Xem Huyền Thoại
LÊ MINH BẰNG
(ASIA-52)
Việt Hải Los Angeles
Ngày 28/10/2006
Mấy lúc gần đây mọi người được biết nhà cầm
quyền CSVN tỏ vẽ bực tức trung tâm Asia sau hai
bộ DVD như Asia-50 (Vinh Danh Nhật Trường Trần
Thiện Thanh “Anh Không Chết Đâu Anh”) và Asia-51
(Nhạc Vàng 30 Năm, T́nh Khúc Sau Cuộc Chiến) đă
đưa khán thính giả trở về với kỷ niệm quê hương,
những niềm tự hào của người dân sống ở vùng đất
tự do miền Nam Việt Nam hay VNCH. Tôi xem buổi
mạn đàm văn học giữa hai nhà văn Huy Phương và
Phan Nhật Nam về vấn đề ít nhiều đến chủ đề của
những sản phẩm này của Asia. Dù người CSVN công
kích cay đắng Trung tâm Asia và những người cộng
tác với các chương tŕnh ca nhạc này, nhưng đồng
hương khán thính giả vẫn nhiệt t́nh ủng hộ v́
phẩm chất và chủ đề đáng xem của nó. Tuần rồi
anh Peter Morita ghé chở tôi xem phần preview
Asia-52 (Huyền Thoại Lê Minh Bằng - The
Legendary of Lê Minh Bằng), đây lại là một bộ
DVD đáng xem nữa. Bài viết này ghi nhận những
cảm nghĩ của tôi qua phần xem một bộ video có
nhiều điều thích thú.
Huyền thoại Lê Minh Bằng có ǵ đặc biệt?
Chủ đề này nêu lên những điều về bộ 3 nhạc sĩ đă
đóng góp nhiều cho nền tân nhạc Việt Nam và
những thành công của họ cùng những lời ca giọng
hát đă tham dự vào ḍng nhạc của họ. Tên ghép Lê
Minh Bằng của bộ 3 nhạc sĩ được biết là gồm Lê
Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Nhạc sĩ Lê Dinh trong
bài viết "Vài Kỷ Niệm với nhóm Lê Minh Bằng
1966-1975", cũng như qua bài viết của Duy Khiêm
nhận định về nhóm Lê Minh Bằng th́:
"Lúc đầu khi thành lập Nhóm Lê Minh Bằng (1966)
th́ ba người nhạc sĩ này đă họp lại và bàn bạc
với nhau về đường lối sáng tác những bản nhạc
của nhóm ḿnh. Đó là làm sao mà sáng tác ra loại
nhạc hợp với mọi tầng lớp dân chúng từ thành thị
tới thôn quê, để ai cũng có thể thưởng thức được.
Như vậy những bài hát này phải có lời ca trong
sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ thuộc ḷng. Giai
điệu và tiết tấu cũng nên đơn giản để dễ tập đàn,
dễ tập hát (như điệu boléro, rumba slow, slow
rock, boston...chẳng hạn).
Nói tóm lại là nhạc và lời phải thật dễ thương,
âm điệu uyển chuyển khiến người nào nghe một lần
là c̣n nhớ thoang thoảng trong ḷng. V́ là bước
đầu thử nghiệm, nên cả nhóm không biết là những
bài hát này sẽ thành công hay không, sẽ được
nhiều người ưa thích hay chê bai? Để tránh
trường hợp thất bại xảy ra có ảnh hưởng đến tên
tuổi của cả ba nhạc sĩ này, th́ cách tốt nhứt là
chọn ra vài cái biệt hiệu khác nhau để kư tên
lên các bài hát mới thử nghiệm này. Nhưng kết
quả thật quá bất ngờ, đến nổi cả ba người nhạc
sĩ này không tin rằng đó là sự thật. V́ sau khi
những bài hát của nhóm tung ra, số lượng các bản
nhạc in (music sheets) bán được khắp nơi đă tăng
nhanh vùn vụt (sẽ kể thêm ở đoạn sau) và nhóm Lê
Minh Bằng đă thành công vượt bực để trở thành
“huyền thoại” sau này."
