|
T́nh Toán Học
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Trich Canh
Thep.
1. T́nh Toán Học
Từ nhiều năm qua tôi hay nhận được thư của các bạn trẻ, thế hệ thanh
niên, sinh viên lớn lên ở nước ngựi. Phần lớn là những bạn đă nghe tôi
nói chuyện ở những địa phương có đông người Việt hay đọc những bài viết
của tôi trên những báo Việt ngữ. Trong những thư, có hai vấn đề, hay nói
cho đúng hơn là hai câu hỏi thường hay được nêu ra để tôi viết trả lời.
Nhiều ngựi muốn biết là tôi làm thế nào để chia xẻ thời gian vừa thi
hành bổn phận trong quân đội của ḿnh vừa học thêm những điều muốn học,
đặc biệt là về môn toán học thật khó khăn, nếu không có thầy chỉ dẫn
tường tận. Cũng có những bạn đă được những người lớn tuổi hơn cho biết
là trước đây tôi đă viết một chuyện t́nh thật thơ mộng làm say mê người
đọc và ước ao được thấy tôi tiếp tục viết những chuyện t́nh cảm như ngày
xưa tôi đă viết. Để trả lời những câu hỏi, và để độc giả có giờ phút mua
vui khi xuân sang, tôi sẽ bắt chước những thi nhân đă nói về Nàng Thơ
của ḿnh, để trong bài viết tâm t́nh này nói đến Nàng Toán của tôi.
Thuở Ban Đầu
Tôi không nhớ là đă mê Toán Học, mà người ta đă gọi là Nữ Hoàng của các
môn Khoa Học, từ bao giờ nhưng có thể gọi là đó là mối t́nh đầu của tôi,
và để rồi trọn đời vương lụy, như trong những câu hát
Gặp em, vương mối t́nh đầu,
Gặp em, chuốc lấy muộn sầu.
Để rồi một kiếp thương nhau,
Giận hờn trong trái tim đau.
Từ thuở nhỏ tôi
đă mê thích toán học, nhưng không phải v́ thế mà tôi có thể làm mấy phép
tính cộng hay trừ nhanh hơn bạn bè trong lớp. Điều đó thuộc về phạm vi
số học mà về môn này tôi lại không thành thạo. Đôi khi phải giúp mẹ tôi
tính tiền chợ mà tôi cứ cộng sai be bét. Tôi hiểu biết thêm về toán học
sau khi đọc được một bài viết của giáo sư Hoàng Xuân Hăn trong một số
Báo Khoa Học của ông, và h́nh như là số đầu tiên ra mắt vào tháng Giêng
năm 1942 th́ phải. Theo giáo sư họ Hoàng th́ toán học không phải là mấy
phép tính cộng, trừ, nhân, chia hay khai phương v́ đó chỉ là toán pháp
nghiă là phép tính. Toán học cũng không phải là cách đo diện tích của
một h́nh hay thể tích của một khối, nhưng nhờ toán học mà người ta t́m
ra được những định lư vĩnh cửu như ta biết được rằng trong tất cả các
h́nh phẳng mà có cùng một chu vi th́ h́nh tṛn có diện tích lớn nhất.
Khái niệm lớn và nhỏ khác nhau nẩy nở cùng một lúc với sự phát triển óc
thông minh và tư duy toán học của loài người. Khi người ta nói A lớn hơn
B, và B lớn hơn C, vậy th́ A lớn hơn C, tức là người ta đă dùng lư luận
toán học. Theo tôi nghĩ th́ những người có trực giác mạnh và có óc lư
luận th́ học toán sẽ dễ dàng. Thuở nhỏ mỗi lần thấy ai nói ǵ mà trái
ngược lại với những điều tôi suy luận ra được, và tôi thấy ngay là lời
nói ấy không đúng, là tôi đặt ngay câu hỏi, có khi cả với người trên,
thường thường là với mẹ tôi, và luôn luôn bị mắng át đi là :"thằng này,
mày chỉ lư sự cùn". Cái lư sự cùn của tôi thật ra ít người bẻ lại được.
Bố mẹ tôi khi thấy tôi hay lư sự lại không nghĩ rằng tôi sẽ trở nên một
học sinh giỏi về toán mà cứ cho rằng với cái mồm mép hay bắt bẻ như vậy
để t́m ra chân lư th́ tôi sẽ học để trở thành một luật sư.
Mối t́nh của tôi với Nàng Toán cứ tăng dần theo với thời gian. Mỗi lần
học thêm được một môn học mới tôi lại khám phá thêm ra được một vẻ đẹp
của toán học. Mới đầu là môn đại số. Theo phương pháp này th́ muốn giải
một bài toán, nghĩa là t́m ra một số chưa biết, gọi là ẩn số, th́ cứ
dùng chữ x để gọi số này rồi theo đầu bài mà viết ra phương tŕnh. Sau
đó giải phương tŕnh để t́m ra trị giá của x. Mới học được phương tŕnh
đại số bậc nhất tôi mang ra giải bài toán mà phần lớn chúng ta ai cũng
biết v́ đă làm khi ở lớp Nhất bậc tiểu học là :
"Vừa gà vừa chó có 36 con. Cộng lại cho tṛn 100 chân chẵn. T́m số gà và
số chó".
