2 Bộ
Binh ṇng cốt là tương đối thiện chiến, c̣n hầu hết là tân binh, lính mới, và vị
Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung Đoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng th́ làm sao
mà chịu cho nổi sức tiến quân cuả cộng sản? Không hiểu sao Ông Thiệu, Tổng Tư
Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội dưới quyền của Ông
lại giao nhiệm vụ trấn giữ cái tuyến đầu chống cộng sản Hà Nội theo kiểu kỳ lạ
như thế này ! Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị quá dễ dàng, mở đường xuống
Huế rồi sẽ phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường ṃn Hồ
Chí Minh, cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực cuả Tỉnh và
Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản c̣n nhắm vào những
mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: Cuộc Hoà Đàm tại
Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và
Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Định ngưng bắn chi cả.
Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 cuả Liên Sô dẫn đầu, Bộ
Binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hoả tiễn 122 ly
cuả Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có
người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi " Đại Lộ Kinh Hoàng " tràn
xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy v́ dân ở đây làm sao
quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân -
1968 ! Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lăm,Tư Lệnh Quân Đoàn I- Quân Khu I (người được
nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá: chỉ là 1
Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn loại trung b́nh, chớ không đủ khả năng giữ chức Tư Lệnh
Quân Đoàn trong giai đoạn địch quân tiến như vũ băo như thế này) hoảng hốt,
không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Độc Lập ở Sài
G̣n. Tuyến đầu bị phá vỡ th́ địch quân sẽ thưà thắng xông lên dễ dàng với tinh
thần quyết chiến, quyết thắng. C̣n phiá ta đă rút lui, tan vỡ bỏ chạy th́ tinh
thần quân đội và dân chúng rối loạn ra sao, ai cũng biết! Giới truyền thông
ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đă đánh giá Quân Đội và các cấp chỉ huy cuả Quân Lực
VNCH qua những Tướng Lănh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Trung
Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư
Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lăm, dân
chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế cũng đồng thanh la lên " Tướng
Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị
th́ bà con không có chạy đi đâu nưă cả! " Ḷng dân tin tưởng mănh liệt là thế !
Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khoá 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, gốc binh chủng "
Thiên Thần Mũ Đỏ Nhẩy Dù ", nhưng lúc này đă mang lon 3 sao v́ những chiến công
ngoài mặt trận, và luôn luôn hoà đồng với các Sư Đoàn Bộ Binh dưới quyền nên
Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến cuả Bộ Binh, thay v́ quân phục Nhẩy Dù.
Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng : Bộ áo không làm thành Thầy Tu , Tướng giỏi không
cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được ḷng kính
phục cuả quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái
phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ
Bị : Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến từ Sài G̣n bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú
Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đă thề trước ba quân " Sẽ chiếm lại thành phố Quảng
Trị trước ngày Lễ Quân Lực 19 tháng 6 ( 1972 ) “ như thời Nhà Trần, Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đă cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Đằng mà thề
trước Tướng Sĩ : " Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ th́ ta sẽ không
c̣n trông thấy con sông này nưă ! " Ôi, Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên
được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế này! Dưới quyền Tư Lệnh cuả
Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đă anh dũng chiến đấu,
chặn đứng những Sư Đoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất cuả cộng sản Hà Nội, trước sự
ngỡ ngàng cuả dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đă được chiếm lại.
Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm
1953, Danh Tướng MacActhur cuả Hoa Kỳ đă phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc
Hàn ra khỏi những vùng chiếm dóng trên lănh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán
chết trở ngược về phiá Bắc vĩ tuyến 38.
Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ cuả Ông đă bảo vệ được Huế, chiếm lại thành
phố Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bưă nào.
Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội VNCH là như thế đấy! Tướng Lănh cuả Quân
Đội VNCH có những người như thế đó ! Tờ báo Time Tạp Chí cỡ lớn cuả Hoa Kỳ (tôi
vẫn có trong tay hàng tuần ) có lần đă đăng những ḍng cảm nghĩ cuả Đại Tướng 4
sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch" Băo Sa mạc – Desert storms"
chinh phạt hung thần Saddam Hussein cuả xứ Iraq hồi đầu thập niên 1990, khi
Saddam Hussein xâm lăng xứ dầu hỏa Kuweit, đại để như sau " Hồi c̣n chiến đấu ở
Khe Sanh thuộc lănh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà, với tư cách là 1 Trung Tá
Tiểu Đoàn Trưởng Nhẩy Dù cuả Hoa Kỳ, tôi đă học được ở Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I VNCH rất nhiều kinh nghiệm quư báu trong nghệ thuật
chỉ huy cũng như tác chiến. Những kinh nghiệm đó đă giúp tôi rất nhiều, ngay cả
mấy chục năm sau, trong " Chiến thắng Băo Sa Mạc - Desert Storms' Victory ".
Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói
về Quân Đội VNCH ? Họ ngu dốt hay mang đầy ác ư trong đầu!
Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh B́nh Long. Ở Hoà Hội Paris, Lê Đức Thọ và Xuân
Thủy, UyÛ Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng
Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh cuả quân cộng sản tại
Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi " Vũng lầy kinh khủng "
này. Đại Tướng cộng sản Vơ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ, Bộ Trưởng Quốc
Pḥng cuả cộng sản đă tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội " Nhân dân Việt Nam đă
đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc
chiến thắng hoàn toàn - Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of
Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory
over President Nixon…" Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 cuả cộng sản đă
tràn ngập , làm chủ t́nh h́nh thị xả An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh
thiện chiến, danh tiếng nhất , sau khi những trận băo lưả pháo binh đă quét dọn
sạch sẽ, không để lại những ǵ có thể sống sót. Các chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh
VNCH cùng 1 số đơn vị bạn c̣n lại cuả địa phương B́nh Long đă chiến đấu vô cùng
anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngơ hẻm để có chỗ đứng hay
nằm mà chiến đấu v́ ngưng chiến đấu tức là chết. Mặt trận An Lộc làm rung động
thế giới, làm rối loạn không khí hoà đàm tại Paris vốn đă nghiêng hẳn thế thuận
lợi về phiá cộng sản. Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải
thầt thủ kinh hoàng như Điện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đă dám
đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài G̣n, đập
tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao (Général de
Division) Vanuxem cuả Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi , người đă từng
giữ chức vụ " Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam - Tư lệnh Quân Khu tả
Ngạn Sông Hồng Hà" thời kỳ Điện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam- 1954 - khi trả
lời phỏng vấn cuả báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, đă nói : Quân Đội VNCH
không thể nào giữ nổi An-Lộc. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh
cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh ḷng chảo Điện Biên Phủ
(do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa băo
suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu cuả Pháp cho
đến nỗi Đại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh cuả Pháp tại chiến trường này
quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát. Có lẽ Tướng
Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư Đoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến
cỏ, theo chiến thuật " Biển Người " cuả Thống Chế Lâm Bưu Nguyên Soái Hồng Quân
Trung Quốc, tràn qua các băi ḿn, đạp nát các công sự pḥng thủ, các hàng rào
kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết cuả lính
Pháp, Bắc Phi và cả cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ
các đường hầm đă được máy móc, cơ giới cuả Trung Quốc đào bới ngày đêm trong lúc
pháo binh hoả tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời . Chắc Tướng Vanuxem liên
tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến ttrường Điện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt
mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn
thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu cuả Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ
chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phiá người Pháp. Tướng Vanuxem tin
chắc là Quân Đội Việt nam Cộng Hoà không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội
đă quyết dịnh biến An Lộc thành một thứ Điện Biên Phủ để giành thế chủ động trên
bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Sô và Trung Quốc đứng
sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải " nhắm mắt lại mà kư vào Hiệp Định Paris "
như cộng sản đă bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954.