Sơ lược về tiểu sử th́ nhạc sĩ Lê Dinh, tên thật
là Lê văn Dinh, sinh năm 1934 tại làng Vĩnh Hựu,
Tỉnh G̣ Công. Sau 7 năm ở Trung Học ở tỉnh Mỹ
Tho , Lê Dinh lên Sài G̣n, học chuyên môn tại
trường Cao đẳng Vô Tuyến Điện từ năm 1953 đến
năm 1955. Trong 2 năm học ở trường Cao đẳng Vô
Tuyến Điện, Lê Dinh đă học hàm thụ với Ecole
Universelle ở Paris về sáng tác. Ông bắt đầu
viết nhạc từ năm 1956 và nhạc phẩm đầu tay của
ông là bài “Làng anh, làng em”, do nhà xuất bản
Tinh Hoa Miền Nam ấn hành cùng năm. Lê Dinh và
gia đ́nh vượt biên năm 1978, được tàu của Canada
vớt đưa qua đảo Peng Hu ở Đài Loan và định cư
tại thành Phố Montréal từ tháng 10 năm 1978 đến
nay. Đến Montréal, Lê Dinh làm việc tại hăng tàu
có chiếc tàu đă cứu gia đ́nh ông cùng 35 ngườii
khác trên biển Nam Hải, trong 20 năm từ năm 1979
cho đến năm ông nghỉ hưu trí là năm 1999.
Về Minh Kỳ th́ ông ra đời tại Nha Trang, sinh
năm 1930, năm 1959 vào định cư tại Sài G̣n.
Nhưng nguồn gốc gia tộc thuộc đất Thần Kinh.
Theo gia phả của ḍng họ thuộc triều Nguyễn tại
Huế, nhạc sĩ Minh Kỳ là cháu đời thứ năm của Vua
Minh Mạng. Ông có tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh
Mỹ, có vai vế ngang hàng với vua Bảo Đại (Nguyễn
Phúc Vĩnh Thụy. Hiện nay tại thôn Vỹ Dạ vẫn c̣n
là nơi ở, mộ phần và Phủ thờ ḍng họ bên ông.
Ông là người con duy nhất trong một gia đ́nh
hoàng tộc khá giả tại thành Phố Nha Trang và
sống ở đấy cho đến sau khi ông lập gia đ́nh vào
năm 1952. Do đó Nha Thanh là nơi để lại nhiều kỷ
niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời của nhạc sĩ
Minh Kỳ. Cũng chính là lư do mà từ hơn 40 năm
qua, chúng ta đă có dịp thưởng thức những nhạc
phẩm tiêu biểu về vùng duyên hải được gọi là `Thùy
dương cát trắng" của ông như: "Nha Trang", "Nhớ
Nha Trang", "Nha Trang Chiều Mưa",... Khi t́nh
thế đất nước kêu gọi, ông gia nhập vào ngành
Cảnh Sát. Mang chức vụ cuối cùng là Đại Úy Cảnh
Sát, sau ngày Sài G̣n sụp đổ, ông đă bị bắt đi
“học tập cải tạo” ở trại An Dưỡng, Biên Ḥa nơi
những người bạn tù cùng thời cho biết là ông đă
chết một cách bí ẩn vào khuya ngày 31 tháng 8
năm 75, khi vừa bước sang tuổi 45, để lại 1 vợ
và 9 người con. Theo video clip mà Trịnh Hội đến
nhà phỏng vấn phu nhân và các con của ông, người
ta không khỏi mũi ḷng, xót xa về cái chết của
ông. Hiện nay người con trai út của ông vẫn c̣n
ở tại Sài G̣n, nơi ông đă sinh sống và mở lớp
dạy nhạc Lê Minh Bằng gần khu vực nhà thờ Tân
Định.
C̣n người thứ ba trong nhóm Lê Minh Bằng chính
là nhạc sĩ Anh Bằng, cũng là người lớn tuổi nhất.
Tên thật của ông là Trần An Bường và sinh năm
1925 tại thị trấn Điền Hộ, thuộc tỉnh Ninh B́nh
gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng
100 cây số về hướng nam. Ông theo học trung học
ở Hà Nội trước khi di cư vào Nam năm 1954 và
sinh sống ở Sài G̣n cho đến năm di tản 1975.
Trước khi đến với nhau qua tên chung Lê Minh
Bằng th́ mỗi người trong nhóm đă tự ḿnh tạo nên
tên tuổi trong làng âm nhạc với phẩm và lượng
của những tác phẩm nổi danh như các bài: "Nếu
Vắng Anh", "Tango Dĩ Văng", "Anh Cứ Hẹn", "Nỗi
Ḷng Ngựi Đi", "Căn Nhà Ngọai Ô", "Chuyện Hoa
Sim", "Hẹn Anh Đêm Nay", "Hận T́nh", "C̣n Nhớ
Hay Không",...(với Anh Bằng), "Biệt Kinh Kỳ", "Thương
Về Miền Trung", "Nhớ Nha Trang", "Lá Vàng Rơi",
"Thương Về Miền Đất Lạnh", "Mưa Trên Phố Huế", "Thương
Về Miền Trung", "Anh Tiền Tuyến, Em Hậu Phương"....
