|
Điếu Văn: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng
NGUYỄN DUY HINH
Thưa Quí
Vị,
Một v́ sao sáng vừa lặn mất trên nền trời sao
của VNCH : trung tướng Ngô Quang Trưởng đă qua
đời! Với riêng tôi, Ông là một kỷ niệm khá đậm
nét.
Tôi biết Ông từ xa xa, những ngày Ông là Tư Lệnh
Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế và tôi đă thật gần Ông
từ 1970 khi Ông tới Cần Thơ nhận chức vụ Tư lệnh
Quân đoàn IV / Quân khu 4 và tôi là Tư lệnh phó
Lănh thổ rồi Tư lệnh phó Quân đoàn. Chúng tôi
làm việc thiệt nhiều, đi bay thăm viếng mỗi ngày,
để mắt đến ít nhất là năm tới bảy tỉnh hay quận
trong cái quân khu gần hai chục tỉnh ấy.
Những năm 1970 sang 1971, Quân khu 4 được coi
như b́nh định gần hoàn toàn. Các đơn vị lớn của
địch chạy sang Cam-Bốt. Các căn cứ lớn của đối
phương và các khu du kích địa phương nhỏ đă bị
triệt phá, san bằng. Quân khu 4 có bộ mặt hiền
hoà tốt đẹp với kinh tế phát triển đến độ thời
ấy, người ta dă nghĩ như chiến tranh sẽ tan biến
đi. Đó là trạng thái suy sụp của chiến tranh du
kích CS sau Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa
1968.
Trung tướng Trưởng là một quân nhân thuần tuư,
một tướng lănh gương mẫu. Ông tuân phục kỷ luật,
làm việc cặm cụi, tận tuỵ, lănh đạo bằng khuôn
mẫu hành xử của ḿnh. Có một đặc sắc trong đường
nét lănh đạo của Ông: nói thật ít và cặm cụi với
công việc.
Ông thường hay vắng mặt về đêm. Đêm như thế, khi
trời vừa tối, Ông cùng Cố vấn trưởng đáp máy bay
xuống một đồn Địa phương quân hay Nghĩa quân xa
xôi nào đó. Tất nhiên tới đồn không phải là để
ngủ mà là ḍm nom các trạm gác, các lỗ châu mai,
hỏi han các chiến sĩ trong đồn, xem xét t́nh
h́nh chung. Rồi sau vài lần đi đêm như thế,
tiếng đồn loan ra, trưởng đồn các thôn xóm đều
kháo nhau : có thể ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn
tới trong đêm và hăy chuẩn bị mà lo trước đi
thôi.
Trung tướng Trưởng ít nói, quá hà tiện lời nói,
có thể gọi là lầm ĺ. Nhưng Ông để ư vào chi
tiết. Tới thăm một đơn vị th́ hay nh́n kỹ, quan
sát một vài xó xỉnh nào dó, thí dụ như một góc
nhỏ rác rến trong khu nhà bếp một đồn binh. Ông
không nói ǵ nhưng ngay sau đó, khi vị Tư lệnh
QĐ đi khỏi th́ ta có thể chắc chắn rằng các xó
rác đó sẽ được dọn dẹp và giữ ǵn sạch sẽ về sau.
Trong các buổi họp, sau một thuyết tŕnh của một
đơn vị trưởng nào đó, người ta thấy Trung tướng
Trưởng gật gù, mắt chớp chớp, nói một vài lời
ngắn ngủi, đôi khi không hẳn là rơ rệt. Đây là
một khía cạnh lănh đạo khác của Tướng Trưởng.
Các đơn vị trưởng, các sĩ quan tham mưu nhiều
khi không hoàn toàn lănh hội được chỉ thị của vị
tư lệnh. Buổi họp kết thúc, công việc phải làm
không ngưng nghỉ và tất cả vận dụng đầu óc, t́m
giải pháp tốt đẹp nhất để hoàn thành nhiệm vụ.
Sự kiện này đưa đến cộng tác của hàng chục, hàng
trăm cái đầu các cấp, thách đố và gây nên sự hợp
tác, đóng góp tận lực của tất cả. Ở đây tôi thấy
sự hữu hiệu sắc nét của một khía cạnh lănh đạo
Ngô Quang Trưởng.
Rồi đến “mùa Hè Đỏ Lửa 1972”, Quảng Trị mất, dân
Huế di tản, chợ Đông Ba cháy ! Buổi trưa ngày
3-5-1972, trở lại bộ Tư Lệnh sau khi gặp Tổng
thống Thiệu tại Saigon, Tướng Trưởng mời tôi tới
văn pḥng; Ông muốn tôi cùng ra Huế. Vài giờ
đồng hồ sau đó, chúng tôi giă biệt Cần Thơ. Rời
thủ phủ của Quân khu 4 an b́nh, tôi thấy chóng
mặt khi đáp xuống Phú Bài. Sát cạnh phi đạo là
hai khu tập trung thương binh Dù và Thuỷ quân
lục chiến nằm ngồi nghiêng ngả, máu me, băng bó
bê bết chờ di tản. Dân chúng già trẻ chen chúc
nheo nhóc trong phi cảng chờ máy bay! Tới Huế
th́ thấy đó là một thành phố vắng lạnh, người
qua lại hốt hoảng, vội vàng. Chợ Đông Ba c̣n
nghi ngút khói.