Thế mà, khi Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Động Quân và 1 số đơn vị
Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời th́ xe
tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên
vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù
lệnh cuả Hà Nội : phải giữ An Lộc đă chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn c̣n đó,
không thất thủ như Điện Biên Phủ năm 1954. Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao
cuả Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đă thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn
Văn Thiệu, Tổng Thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng bỗng dưng có được giờ phút vinh quang
và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị cuả ông : đáp
trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giưă tiếng hoan hô vang dậy không ngớt
cuả cuả các chiến sĩ VN Cộng Hoà vưà tái chiếm An Lộc, trong khi tiếng đại bác
cuả 2 bên, tiếng hoả tiễn 122 ly cuả Trung Cộng vẫn c̣n nổ vang quanh vùng, và
An Lộc vẫn c̣n mù mịt, khét lẹt mùi lưả đạn. Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân
Đội VN Cộng Hoà là như thế đấy ! Và c̣n biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác
trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật . Một bài báo có hạn làm sao kể hết!
Năm 1975,Cộng sản đánh chiếm Ban MêThuột, cũng chẳng khác ǵ cộng sản đánh chiếm
Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy th́
khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ
lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải
bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Đoàn Bộ
Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết
Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ
chiến đấu, đó là chưa kể đến hoả lực yểm trợ cuả Hải Quân, Không Quân, lực lượng
Tổng trừ Bị cuả Nhẩy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến
đấu v́ chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi.
Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cưả ngơ, địa đầu cuả nam Việt Nam như vậy để
làm ǵ ?- Có nhận lệnh từ đâu không ? - Để tạo nên một sự tan ră, hỗn loạn cuả
cả một lực lượng Quân Đội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả
đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống c̣n. Sự tan ră hỗn loạn này kéo theo
sự hỗn loạn tràn ngập cuả hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ
Đô Sài G̣n. Trong t́nh thế đó th́ Quân Khu 3 c̣n đánh đấm ǵ được nưă ? Quân
Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi
gặp sự quyết chiến cuả Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường cuả một số đơn
vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân cuả Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đă phải tung ra
2 Sư Đoàn thiện chiến để ḥng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Đoàn 18 Bộ Binh,
dưới sự chỉ huy cuả vị Tướng Trẻ Lê Minh Đảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng
Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Đoàn nưă vào mặt trận này, là 4 Sư Đoàn tất cả,
lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ
đang lên.Vậy mà Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu thua khi không c̣n nguồn tiếp
tế nào nưa,ơ chỉ c̣n lại súng mà không có đạn. Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc
Pḥng Mỹ tại sài G̣n, ngày 13 đă gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng
Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ư chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời
của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5
ngày theo dơi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đă nói : “
Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam. kể cả Địa Phương
Quân Tỉnh Long Khánh, đă cho người ta thấy rơ tinh thần và khả năng chiến đấu
của những người lính Việt Nam cộng Ḥa này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều..”
Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam , một
Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm
trước, có trong tay 3 Sư Đoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Động
Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, các đơn vị yểm trợ chiến đấu rất
hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân Khu 4 cuả 2 Tướng
này. Khi Tổng Thống… cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị
chỉ huy bởi Sư Phụ Thích Trí Quang, cán bộ cộng sản từ hồi kháng chiến chống
Pháp , và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ
quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt ( đă liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi
1956 ) hạ lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng cộng sản vô
điều kiện ( để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ
đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng” ,
th́ Tướng Nguyễn Khoa Nam đă họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền,
và ra lệnh: anh em tuỳ nghi lo liệu về phần ḿnh, trước t́nh thế chúng ta bị bắt
buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu ḿnh và bảo vệ vùng lănh thổ
trách nhiệm của chúng ta đă không thi hành được như anh em đă có thể biết...Sau
đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp (sẵn sàng
chiến đấu ) đă vào Văn Pḥng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế cuả ḿnh, nh́n lại lần cuối
tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nh́n lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng ,
tượng trưng cho uy quyền cuả một Tướng Lănh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng
bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp c̣ cho viên đạn xuyên qua đầu, vị
Tướng đáng kính phục này đă nói những ǵ với Tổ Quốc , với đồng bào, với chiến
hữu cuả ông. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, anh hùng tử thủ An Lộc
mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu
“Em ở lại
nuôi con, anh phải ra đi v́ thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này… “
Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng ! Cho em chết theo với! Tất cả
chúng ta và các con cùng chết với nhau! “ th́ Tướng Hưng đă thuyết phục
người vợ : Không được ! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi
dậy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Đất Nước này
! Em phải sống dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ. Người vợ
thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt: Em
nghe lời ḿnh với hai điều kiện : Nếu cộng sản bắt em phải xa ĺa các con hay
chúng làm nhục em th́ em có quyền tự sát!