Tôi giải bài toán bằng đại số thật là ngon lành không phải dùng lư luận
bậc tiểu học khi xưa là thí dụ tất cả đều là chó th́ sẽ có 36 x 4 = 144
chân, tức là thừa ra 44 chân. Nay mỗi lần hóa phép biến một con chó
thành một con gà th́ bớt đi được 2 chân. Muốn bớt đi đúng 44 chân th́
phải biến 22 con chó thành gà. Đó là số gà ở trong sân trại và dĩ nhiên
số chó phải có là 36 - 22 = 14 con. Chính v́ cái lư luận lẩm cẩm biến
chó thành ra gà mà tôi thấy không thoải mái với lối giải khi xưa. Phương
pháp đại số đi thẳng vào vần đề đă giải tỏa cho tôi nỗi ấm ức này. Tôi
nghĩ lối dùng ẩn số x thật là kỳ diệu. Nếu gọi x là số gà th́ tức là có
2x là số chân gà. C̣n lại (36-x) là số chó và như thế số chân chó sẽ là
4(36-x). Cộng lại phải được 100 chân nghĩa là ta có phương tŕnh
2x + 4(36-x) = 100
Giải ra ta sẽ có ngay x = 22 . Bài toán được tôi nhớ măi cho đến bây giờ
nên cách đây vài năm tôi viết lại như là một chuyện vui toán học để cho
một ông Trạng Nguyên nước Việt đi sứ sang Bắc Kinh và dùng phương pháp
đại số với ẩn số x để giải quyết được nhiều việc cho Hoàng Đế thiên
triều. Bài viết được đăng trên báo Phụ Nữ Việt với nét hư họa của họa sĩ
Long Ân.
Cái tinh thần toán học đă giúp cho loài người luôn luôn cải tiến môn học
này để đi tới tuyệt đối của chân thiện mỹ. Chính cái tinh thần này, h́nh
như đă có sẵn trong con người tôi, đă giúp cho tôi hành xử chân thật
trong cuộc đời. Đôi khi cũng có người nhắc nhở lại cho tôi sự việc này.
Trong số báo ra ngày 4 tháng Mười, năm 2002 của tuần báo Việt Mercury ở
California, có bài viết của giáo sư Đỗ Qúy Toàn làm tôi chú ư. Đỗ Qúy
Toàn là nhà thơ, nhà báo, và ông cũng là giáo sư dạy tài chánh học tại
các đại học McGill, Québec và Concordia ở Canada. Ngoài ngành chuyên môn
về "lư thuyết tài chánh và thị trường vốn" ông c̣n là Chủ bút tạp chí
Thế Kỷ 21 tại California từ năm 1989 cho đến năm 2001. Tôi viết giới
thiệu dài ḍng về chuyên gia kinh tế Đỗ Qúy Toàn, tác giả của bài báo "Tương
Thị Mạc Nghịch" trong mục hàng tuần về "Đời Sống Kinh Tế" của Việt
Mercury mà tôi đọc được, là cốt để bạn đọc hiểu được cảm xúc của tôi lúc
bấy giờ. Tôi xin phép tác giả và Tuần báo Việt Mercury được trích nguyên
văn những câu mở đầu của bài viết như sau :
"Mỗi sinh hoạt dùng đến chất xám đều có một thứ vui thú riêng người
ngoài không hiểu được ở cơi nhân gian không thể hiểu, nói như thi sĩ Du
Tử Lê.
Tôi nhớ thủa nhỏ học toán với giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, thầy giáo cùng
với cả lớp giải một bài toán xong rồi, giáo sư cứ đứng đó suy nghĩ không
nói ǵ cả. Nh́n ông một lúc th́ tôi cũng đồng ư. Cách giải đó đúng rồi,
nhưng không đẹp. Chắc chắn có thể t́m một cách giải đẹp hơn, "élégant"
hơn, như giáo sư Vinh hay diễn tả bằng tiếng Pháp.
Đối với người b́nh thường th́ giải được bài toán xong coi là đủ, nhưng
đối với một người yêu toán học th́ hạnh phúc ở đời là t́m được một bài
giải "élégant"."
Sau phần mở đầu này th́ tác giả bước vào phạm vi chuyên khoa của ḿnh.
Bài báo tất nhiên là viết cho những độc giả hàng tuần luôn theo dơi
những vấn đề kinh tế. Nhưng với tôi, nhờ đọc bài báo mà tôi lấy được
niềm tin, như người t́m ra được chân lư, là học toán, và hiểu được tinh
thần toán học giúp ta thấy cuộc đời tươi đẹp hơn, v́ ta luôn luôn cố t́m
ra cái khía cạnh tốt đẹp của ngay cả những sự việc rất b́nh thường.