,...(với Minh Kỳ), "Tấm Ảnh Ngày Xưa", "Hà Tiên",
"Huế Buồn", "Cánh Thiệp Hồng", "T́nh Yêu Trả Lại
Trăng Sao", "Chiều Lên Bản Thượng", "Xác Pháo
Nhà Ai", "Ga Chiều",... (Lê Dinh), c̣n nhiều để
kể hết ra đây. Chuyện t́nh cờ hi hữu như huyền
thoại v́ đây là sự kết hợp khá lạ lùng giữa ba
người nhạc sĩ dại diện cho ba miền đất nước là
Nam Trung Bắc kết hợp lại với nhau.
Ngoài việc sáng tác nhạc th́ họ c̣n làm việc ở
cả ba lănh vực khác nhau, nhưng đă thật sự thành
công đứng chung trong một công ty rất êm thấm
qua bao năm sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc. Lê
Minh Bằng là mô thức chung tiêu biểu cho việc
đoàn kết tiến đến thành công về nghệ thuật và
tài chánh.
Những hoạt động chính yếu của Nhóm Lê Minh Bằng
(LMB) gồm dạy nhạc, đào tạo thế hệ trẻ. Nhiều ca
sĩ thành danh xuất thân từ ḷ Lê Minh Bằng như
Trang Mỹ Dung, Nhật Thiên Lan, Kim Loan, Giáng
Thu,... Tổ chức Chương Tŕnh Tuyển Lựa Ca Sĩ
được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh (nằm
trên đường Vơ Tánh, góc đường Nguyễn Cư Trinh),
do Đài Phát Thanh Sài G̣n thực hiện và được trực
tiếp truyền thanh trên toàn quốc. Hoạt động mạnh
mẽ là cùng sáng tác nhạc. Công ty Lê Minh Bằng
gặt hái được những thành quả tài chánh khổng lồ
nhất trong phạm vi sáng tác tân nhạc của thuở
vàng son đó. Ngoài ra LMB c̣n là cố vấn cho hăng
dĩa hát Asia và lập ban nhạc Sóng Mới tŕnh diễn
nhạc trên Đài Phát Thanh Sài G̣n.
Duy Khiêm viết về nhiệm vụ của những thành viên
trong nhóm Lê Minh Bằng như sau:
"Điều đầu tiên mà mọi người vẫn thường hay thắc
mắc là trong một bản nhạc của nhóm Lê Minh Bằng
th́ ai là người viết nhạc và ai là người viết
lời (tức là giai điệu và ca từ)? Theo sự tiết lộ
của thi sĩ Nguyên Sa, là một người bạn rất thân
với nhạc sĩ Anh Bằng, qua một bài viết trước kia
th́ hầu như nhạc sĩ Anh Bằng là người sáng tác
tất cả những bài hát của nhóm Lê Minh Bằng. Ông
sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời của các bài
ca. Hai nhạc sĩ kia là Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ
góp ư và sửa chữa chút ít mà thôi trước khi cho
phổ biến. Sự phân công về nhiệm vụ của từng
người cũng rất lạ lùng và rất thuận tiện tùy
theo nghề nghiệp và sở thích của mỗi người.
Nhạc sĩ Anh Bằng vốn là người trầm lặng, ít nói,
không thích phô trương xuất hiện trên sân khấu
hay trước đám đông. Ông thích dành nhiều th́ giờ
cho việc suy tư, trầm mặc trong yên lặng để sống
với sáng tác theo tâm hồn nghệ sĩ của ông. Ông
có một tâm hồn hết sức bén nhạy, dễ xúc cảm và
vô cùng lăng mạn như lời Nguyên Sa thuật lại.
Nên ông lănh phần sáng tác các ca khúc cho nhóm.
C̣n nhạc sĩ Lê Dinh là công chức ở đài phát
thanh Sài G̣n, nên ông có dịp theo dơi, liên lạc
với các ban nhạc cộng tác với đài. Ông cũng góp
ư và giúp cho việc phát thanh, phổ biến những
sáng tác mới theo yêu cầu của khán giả khắp nơi
liên lạc về đài. Riêng Minh Kỳ là Đại Úy cảnh
sát nên lănh nhiệm vụ giao dịch với các nhà in
để thúc hối họ in ra kịp thời hạn những bản nhạc
cần gởi đi các đại lư, cửa hàng văn hóa phẩm để
bán."
Trước năm 75 các bản nhạc (music sheet) có ghi
lời và note nhạc được in trên giấy khổ to
(11.00"x17.00") xếp làm đôi. Mỗi một bản nhạc
như vậy được bán với giá 5 đồng VNCH. Có nhiều
bài hát của nhóm Lê Minh Bằng vừa xuất bản lần
đầu 10,000 ấn bản đă bán sạch hết ngay trong
tuần lễ đầu tiên. Các đại lư liên lạc yêu cầu
tái bản thật nhanh để tung ra thị trường. Thành
công vượt bực trong những nhạc phẩm của nhóm Lê
Minh Bằng phải nói là bản “Chuyện T́nh Lan Và
Điệp”. Với số thu kếch sù như vậy th́ việc chia
chác ra sao? Bài Duy Khiêm kể là:
"Lợi tức của nhóm Lê Minh Bằng thu vào được hàng
triệu đồng như vậy, th́ việc phân chia làm sao?