Tướng Hưng
bằng ḷng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ Quan, Binh Sĩ
đă có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch
chiến đấu cứu ḿnh, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào pḥng
riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của
chồng. Tướng Hưng đóng cưả lại, và 1 phát súng nổ… Tướng Lê Văn Hưng đă ra đi
vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc
Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất cuả
Cha Ông ngày trước, cuả những thời đại Lư Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà
Tống, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ vv… Hai Ông Nguyễn Khoa
Nam và Lê Văn Hưng đă cùng một số Tướng Lănh khác như Phạm Văm Phú, Trần Văn Hai,
Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đă
chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để
lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi
ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp cuả Quân Đội, cuả Quốc Gia, làm giầu
bất chính trên xương máu cuả chiến sĩ như một số Tướng Lănh hèn hạ khác. Quân
đội của quốc gia nào có những Tướng Lănh anh hùng và can đảm như thế hay không?
Một số Sĩ Quan cao cấp cuả Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư
luận cũng coi ḿnh như những kẻ khác không biết ǵ về cuộc chiến Việt Nam, cuộc
chiến kỳ lạ này, về sau đă phải lên tiếng nói ra sự thật là : Quân Đội Việt Nam
Cộng Hoà, nói chung, đă chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn
luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu
trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Đúng
như thế!
Viết đến đây đă quá dài, quá dư thừa, nhưng tôi vẫn chưa thấy đủ khi nghĩ đến Cố
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và những người chiến sĩ của ông trong Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa. Tôi chỉ c̣n biết cầu nguyện cho ông, Cố Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, người mà tôi luôn kính phục, đă từng gặp , đă từng biết ông khá nhiều,
rồi chỉ thấy xa ông thực sự trong đêm 28 – 3 – 1975, ông buộc phải ôm hận trong
ḷng của 1 vị Danh Tướng, rời bỏ doanh trại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng,
tới sân bay trực thăng Non Nước để cùng 1 số Sĩ Quan trong Bộ Tư Lệnh, trong đó
có 1 Đại Tá, bạn thân của tôi từ hồi c̣n nhỏ, bay ra Hạm Đội 7 của Mỹ tại Thái
B́nh Dương. Nỗi hận phải ra đi với niềm uất ức không thể nói với ai, đă làm cho
Ông buồn bă rồi ngất xỉu, khi đă đă tới an toàn trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm
của người bạn Đồng Minh chỉ cứu được ông , nhưng đă bỏ lại đằng sau tất cả chiến
sĩ, đồng đội và đồng bào của ông tại Nam Việt Nam cho quân bạo tàn cộng sản Hà
Nội hành hạ bằng cảnh sống lẫn lộn với những cái chết kinh hoàng trong bao nhiêu
trại tù cải tạo trên núi trên rừng, những cái chết thê thảm ngoài Biển Đông và
biết bao nhiêu cách chết khổ nhục mà mai sau, may ra người ta mới có thể thấy
hết được...
San Diego, ngày 24 - 1 - 2007
Phan Đức
Minh