Môn đại số cũng cần phải chút tính toán lẩm cẩm nên tôi vẫn chưa hoan hỷ
cho lắm. Cho đến lúc được học những định lư đầu tiên trong môn H́nh Học
th́ tôi hoàn toàn bị toán học cám dỗ và giấc mộng ban đầu của tôi là trở
thành một toán gia. Trong năm đầu tiên đuợc biết tới môn h́nh học th́
tôi nhận thấy ngay rằng nhiều tính chất và định lư h́nh học tương quan
đến những h́nh tam giác và ṿng tṛn tôi đă tự t́m ra được khi c̣n ỡ
những lớp tiểu học tôi tập vẽ những h́nh này bằng compa và thước kẻ
thẳng. Theo tôi th́ trong toán học, môn h́nh học thật là đẹp tuyệt vời.
Triết gia đại danh của Hy Lạp đời xưa là Plato (428-348 trước Công
Nguyên) đă thuyết giảng cho môn đồ ở một vườn cây nhiều bóng mát ở gần
thành Athens và đặt tên cho khu đó là Akademeia và cho khắc trên cửa vào
hàng chữ : "Ai không phải là nhà h́nh học th́ đừng vào cửa này".Ở thời
đại của Plato, H́nh học được coi như là một môn toán học siêu đẳng.
Người đời sau cũng đă dựa theo tổ chức của Plato và lập ra những Viện
Hàn Lâm, gọi theo tiếng Pháp là Académie hay theo tiếng Anh là Academy
để chỉ một hội trí thức với số thành viên hạn chế nhằm phát huy một bộ
môn văn hóa, khoa học hay kỹ thuật.
Chuyên Khoa Toán Học
Tuy những ông thầy ở những lớp tiểu học cũng đă khen tôi là có năng
khiếu về toán và khuyến khích tôi theo đuổi ngành này, nhưng phải đợi
cho đến những năm cuối của bậc trung học và những năm bắt đầu vào đại
học tôi mới quyết định gạt bỏ hết những cám dỗ khác như Dược khoa hay
Văn chương thuần túy để chuyên tâm theo toán học. Giáo sư Phó Đức Tố là
vị thầy đầu tiên của tôi có một tŕnh độ cao học về môn này với văn bằng
cử nhân toán học ông đạt được trong những năm theo học ở Pháp. Tôi theo
học chương tŕnh Tú Tài Toán với thầy Tố ở Trường Trung Học Nguyễn
Khuyến, Nam Định, lúc đó theo kháng chiến chống Pháp được di chuyển về
Yên Mô ở Ninh B́nh. Những năm theo học bậc chuyên khoa với thầy Tố ở Yên
Mô đă giúp cho tôi nhận thức rằng phải có một lư luận chặt chẽ, không có
sơ hở, trước khi quyết đoán bất kỳ một điều ǵ. Tôi có được ư thức này
sau khi đă giải cặn kẽ chừng hai trăm bài toán h́nh học ở trong cuốn
Géométrie, Classe de Mathématiques của Brachet, dạo ấy chỉ có một cuốn
độc nhất truyền tay nhau giữa các học sinh lớp đệ Nhất B của thầy Phó
Đức Tố. Sau khi đậu Tú Tài Toán ở Yên Mô, Ninh B́nh vào năm 1949, tôi
vào trong Nam Đàn thuộc tỉnh Nghệ An để học Toán Học Đại Cương với giáo
sư Nguyễn Thúc Hào. Có thể nói là nhóm sinh viên học toán của chúng tôi
đă là những người ham mê kiến thức nên đă lặn lội tầm sư học đạo, đi xa
nhà hàng trăm cây số mà tiền thắt lưng chỉ đủ chừng một hay hai tháng ăn
ở. Lúc đó v́ chưa có một chính phủ quốc gia Viêït Nam, nên ở ngoài miền
quê dưới sự kiểm soát của Việt Minh chưa có nền đại học. Trên toàn quốc
chỉ có hai lớp mở ra để dậy toán học cao cấp, đặt ở địa phương đă có sẵn
giáo sư, là một lớp ở Nam Đàn, nơi quê hương di tản của giáo sư Nguyễn
Thúc Hào, và một lớp ở trên Việt Bắc là nơi có ông Nguyễn Xiễn đang làm
việc trong Ủy Ban Kháng Chiến Toàn Quốc. Lớp Toán của chúng tôi có chừng
hơn mười ngựi và ai cũng được mời làm gia sư cho một gia đ́nh khá giả
trong vùng để tạm thời có chỗ ăn ở theo đuổi việc học. Ngoài văn bằng cử
nhân Toán học, giáo sư Hào c̣n có một bằng cao học là bằng Giải Tích Cao
Cấp (Analyse Supérieure). Ông thường nói ở trong lớp là ông rất tiếc
không có dịp theo học cả văn bằng H́nh Học Cao Cấp (Géométrie Supérieure)
là một môn ông rất ưa chuộng. Theo lời ông giải thích th́ lúc đó ở Pháp
có 17 Khu Đại học mở chung quanh những đô thị lớn mà chỉ có Đại học
Paris và Đại học Marseille là có văn bằng H́nh Học Cao Cấp. Nhưng năm
cuối cùng ông theo học ở Paris th́ giáo sư giữ môn H́nh Học lại nghỉ
định kỳ nên ông đă chọn ghi tên học môn Giải Tích. Theo học ở Nam Đàn
được nửa năm th́ thân phụ tôi qua đời và tôi phải hồi cư về Hà Nội. Từ
đó trở về sau các giáo sư toán của tôi đều là người ngoại quốc, nhưng
bao giờ tôi cũng nhớ tới các vị giáo sư người Việt v́ các thầy đă là
những nguời khai tâm cho tôi, làm cho tôi thấy yêu thích môn toán học,
để mở cho tôi biết một chân trời mới có đầy hoa thơm cỏ lạ.