Nhạc sĩ Anh Bằng cho biết là mọi khoản tiền kiếm
được đều được chia ra đồng đều làm ba phần cho
ba nhạc sĩ, bất kể là nhiệm vụ của mỗi người ra
sao. Công ty huyền thoại Lê Minh Bằng này đă
hoạt động liên tục thành công như vậy đó trong
suốt chín năm trời (1966-1975) và đă kiếm được
hàng chục triệu đồng VNCH và họ cũng đă là những
nhạc sĩ giàu nhứt thời đó. Nhưng ngoài việc hợp
tác làm ăn chung này th́ cả ba nhạc sĩ này cũng
có làm ăn riêng rẽ, tùy theo hoàn cảnh và điều
kiện của từng người."
Người có tinh thần bén nhậy về khả năng kinh
doanh không ai khác hơn là Anh Bằng, bài viết
nói về khía cạnh này là: "Giàu nhất trong bộ ba
này là nhạc sĩ Anh Bằng. Ngoài lănh vực kinh
doanh âm nhạc, gia đ́nh ông c̣n có những cơ sở
thương mại khác hái ra bộn tiền như hệ thống các
quán cà phê có thương hiệu là Làng Văn ở đường
Phan Kế Bính và Trần Quang Khải (Sài G̣n). Chủ
nhân của ḷ bánh ḿ Michou Frères ở đường Trần
Quang Khải cũng là Anh Bằng. Ông cũng là sở hữu
chủ của một công ty xe đ̣ chạy tuyến đường Sài
G̣n-Đà Lạt. Tất cả những công việc giao dịch
kinh doanh này ông đều giao cho các quản lư điều
khiển để ông dành hết th́ giờ vào nghệ thuật âm
nhạc của ông." Như đă đề cập, nhạc sĩ Anh Bằng
và gia đ́nh di tản sang Mỹ từ năm 1975 với số
tuổi vừa đúng tri thiên mệnh, 50, nhạc sĩ Anh
Bằng vẫn tiếp tục hoạt động trong lănh vực âm
nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng
nhạc cassettes tên là Dạ Lan trong những năm
1981-1990. Là một trung tâm sản xuất băng nhạc
thành công, Anh Bằng cho thấy năng khiếu âm nhạc
và kinh doanh được phối hợp nhịp nhàng như thuở
trước 75. Rồi sau này ông về làm cố vấn cho
Trung Tâm Asia Entertainment bắt đầu từ năm
1990. Trong suốt ba mươi mốt năm qua, nhạc sĩ
Anh Bằng đă không ngừng sáng tác nhạc. Nếu trước
năm 1975 số lượng các nhạc phẩm phổ thơ của ông
chiếm chừng 10% trong tổng số các bài hát do ông
sáng tác, th́ sau này ra hải ngoại số bài hát
phổ thơ hoặc lấy ư từ những bài thơ sẽ nhiều hợn
điển h́nh như Trúc Đào, Chuyện Giàn Thiên Lư,
Chuyện T́nh Hoa Trắng, Chuyện Hoa Sim, Hiến
Chương T́nh Yêu, Anh C̣n Nợ Em, Gửi Người Dưới
Mộ, Truyện Kiều,...” (Nhạc sĩ Lê Dinh)
Những nhạc phẩm phổ từ thơ:
Trong DVD Asia-52, tôi nhớ khi xem tiết mục về
Hồ Dzếnh và bài "Anh Cứ hẹn", nhạc Anh Bằng được
viết năm 1986, phổ từ thơ Hồ Dzếnh, bài "Ngập
Ngừng":
"Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé
Để một ḿnh em dạo phố lang thang
Quán vắng quanh đây nụ hôn quá nồng nàn
Em bước vội để che hồn trống vắng
Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé
Để chuyện t́nh em đợi đến si mê
Những lúc xa nhau là tiếng sóng gần kề
Không dỗi hờn xót xa làm ướt mi
T́nh yêu chỉ đẹp phút hẹn thề
T́nh yêu sẽ buồn khi bước vào ṿng đam mê
T́nh như trái mộng chín rung rinh trên đầu cành
T́nh như nắng lụa hóa mộng mơ..."