Đặt chân tới Mang Cá, nhận bàn giao quyền Tư
Lệnh Quân đoàn I / Quân Khu 1 ngay chiều đó,
Trung tướng Trưởng bắt đầu bay đi thăm các đơn
vị tiền tuyến. Tôi được chỉ định sắp xếp lại bộ
Tham Mưu Hành Quân và chuẩn bị các kế hoạch mới.
Sáng hôm sau, dân Huế đồn nhau “Tướng Trưởng đă
trở lại”, tướng Trưởng, người tử thủ Huế năm
1968 nay đă trở lại, mọi sự sẽ ổn định. Huyền
thoại Ngô Quang Trưởng như một chiếc đũa thần
mang đến phép lạ. Có lẽ tôi khỏi cần phải kể
rằng ít tháng sau đó, với sự tận t́nh yểm trợ
của Đồng Minh, Quân Đoàn I tăng cường hai Sư
đoàn Nhảy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến đă tái chiếm
lại hầu hết tỉnh Quảng Trị.
Tướng bốn sao Hoa Kỳ, H. Norman Schwarzkoff,
trong cuốn sách ông viết về trận đánh “Băo Sa
Mạc” mang tên “It doesn’t take a hero” đă nức nở
ca ngợi tài điều binh và kinh nghiệm chiến
trường của Trung tướng Trưởng khi Ông hành quân
cấp tiểu đoàn và lữ đoàn.
Năm 1975, một thử thách ở cấp bậc cao hơn đang
chờ đợi ! Ngày 10-3-1975, Ban Mê Thuột bị tấn
công để rồi thất thủ ngày hôm sau. Không đầy một
tuần tiếp theo, Pleiku và Kontum bị rút bỏ. Các
lực lượng Quân Đoàn II và dân chúng nheo nhóc di
tản chiến thuật. Quân Khu 2 đối diện nguy cơ bị
xẻ làm hai.
Trong khi mũi tấn công chính của Bắc Việt đang
thi triển tại Vùng 2 th́ các lực lượng của CS
tại Vùng 1 ào lên khai thác t́nh h́nh. Ngày
24-3-75, Tam Kỳ rồi Chu Lai, Quảng Ngăi di tản,
Sư đoàn 2 Bộ Binh bỏ chạy ra cù lao Ré. Ngày
25-3 Mặt trận Huế vỡ. Thế trận đang chuyển thành
một cuộc bao vây và tấn công tương lai vào Đà
Nẵng, nơi đặt bản doanh của Trung tướng Trưởng.
Các tuyến pḥng thủ quanh Đà Nẵng co lại để sửa
soạn pḥng ngự. Trong không khí hoảng loạn của
dân Vùng 1 lánh nạn cùng với tin địch khởi sự
tấn công vào đêm 29-3-75 hoà với áp lực cân năo
mọi phía, Tướng Trưởng triệu tập một cuộc họp
các Tư lệnh đại đơn vị tại bộ Tư Lệnh Hải Quân
Vùng 1 vào 9 giờ 30 đêm 29-3-75 để rồi quyết
định rút khỏi Đà Nẵng ngay đêm đó. Quân khu giới
tuyến thất thủ !
Trong suốt thời gian dài trên ba mươi năm định
cư tại Virginia, tôi được may mắn ở gần và gặp
gỡ Trung tướng Trưởng khá nhiều. Tôi đă mời mọc
vị cựu Tư Lệnh của tôi tham gia một số công tác
hứa hẹn về hướng đấu tranh dân chủ hoá cho VN,
Trung tướng Trưởng bao giờ cũng từ chối. Ông
sống như âm thầm với một nỗi u sầu khép kín.
Thời gian sau này, Ông đă nói nhiều hơn một chút
nhưng cũng chẳng bao giờ thổ lộ bầu tâm sự. Với
vài ba bài báo viết về Ông trong mấy ngày cuối
của VNCH, Ông bảo là có điều đúng, có nhiều điều
sai vậy thôi!
Một tướng lănh người đời đánh giá là tài ba sau
cùng đă theo nạn nước mà di tản để gậm nhấm nỗi
buồn nơi xứ người. Có một lần tôi hỏi Ông: “Nếu
như Trung tướng có thể xoá ván bài, làm lại ở Đà
Nẵng th́ Trung tướng sẽ làm như thế nào?” Và
cũng có lần Ông đă trao đổi và đặt câu hỏi với
một sĩ quan tham mưu cao cấp cũ của Quân đoàn
như sau : “Nếu khi ấy ta giữ Đà Nẵng th́ có thể
làm được không?” Các câu trao đổi này cho thấy
Ông vẫn mang nặng một niềm đau gậm nhấm tâm can
!
Ngày nay, Trung tướng Ngô Quang Trưởng đă ra đi.
Lũ bạn già chúng tôi đây xin hẹn sẽ gặp lại chốn
cửu tuyền kia, sớm hay muộn nào ai biết ! Dầu
sao, sinh ly tử biệt là đau, là buồn ! Vậy xin
tạm biệt và cầu chúc Trung Tướng sẽ an b́nh nơi
Tiên cảnh. Chúng tôi xin chân thành chia buồn
cùng bà quả phụ Ngô Quang Trưởng và cùng toàn
Tang Quyến trong giờ phút đau đớn này.
Chúng tôi cùng xin bái biệt Trung Tướng Ngô
Quang Trưởng!
Thương thay!
Virginia, 25-1-2007
NGUYỄN DUY HINH
|