Những Nàng Toán Tôi Đă Gặp
Là một nhà khoa học, tôi không tin ở số mệnh và vẫn thường nghĩ là ḿnh
phải luôn luôn cố gắng tự lập lấy cuộc đời hơn là trông cậy vào duyên
may để tiến thân. Tuy vậy có một sự t́nh cờ là trong học tŕnh toán học
của tôi đă có hai người thuộc phái nữ giúp cho tôi đạt được ước nguyện.
Hè năm 1950 tôi trở về Hà Nội và sau khi thi lấy bằng Tú Tài tương đuơng
của chính phủ quốc gia lúc đó mới thành h́nh tôi ghi tên ở Trường Cao
Đẳng Khoa Học để học thi lấy văn bằng Toán Học Đại Cương là văn bằng đầu
tiên của chương tŕnh cử nhân toán học. Cùng một lúc tôi ghi tên học tập
sự dược khoa, và hàng ngày lui tới pḥng thí nghiệm ở nhà thương Phủ
Doăn. Chỉ vài tuần lễ sau là tôi thấy ngay là tôi không thể nào thành
một dược sĩ để hàng ngày đếm thuốc, thu tiền. Tuy trên giấy tờ th́ cái
École Supérieure des Sciences mà tôi ghi tên theo học thuộc về Bộ Quốc
Gia Giáo Dục của chính phủ Việt Nam, nhưng hàng ngày lui tới truờng th́
tôi thấy trừ mấy người thư kư văn pḥng c̣n từ khoa trưởng là ông Champy
tới các giáo sư đều là ngưới Pháp. Dĩ nhiên là sự giảng dậy thuần túy
bằng tiếng Pháp. Lớp Toán của tôi có hai giáo sư mà giáo sư chính là một
cô giáo có bằng thạc sĩ là cô Duhamel trông c̣n trẻ và cũng khá xinh đẹp.
Tôi gọi là cô không theo nghĩa thầy cô ḿnh vẫn dùng mà v́ cô giáo của
chúng tôi chưa có chồng, và sinh viên phải gọi là Mademoiselle Duhamel.
Vị giáo sư thứ hai là ông Moliné, thực ra lại là hiệu trưởng trường
trung học Albert Sarraut, nhưng v́ ông cũng là thạc sĩ toán học nên được
mời tới giảng đậy ở bên đại học. Ngay sau giờ học đầu tiên tôi đă được
cô giáo gọi tới văn pḥng và mời tôi nhận chức phụ tá cho giáo sư. Thật
ra tôi không hiểu tại sao cô Duhamel lại chọn tôi, v́ mới là giờ học đầu
tiên nên sự lựa chọn này không phải căn cứ lên điểm học. Nhờ làm
assistant cho cô giáo, mỗi tuần làm việc 20 giờ mà tôi được một bàn học
ở thư viện. Công việc làm thật là nhàn hạ, chỉ có hai tuần một lần thu
bài của sinh viên, có vào khoảng hai chục người và trả lại bài đă chấm
điểm. Thỉnh thoảng cô giáo lại tới t́m tôi ở thư viện và nhờ đánh máy
một bài viết về xác suất là môn nghiên cứu của cô. Mỗi bài chỉ có chừng
mười trang giấy là nhiều, nhưng cô cũng căn dặn tôi là không cần vội vă,
để dành thời giờ vào bài học là cốt yếu. Để chiều ḷng cô Duhamel, mổi
lần tôi đánh máy xong một bài lại để một tuần lễ mới nộp, mà lần nào cô
cũng cám ơn rối rít. Tiền lương phụ tá của tôi thừa thăi để ăn học, và
v́ được thảnh thơi học ở thư viện nên trong kỳ thi cuối niên học tôi làm
bài được dễ dàng và được chấm đậu thủ khoa của lớp với hạng ưu và được
luôn một học bổng để sang Pháp tiếp tục việc học. Nhưng cùng một lúc tôi
nhận được giấy động viên để theo học khóa I Trường sĩ quan trừ bị Thủ
Đức. Tuy phải bỏ giở sự học, không được tới trường, nhưng do sự giới
thiệu của cô Duhamel tôi vẫn được ghi tên để thi chứng chỉ Cơ Học Thuần
Lư (Mécanique Rationelle) năm tiếp theo ở Sài G̣n. Tôi không biết với
lệnh động viên th́ kỳ thi ở Hà Nội ra sao nhưng khoá thi ở miền Nam th́
chỉ có hai sinh viên và chỉ có ḿnh tôi được chấm đậu. Vậy là lần này
tôi cũng đậu thủ khoa, nhưng v́ suốt niên học tôi phải tập luyện ở quân
trường, không có nhiều th́ giờ dùi mài kinh sử, nên kỳ thi này tôi chỉ
vừa đủ điểm và chỉ được cấp văn bằng với hạng thứ mà thôi.