Theo bài viết của Nguyễn Tấn Long dựa vào tài
liệu Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, quyển hạ. Ấn
Hành Đông Xuân th́:
Thi Sĩ Hồ Dzếnh có tên thật là Hà Triệu Anh,
sinh khoảng năm 1919. Ông cho xuất bản những tác
phẩm sau:
Quê Ngoại (thơ, gồm những thi bản góp nhặt từ
năm 1935 đến 1942, xuất bản năm 1943);
Hoa Xuân Đất Việt (thơ, gồm 15 thi bản);
Chân Trời Cũ (tập Hồi kư, xuất bản năm 1942 và
do nhà Hoa Tiên, Sài-g̣n tái bản năm 1968);
Một Truyện T́nh 15 Năm Về Trước (tiểu thuyết, kư
bút hiệu Lưu thị Hạnh, do nhà Hoa Tiên, Sài G̣n
tái bản năm 1968);
Hai Mối T́nh hay Tiếng Kêu Trong Máu (truyện dài,
kư bút hiệu Lưu thị Hạnh, do nhà Hợp Lực, Sài
G̣n tái bản năm 1968);
Dĩ Văng (đoản thiên tiểu thuyết)
Những Vành Khăn Trắng (tiểu thuyết, kư bút hiệu
Lưu thị Hạnh);
Đường Kẽ Mănh (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật ,số
187, 12-12-1943);
Nhà Nhiều Con (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật,
số 206, 11-6-1944).
và nhiều truyện ngắn đăng rải rác trong các giai
phẩm xuất bản vào thời tiền-chiến.
Vào thời tiền chiến, có một tập thơ ra đời: tập
Quê Ngoại của Hồ Dzếnh. Nội nghe cái tên ông
cũng đủ làm người ta lưu tâm đến tác phẩm. Và
nhà xuất bản Á châu ấn cục đă ưng ư tác phẩm khi
giới thiệu cùng độc giả những lời sau đây:
"Lần đầu tiên thi ca Việt-nam được tô điểm một
cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của nhà
thơ ngoại quốc." Hồ Dzếnh là người gốc Minh
Hương, khiếu làm thơ của ông là sự thiên phú cho
những áng thơ thật mượt mà, ví dụ bài "Ngập
Ngừng" (tức nhạc "Anh Cứ Hẹn"), các bài khác của
ông như: "Tưởng Chuyện Ngàn Sau", "T́nh Xưa", "Sáng
Quê", "Xuân Đôi Ta",... Nhà xuất bản Á châu ấn
cục viết tiếp:
"Tên tuổi người Minh-hương ấy, văn học quốc ngữ
không nề hà ǵ mà chẳng đón tiếp như đă đón tiếp
bao nhiêu nhà văn hữu tài." Bài hát "Anh Cứ hẹn",
ḥa âm do Sỹ Đan, tŕnh bày bởi 4 giọng ca trẻ
gồm Cardin, Trish Thùy Trang, Thùy Hương và Dạ
Nhật Yến.
Asia-52 c̣n có mục Trịnh Hội phỏng vấn hai nhà
thơ Yên Thao và Kiên Giang. Tôi cũng tham khảo
nhiều tài liệu văn học, nên những tài liệu sống
mà Hội lấy được từ các nhân chứng sống sẽ rất
tốt cho các thế hệ mai sau này biết được các văn
nghệ sĩ sống ra sao vào thời kỳ của họ.
Nhà thơ Yên Thao có tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh,
sinh ngày 21-1-1927 quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm,
Hà Nội. Bài thơ của ông về giàn thiên lư có tên
là "Nhà Tôi", có cốt chuyện là vào năm 1949, ông
công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo
một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú
cạnh sông ở một làng đồi.Trong lúc đợi chờ giờ
nổ súng, ông tṛ chuyện với anh em và được biết
ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó.
Phía bên ấy đang c̣n mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ
được chừng tháng th́ chiến tranh bùng nổ. Chàng
trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ
trẻ. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới
giàn thiên lư của nhà ḿnh. Yên Thao rất thích
câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ
người viết đă ḥa nhập được với người kể nên bài
thơ sau này được phổ biến rộng rải khắp nơi.
Chuyện t́nh này được nhạc sĩ Anh Bằng đưa vào
nhạc qua tựa bài "Chuyện Giàn Thiên Lư" như sau:
"Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau.
Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.
Má nàng hồng thơm mùi thơm lúa non.
Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.
Em nh́n theo bằng nước mắt chia phôi.
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Này anh lính chiến, người bạn pháo binh.
Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật
buồn.
Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở cuối chân đồi,
có giàn thiên lư, có người tôi thương."