Tôi ra trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức với cấp bậc chuẩn úy công binh và
được chuyển ra một đại đội làm cầu đường ở Thái B́nh. Vừa về đơn vị được
mấy tháng th́ tôi đọc được thông cáo có khóa thi tuyển sinh viên sĩ quan
vào Trường Vơ Bị Không Quân Pháp ở Salon de Provence. Trường này là một
trong bốn Trường Vơ Bị lớn ở Pháp, cùng với những trường Polytechnique,
St Cyr cho Lục quân và Brest cho Hải quân. Tŕnh độ cho thí sinh thi vào
tương đương với năm đầu chương tŕnh cử nhân khoa học. Khóa thi năm 1952
mở ở Việt Nam có 5 người trúng tuyển và tôi được đứng đầu bảng. Sau khi
đi khám sức khỏe th́ tôi và hai người nữa đủ điều kiện theo ngành phi
hành và sẽ đuợc đi Pháp theo chương tŕnh huấn luyện ba năm. C̣n hai
người bạn đồng khóa được theo lớp sĩ quan kỹ sư cơ khí hàng không theo
thời hạn hai năm. V́ theo học trở thành sĩ quan phi hành nên ngoài phần
lư thuyết ở Salon de Provence tôi c̣n được gửi đi tập lái phi cơ ở những
trường phi hành ở Marrakech bên Maroc và Avord ỡ Pháp. V́ trường Vơ Bị
Không Quân chỉ cách Marseille khoảng chừng 50 cây số nên tôi ghi tên học
tiếp chương tŕnh cử nhân toán học ở Đại Học Marseille. Trong chương
tŕnh này có văn bằng Toán Vi Phân và Tích Phân (Calcul Différentiel et
Intégral) sinh viên ai cũng kêu là cửa ải khó qua, vậy mà năm sau dù
không được tới trường lấy bài tôi cũng thi đậu dễ dàng tuy rằng cũng chỉ
được hạng b́nh thứ. Tôi đạt được như vậy có lẽ v́ ở trường Vơ Bị, tuy
phải tối ngày học tập, bầu không khí trí thức cũng được thoải mái với
một thư viện sách khoa học đầy đủ. Hơn nữa v́ trường giảng dậy theo quy
chế các trựng kỹ sư nên cuối tuần nào sinh viên cũng được nghỉ bắt đầu
từ trưa thứ bẩy, nên trong suốt niên học tôi cũng có nhiều th́ giờ làm
những bài toán từ nay đối với tôi mỗi ngày một khó khăn hơn, nhưng cũng
lại siêu việt hơn.
Bài viết của giáo sư Hoàng Xuân Hăn với tựa đề là "Toán Học" mà tôi được
đọc khi tuổi mới mười hai, chỉ có hai trang báo ngắn nhưng viết rất hàm
súc nên tôi nhớ nhiều đoạn. Theo ông th́ "nhiều phần của toán học chỉ là
một vật qúy đẹp, hiện giờ vô-dụng như một bông hoa qúy mà thôi. Nhưng
chớ tưởng vô dụng mà bỏ. Tuy là vô-dụng, nhưng đó là tinh túy của trí
khôn loài người. Và nhiều sự bây giờ vô-dụng một ngày kia sẽ thành
hữu-dụng". Trong những năm ở Pháp, nhiệm vụ chính của tôi là học để trở
thành một sĩ quan phi công và tôi đă cố gắng để không thua kém những
sinh viên sĩ quan Pháp, về quân sự cũng như về phi hành. Những lư thuyết
về toán tôi học thêm được dù có vô dụng, không giúp ích ǵ cho tôi thành
một phi công tài ba hơn, một chiến sĩ can trường hơn, nhưng v́ đó là
những bông hoa qúy nên học thêm về toán chắc chắn sẽ làm cho cuộc đời
tôi thêm hương sắc. Rồi có những ngày thao dượt, phi trường gió cát,
ngồi dựa vào thân một cây gồi ở miền Bắc Phi, đợi đến phiên bay, tôi
ngồi coi lại những công thức toán học đă được ghi trên một cuốn sổ nhỏ,
hay những ngày đông mưa tuyết, những bạn học Pháp cùng trường đuợc về
nhà nghỉ lễ Giáng Sinh, tôi ra phố thuê một căn pḥng nhỏ để ngồi nghiền
ngẫm những phương tŕnh vi phân tôi mới học được trong sách. V́ phải học
quân sự và kỹ thuật lại phải học bay nên những th́ giờ rảnh rang cho tôi
để học thêm những ǵ tôi muốn học thật là hạn hẹp. Sau văn bằng cử nhân,
thay v́ học thêm về cơ học, hay về khí động lực học là những môn học có
dính líu ít nhiều đến ngành hàng không là công nghiệp của tôi, tôi lại
ghi tên học môn h́nh học. Tới tŕnh độ này, h́nh học không c̣n phải là
môn h́nh học thông thường, vẽ những ṿng tṛn, những đường thẳng, nh́n
không gian theo ba chiều, mà là môn học những h́nh chỉ có trong trí
tưởng tượng, luôn luôn biến đổi theo không gian và thời gian. Tôi thấy
như trở về thời đại của Plato, hơn hai mươi thế kỷ về trước, khi h́nh
học tượng trưng cho những ǵ tinh túy nhất trong toán học, và môn toán
học đă được nâng lên hàng triết lư siêu đẳng. Như trong bài luận thuyết
của giáo sư họ Hoàng, những điều tôi học, nhiều năm sau tôi mới thấy hữu
dụng. Khi đó tôi chỉ hiểu được rằng một khi biên giới chật hẹp của không
gian ba chiều được xóa bỏ, trí tưởng tượng của con người tiến lên được
một bực, chiều hướng suy luận được cởi mở hơn.
Trong niên học 1953-1954 tôi ghi tên học chứng chỉ H́nh Học Cao Cấp ở
Marseille. Chứng chỉ này được kể là bằng cao học (Diplôme d'études
supérieures) nên trong lớp phần lớn là sinh viên học luyện thi thạc sĩ
bậc trung học. Môn này ở Paris th́ do giáo sư Garnier dạy và ở Marseille
là nơi tôi ghi tên th́ vị giáo sư phụ trách là ông Paul Vincensini, lúc
đó cũng đă trọng tuổi. Tôi được biết chương tŕnh gồm có hai phần, phần
đầu là phần căn bản dạy môn h́nh học vi tích (Géométrie Différentielle),
sinh viên cao học ai cũng phải biết, và phần sau tùy thuộc môn nghiên
cứu đương thời của giáo sư và ông Vincensini cũng chọn dạy về Mặt diện
tích tối thiểu (Surfaces Minima) như ông Garnier dạy ỡ Paris. V́ tôi
phải ở trong Trường Vơ Bị Không Quân, vừa học phần kỹ thuật hàng không
khá nặng nề, vừa phải học bay nên không có dịp tới đại học nghe giảng.
Được cái may là tất cả những điều hiểu biết về môn h́nh học vi tích thời
bấy giờ đă được giáo sư Gaston Darboux, bí thư vĩnh viễn của Hàn Lâm
Viện Khoa Học Pháp Quốc viết thành một bộ bốn pho sách, mỗi cuốn dày hơn
500 trang và lư thuyết mặt diện tích tối thiểu đă được giáo sư Garnier
dạy ba năm liền tại Đại học Paris và năm nào cũng được in ronéo thành
sách nên tôi đă sưu tầm mua được tất cả những tài liệu đó để khi có th́
giờ rảnh lại miệt mài học. Giờ nghĩ lại, tôi cho rằng Trương Vô Kỵ khi
được Cửu Dương Chân Kinh cũng không chắc đă chăm nghiền ngẫm hơn tôi
thời bấy giờ. Tuy vậy tôi vẩn thấy lo ngại v́ những lớp cao học thường
ít người, giáo sư biết từng sinh viên một, tuy theo Đại học Pháp, các
phân khoa được gọi là Faculté de Droit, Faculté des Sciences, vân... vân
..., có nghĩa là sinh viên được tùy tiện tới lớp hay không, giáo sư
Vincensini cũng sẽ để ư là tôi không bao giờ có mặt tại giảng đường. Đầu
năm 1954, vào dịp Tết Nguyên Đán năm ấy, v́ là người Việt Nam nên tôi
được trường đặc biệt cho nghỉ một ngày, không phải là ngày cuối tuần nên
tôi tới ngay trường khoa học ở Marseille, để ít nhất cũng được nghe
giảng một lần. Tôi c̣n nhớ măi ngày Mồng Một Tết năm ấy, một buổi chiều
mùa Đông tuyết ẩm, tôi chọn ngồi bàn đầu để ít ra giáo sư cũng thấy mặt.
Lớp học có vào khoảng gần hai chục sinh viên, nhiều người trông lớn tuổi,
có lẽ là giáo sư toán bậc trung học, nay luyện thi thạc sĩ để được vào
chính ngạch. Cùng trong lớp tôi thấy có một nữ tu sĩ, tôi nghĩ là dễ làm
quen, nên sau giờ học tôi đến hỏi thêm bà về những môn đă được dạy từ
gần bốn tháng qua. Bà cho tôi biết là "soeur" Arigli, ở một tu viện gần
đó và là một giáo sư toán ở một trường nữ trung học. Sau mỗi lần nghe
giảng, ghi bài, lúc về nhà bà lại chép vào một cuốn vở khác nên khi tôi
hỏi mượn bài bà vui ḷng nói chừng hai hay ba tuần một lần, tôi lại tu
viện bà lại cho tôi mượn cuốn vở cũ. Từ đó tôi yên tâm hơn v́ ít ra cũng
biết giáo sư Vincensini chú trọng đoạn nào trong những bộ sách tôi có.