Về nhà thơ Kiên Giang th́ tiểu sử của ông có tên
thật Trương Khương Trinh, bút hiệu khác Hà Huy
Hà; sinh ngày 17.2.1929 tại Rạch Giá. Hai tác
phẩm đă xuất bản là:"Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo
Tím" (1962) và "Lúa Sạ Miền Nam" (1970). Điều mà
tôi nhớ khi xem về tiểu sử Nguyễn Bính lúc ông
trôi dạt xuống miệt Rạch Giá năm 1942, ông sống
giang hồ lăng tử, có những ngày không có tiền
mua gạo, th́ Kiên Giang Hà Huy Hà lén gia d́nh
xúc gạo đem tiếp tế cho Nguyễn Bính, hai ông
thân nhau, tâm đắc qua thi ca trữ t́nh, lăng mạn.
Ngày nay cả hai đă gặp nhau trong vườn hoa văn
học sử Việt Nam. Bài "Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo
Tím" là tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Kiên
Giang Hà Huy Hà, được viết năm 1958. Sau bài thơ
này được nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành nhạc là bài
"Chuyện T́nh Hoa Trắng", nói về một chuyện t́nh
lăng mạn và cảm động:
"Lâu
quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Từ lúc giặc tràn qua xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm vang đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch nát xây tường cũ
Chiếm lại lầu chuông nóc giáo đường
Nhưng rồi người trai anh hùng ấy
Đă chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ..."
Kế đến là người thi sĩ có dính dấp đến phản
kháng nhà cầm quyền Cộng Sản ngay những năm của
phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Đó là thi sĩ Hữu
Loan. Tiểu sử của ông được ghi nhận như sau: Hữu
Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, quê anh ở Thôn
Vân Hườn, xă Nga Lĩnh, Huyện Nga Sơn, Thanh Hoá.
Cha Hữu Loan là một nhà nho nghèo. Lúc c̣n nhỏ
Hữu Loan thường nghe cha ḿnh ngâm thơ của cụ
Nguyễn Công Trứ và Hữu Loan đă thấm nhuần hai
câu thơ :
"Làm
trai đứng ở trong trời đất.
Phải có danh ǵ với núi sông."
Năm 1956, phong trào Văn nghệ sĩ đ̣i tự do sáng
tác, tạo ra thành một vụ án văn học và chính trị.
Nhiều văn nghệ sĩ trong nhóm “Nhân văn - Giai
phẩm” bị treo bút, bắt đi lao động, cải tạo, tù
đày. Hữu Loan v́ tham gia các tạp chí “Nhân văn”
và “Đất mới” nên bị quản thúc tại quê nhà, và
cấm không được liên lạc với ai. Hữu Loan với
phong cách bất khuất, không sợ bạo lực, ông sống
với lương tâm và lẽ phải. Ông chỉ Hội chữ "Tâm"
trên bàn thờ qua nét thư họa là điều ông tin
tưởng và tôn thờ, mỗi người hăy sống với cái "Tâm"
của chính ḿnh. Hữu Loan được quần chúng mến mộ
qua bài thơ nổi danh “Màu Tím Hoa Sim”, v́ nó
phản ảnh mối t́nh thật của ông ngoài đời. Một
bài thơ được phổ biến trong nhiều thập niên qua,
rồi nó đă được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành
những bài hát làm say mê quần chúng từ thành thị
đến tận nông thôn miền Nam ngày trước. Nhạc sĩ
Anh Bằng cũng đă phổ bài thơ này thành "Chuyện
Hoa Sim":
"
Rừng hoang đẹp nhất hoa màu tím
Chuyện t́nh thương nhất chuyện hoa sim
Có người con gái xuân vời vợi
Tóc c̣n ngăn ngắn chưa đầy búi
Ngày xưa nàng vẫn yêu màu tím
Chiều chiều lên những đồi hoa sim
Đứng nh́n sim tím hoang biền biệt
Nhớ chồng chinh chiến miền xa xăm
Ôi lấy chồng chiến binh
Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi trở lại
Sợ khi ḿnh đi măi, sợ khi ḿnh không về
Th́ thương người vợ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em nhỏ hậu phương
Mà chết người em gái tôi thương..."
Liên khúc ba nhạc phẩm "Chuyện Hoa Sim", "Chuyện
Giàn Thiên Lư" và "Chuyện T́nh Hoa Trắng của Anh
Bằng được Trúc Hồ soạn phần ḥa âm qua 5 giọng
hát Băng Tâm, Y Phụng, Đặng Thế Luân, Mạnh Đ́nh
và Ngọc Huyền.