Cuối niên học, tôi được Trường Vơ Bị Không Quân cho nghỉ phép đi thi và
sau hai ngày thi viết lúc tới coi giấy yết thị những ngựi được vào vấn
đáp, tôi thấy có 8 người, tên tôi lấy vần V nên viết ở cuối cùng. Nữ tu
sĩ Arigli không được chấm đậu. Tôi cũng thấy buồn lây v́ nghĩ rằng một
người nhân hậu và học chăm chỉ như bà, chắc phải là một giáo sư tận tâm,
dù tên không phải là vần A nhưng cũng đáng được đứng đầu bảng. Tôi nhờ
được coi vở chép bài của nữ tu sĩ Arigli nên thi vấn đáp trả lời được
trôi chẩy và đậu bằng cao học với hạng b́nh thứ. Giờ đây mỗi lần nh́n
thấy những sách h́nh học trên giá sách, nghĩ dến người bạn học cùng lớp
đúng một ngày Tết, tôi chợt thấy ḿnh đă không biết trọn vẹn tên của
người nữ tu.
Chương Tŕnh Tiến Sĩ
Niên học 1954-1955 là năm cuối cùng tôi ở trên đất Pháp. Nghiệp bay thêm
một lần nữa làm tôi di chuyển. Khi rời nước, cách đây hai năm chúng tôi
có ba người được gửi đi theo học chương tŕnh sĩ quan phi công theo đúng
tiêu chuẩn của Pháp. Chúng tôi đă theo học tŕnh như các sinh viên sĩ
quan Pháp, nhưng nay chỉ c̣n tôi và người bạn đồng khoá là anh Hà xuân
Vịnh được gửi tới căn cứ không quân ở Avord, thuộc hạt Cher để đưọc huấn
luyện thành phi công bay phi cụ (vol aux instruments) trên phi cơ hai
động cơ MD 315. Một bạn cùng lớp với chúng tôi là anh Lê Đ́nh Cao lại bị
loại về bay. Sau này trở về nước anh học lại để trở thành một bác sĩ y
khoa. Căn cứ phi hành chúng tôi được chuyển tới ở ngay phía Nam thành
phố Paris, cách chừng hai giờ đi xe lửa, mỗi ngày có nhiều chuyến, đi về
rất tiện lợi. V́ thế tôi xin chuyển hồ sơ sinh viên từ Marseille lên Đại
học Paris để học tiếp chương tŕnh tiến sĩ quốc gia toán học. Dù biết là
tôi chỉ c̣n đúng một năm ở Pháp, không thể nào làm cho xong luận án,
nhưng tôi vẫn nghĩ rằng sẽ có một ngày đạt được mộng ước là đi cho đến
tận cùng của nền học vấn. Tới giai đoạn này tôi đă hội đủ được điều kiện
để làm luận án. Chỉ c̣n vấn đề là t́m được một giáo sư bảo trợ và một đề
tài khảo cứu. Về Không Quân, chúng tôi đă học xong phần lư thuyết, cả về
kỹ thuật lẫn quân sự, và nay ở căn cứ Avord chỉ c̣n phần phi hành, mỗi
tuần chỉ bay có năm ngày nên cứ đến tối thứ Sáu là tôi lại đáp tàu đi
Paris để đến khuya Chủ Nhật mới trở về căn cứ. Trong những thời gian ở
kinh thành ánh sáng, tôi sống ḥa ḿnh vào cuộc sống của một sinh viên ở
giữa khu La Tinh. Tuy tiền lương của tôi lúc đó, được lĩnh như một sĩ
quan phi hành cấp úy, thừa đủ cho tôi sống những ngày cuối tuần ở Paris
như một du khách, nhưng tôi vẫn tới ăn ở như một sinh viên nghèo ở
Maison des Provinces trong khu Cité Universitaire để có thực sự hứng
khởi mà chuyên cần đèn sách. Những dịp cuối tuần thường hay có những
buổi thuyết tŕnh đặc biệt ở Collège de France, lần nào có chuyên khoa
về toán học tôi cũng tới tham dự. Th́ giờ c̣n lại tôi tới thư viện của
Faculté des Sciences để t́m đọc luận án tiến sĩ đă được bảo vệ trước đây.
Tôi cũng được gặp mấy giáo sư để xin họ đề tài khảo cứu. Mỗi lần tới gặp
một vị nào tôi cũng đă bỏ nhiều th́ giờ để đọc sách và những ấn tŕnh
toán học của họ để có thể hỏi thêm và tŕnh bày ư tưởng của tôi một cách
mạch lạc. Sau mấy tuần lễ t́m gặp nhiều giáo sư th́ tôi cũng chọn lựa
được hai đề tài nghiên cứu, một về phương tŕnh vi phân (Équations
Différentielles) và một về phép tính biến thiên (Calcul des Variations),
và sau khi thảo luận với các vị thầy hướng dẫn chúng tôi đều đồng ư là
phải một thời gian nghiên cứu chừng ba năm mới có thể hoàn thành luận án
được. Trong khi ấy th́ thời gian qua đi mau chóng, chương tŕnh huấn
luyện bay của tôi cũng đă hoàn tất. Tôi đă nhận được giấy hồi hương. Sự
học của tôi lại thêm một lần bị gián đoạn. Chiến trận Điện Biên Phủ
trong năm qua đă thực sự cáo chung sự hiện diện của người Pháp trên bán
đảo Đông Dương. Riêng ở Việt Nam, một Chính phủ quốc gia, có một quân
đội riêng để bảo vệ non sông, đă được h́nh thành. Với lớp người chúng
tôi từ Pháp trở về nước, ngoài hai chúng tôi là phi công từ trường Vơ Bị
và hai trung úy kỹ sư học cùng khóa đă về năm trước, c̣n rất nhiều phi
công và cơ khí viên học theo những chương tŕnh khác, nay cùng về để xây
dựng một không lực cho đất nước. Tôi nghĩ là lần này tôi sẽ thực sự xếp
bút nghiên.