Tiết mục thơ sau cùng mà tôi nhớ là về thi sĩ
Nhất Tuấn và bài thơ "Hoa Học Tṛ" của ông được
nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc vào năm 1965 dưới tên
"Bây Giờ C̣n Nhớ Hay Không". Nhạc sĩ Phạm Anh
Dũng giới thiệu tôi với thi sĩ Nhất Tuấn. Trong
một dịp nói chuyện phone với tác giả của bài thơ
"Hoa Học Tṛ", ông kể lại như sau: "Tôi làm bài
thơ Hoa Học Tṛ vào khoảng cuối thập niên
(1960). Thành thật mà nói, tôi bị ảnh huởng bởi
mấy câu thơ của nhà thơ đàn anh, thi sĩ Nguyễn
Tố, đại khái là tôi thích mấy câu lục bát này
của Nguyễn Tố như sau:
"Nàng
rằng hoa rụng ḿnh ơi
Nhặt cho đầy giỏ rồi chơi vợ chồng
Thế mà khi tới loan pḥng
Th́ ai tôi có là chồng nàng đâu..."
Và tôi làm bài thơ của tôi khi nhớ lại là cái
thuở ngày xưa c̣n bé cũng chơi với mấy đấng bạn
nhi đồng nam nữ xoa hoa dâm bụt, hoa phượng vào
má nhau cho đỏ cho đẹp như cô dâu ngày đám cưới.
Chỉ có vậy thôi. Rồi cái số của tôi là, ngay từ
những bài thơ đầu, tự dưng ưa làm thơ mà nhiều
xui xẻo khi vào đoạn kết những bài thơ, để cho
có vẻ lâm li bi đát buồn vơi trong các tập "Truyện
Chúng Ḿnh" của những ngày xa xưa đó lại có bài
thơ "Hoa Học Tṛ" mà bạn hỏi." Thi sĩ Nhất Tuấn
rất vui tính và hẳn mang nhiều nét nghệ sĩ tính,
ông cho biết bài thơ "Hoa Học Tṛ" được 3 nhạc
sĩ phổ thành nhạc là nhạc sĩ Hoàng Lang (giáo sư
dạy nhạc tại trường trung học Petrus Kư, rồi
nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh và nhạc sĩ
Anh Bằng.
Sơ qua về tiểu sử của Nhất Tuấn th́ tên thật của
ông là Phạm Hậu, phục vụ trong QLVNCH, cấp bậc
trung tá (04/75) tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính
Tri. Theo thời gian tùng sự th́ ông lần luợt chỉ
huy các đơn vị Văn Nghệ Quân Đội, các Đài Phát
Thanh Quân Đội tại Đông Hà, Huế, và Sài G̣n. Bên
ngành dân sự, không kể nhiều chức vụ chỉ huy
khác, chỉ riêng trong ngành truyền thông, ông
cũng là Giám Đốc các Đài Phát Thanh Nha Trang,
Sài G̣n, và sau là Hệ Thống Trưởng Hệ Thống
Truyền Thanh Việt Nam của Việt Nam Cộng Ḥa. Về
sau ông qua nhận chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Tấn
Xă. Tưởng cũng nên ghi nhận thêm vào năm 1954
ông phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù, năm 1961
thuyên chuyển sang Thuỷ Quân Lục Chiến. Ông yêu
đời lính chiến. Chính v́ thế ông đă sáng tác hai
tác phẩm "Đời Lính", tập truyện 1 và 2 về đời
quân ngũ do nhà sách Khai Trí, Sài G̣n xuất bản
và tái bản trước 1975. Thi phẩm của Nhất Tuấn mà
nhiều người biết đến là tác phẩm "Truyện Chúng
Ḿnh". Hiện nay ông sống tại thành phố Seattle,
thuộc tiểu bang Washington, đă về hưu sau gần 20
năm làm công chức cho chính phủ Hoa Kỳ.
Bài ca "Bây Giờ C̣n Nhớ Hay Không" được tŕnh
bày qua hai giọng hát truyền cảm của Nguyên
Khang và Diễm Liên :
"Bây
giờ c̣n nhớ hay không
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa
Ngây thơ anh rủ em ra
Baỏ nhặt hoa phượng để mà chơi chung
Bây giờ c̣n nhớ hay không ?
Anh đem cánh phượng tô hồng má em
Để cho em đẹp như tiên
Nhưng em không chịu sợ lên trên trời
Lên trời hai đứa hai nơi
Thôi em chỉ muốn làm người trần gian
Hôm nay phượng nở huy hoàng
Sao t́nh hai đứa lỡ làng duyên nhau
Rưng rưng phượng nở trên đầu
T́m em tối biết t́m đâu bây giờ ? "
Tựu trung, tác phẩm văn nghệ Asia-52 đă đưa khán
giả đi từ Hà Nội cổ kính đến Huế thơ mộng, rồi
vào cao nguyên Đà Lạt, sang vùng duyên hải Nha
Trang, rồi xuống tận cùng phía nam có thiên
nhiên hùng vĩ của Hà Tiên, bao trùm cả một bầu
trời quê hương đất nước với nhạc của nhóm LMB.
Tôi nghe tiếng nhạc có "Đêm Nguyện Cầu" với bộ
ba Trung Chỉnh, Chế Linh và Thanh Lan, có "Bóng
Đêm" với một Dalena của Mỹ Châu phối hợp với
chất giọng Thái Doanh Doanh của Phương Đông, có
"Nỗi Ḷng Người Đi", có "Linh Hồn Tượng Đá" với
Minh Thông và Khải Tuấn,... có nhiều bài của LMB
được tŕnh bày. Nhưng tiết mục khá đặc biệt là
sự xuất hiện của nhóm Sao Băng. Bài "Ly Café
Cuối Cùng" trước đây tại Sài G̣n do ban tam ca
Sao Băng hát, những ngày xưa c̣n có Duy Mỹ, bây
giờ chỉ c̣n lại Thanh Phong va Phương Đại. Khán
giả không khỏi xúc động khi nghe những chia sẻ
Thanh Phong giới thiệu về người bạn ḿnh đi đứng
khó khăn và nói chuyện không c̣n b́nh thường nữa
sau một cơn bạo bệnh. Bài ca kỷ niệm đó nay được
thế hệ trẻ ôn lại quá khứ năm xưa, âm thanh ngày
cũ với ba giọng hát trẻ: Duy Trường và Tường
Nguyên và Tường Khuê.
Nhạc LMB có nhiều tác phẩm đă vào quảng đại quần
chúng. Tôi lắng nghe âm thanh mới lạ từ kỹ thuật
ḥa âm, phối khí của Trung Tâm Asia do những tài
năng trẻ như Trúc Sinh, Trúc Hồ và Sỹ Đan. Chính
họ đă đem luồng gió âm nhạc khác biệt trong cái
mới lạ của âm nhạc Asia. Asia hướng về tương lai
tươi trẻ của nhiều người trẻ, bảo tồn nét văn
hóa cũ, áp dụng đường hướng mới.
Asia bị nhà cầm quyền CSVN nghiêm khắc lên án.
Không hề chi. Đường nào ngay thẳng th́ ta hăy cứ
đi. Như nhà thơ Hoàng Cầm nhắn nhũ người trẻ hăy
làm những ǵ ḿnh thấy đúng hay như với nhà thơ
Hữu Loan nhắn gửi hăy sống với cái Tâm chân
thiện của chính ḿnh. Nhà thơ Tagore đă từng nói:
"Bạo lực thất bại trước lương tâm con người".
Tôi cầu chúc các bạn trẻ Asia hăy vững tâm làm
theo ư nguyện ḿnh để bảo vệ nét Chân Thiện Mỹ,
v́ đó là nền tảng của nghệ thuật, các bạn nhé!
(Nhà thơ Hữu Loan)
Hoạt cảnh cuối cùng được MC Leyna Nguyễn dùng
Anh ngữ diễn đạt đến các em thuộc thế hệ nhỏ
không mấy rành Việt ngữ như lời chúc an b́nh cho
xứ sở Việt Nam:
"Throughout
this program, we enjoyed the music of LMB, their
messages are simple and clear that let love
replaces hatred, and may there be peace on
earth. So that we can all enjoy the wonderful
things that life offers. But in this world
today, wars are still being fought, the sound of
gunfire still rings in the distance, and life is
still being sacrificed in the pursuit of peace.
Please join us in a final song as we pray for a
world, in which men will lay down their guns and
embrace one another with kind hearts, a world of
peace, love, liberty and justice for all.".
Kế tiếp MC Nam Lộc phát biểu như lời kêu gọi
nguyện cầu cho quê hương Việt Nam:
"Thế giới mà chúng ta đang sống vẫn đắm ch́m
trong khói lửa chiến tranh. Súng vẫn nổ và máu
vẫn rơi. Khổ đau vẫn bao trùm nhân loại. Xin quư
vị hăy cùng chúng tôi dâng lên lời nguyện cầu để
mọi người đều được sống b́nh yên và tận hưởng
những ǵ cao quư nhất mà Thượng Đế đă ban cho:
Đó là Nhân Quyền, Tự Do, Công Lư và Ḥa B́nh qua
nhạc phẩm Đêm Nguyện Cầu, của LMB. Sẽ được toàn
thể nam nữ nghệ sĩ góp mặt trong chương tŕnh
hôm nay tŕnh bầy gởi đến quí vị sau đây." Bài
hát "Đêm Nguyện Cầu". được toàn thể ca sĩ
tham dự Asia-52 đồng ca:
"Hăy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn ḿnh
người ơi
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói
dối
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai
Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng
sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm
máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm
ngàn ưu sầu
Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hăy lắng nghe người dân hiền.
V́ đất nước đang c̣n ưu phiền.
C̣n tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.
Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng
sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm
máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội t́nh
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh b́nh?"
Việt Hải Los Angeles |
|
|
|