Từ nhiều năm nay, Việt Nam đă có một nền đại học, và số người được gửi
ra theo học ở nước ngoài cũng khá nhiều. Nhưng riêng về khoa học, đặc
biệt là những ngành chính như toán, vật lư và hóa học th́ số người đạt
tới tŕnh độ cao học vẫn c̣n thưa thớt. Khi tôi bắt đầu vào Trung học,
th́ được nghe nói là ngoài một số các vị thầy đă có văn bằng cử nhân,
c̣n đạt được tŕnh độ thạc sĩ toán mới chỉ có giáo sư Hoàng Xuân Hăn.
Theo ông Nguyễn Xiển là người học cùng thời th́ ông Hăn là người đầu
tiên đậu thạc sĩ toán học vào năm 1936. Ngoài ra tôi cũng được nghe nói
là người đầu tiên có công tŕnh khảo cứu xuất sắc và đậu tiến sĩ toán
học là ông Lê Văn Thiêm. Sau này có thêm nhiều người được văn bằng tiến
sĩ toán học, thường là ở Pháp, nhưng số lượng vẫn chỉ c̣n đếm được trên
những đầu ngón tay. V́ vậy tôi cũng thấy buồn cho ḿnh khi chỉ c̣n một
chặng đường ngắn để xong học vị tiến sĩ quốc gia toán học mà tôi phải
ngưng lại một thời gian. Khoảng thời gian ngưng lại, từ năm 1955 khi tôi
ở Pháp về Việt Nam, cho đến năm 1962 khi tôi sang Hoa Kỳ để trở lại với
sách đèn, đă cho tôi có dịp được hănh diện phục vụ trong quân đội trong
chức vụ Tư Lệnh Không Quân để đem hết cả những ǵ tôi đă học hỏi được,
cùng với hơn năm ngàn chiến sỉ huynh đệ xây dựng nên Không Quân Việt Nam
Cộng Ḥa để sau này có ngày trở nên một không lực hùng mạnh đứng vào
hàng thứ tư trên thế giới. Cùng một lúc, v́ biết nước nhà c̣n thiếu một
cách trầm trọng những giáo sư toán học, sau khi được bộ Quốc Pḥng cho
phép, tôi đă t́nh nguyện dạy mổi tuần 4 giờ Toán cho Trường Trung Học
Chu Văn An ở Sài G̣n. Công việc phụ trội này đă giúp cho trí năo tôi
được quân b́nh giữa hai nghiệp văn và vơ. Những bài giảng của tôi về sau
cũng được Bộ Quốc Gia Giáo Dục in thành sách.
V́ Không Quân, dưới quyền chỉ huy của tôi, xử dụng toàn những phi cơ của
Hoa Kỳ, nên tôi đă được mời sang Mỹ hai lần để thăm viếng nhiều căn cứ
huấn luyện và kỹ thuật đă làm việc trực tiếp với chúng tôi trong những
năm qua. Năm 1960, khi tới thăm Air Force Institute of Technology ở
Wright Patterson Air Force Base ở Dayton, Ohio, tôi được biết Không Quân
Hoa Kỳ có chương tŕnh gửi sĩ quan tới những đại học dân sự để theo học
tŕnh độ tiến sĩ ỡ nhiều ngành. Khi về nhà tôi ngỏ ư với những cố vấn Mỹ
làm việc ở Bộ Tư Lệnh là trong tương lai tôi cũng muốn được sang một đại
học ở Hoa Kỳ để học cho xong chương tŕnh tiến sĩ toán học. Sau nhiều
lần vận động với Bộ Tư Lệnh Không Quân Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, những
người bạn Mỹ của tôi đă thu xếp cho tôi được một học bổng theo học môn
khoa học hàng không và không gian ở đại học Colorado. Họ cho tôi biết là
tôi vẫn có thể học thêm về toán học nhưng trên giấy tờ nên ghi là tôi
theo học về ngành hàng không cho hợp lư hơn. Phải đợi thêm hai năm tôi
mới xin được từ nhiệm để nhận học bổng và lên đường du học vào tháng 8
năm 1962 để nhập học khóa mùa Thu ở đại học Colorado.
Câu chuyện học của tôi sau này, đă nhiều lần tôi kể lại qua những bài kư
sự tôi viết cho nhiều báo và đăng thành tập tùy bút với đề là "Theo Ánh
Tinh Cầu" do nhà sách Đại Nam xuất bản. Thời gian tôi tới theo học ở Hoa
Kỳ th́ khoa học không gian đang bắt đầu phát triển. V́ vậy, vào năm 1965
tôi đă là người đầu tiên được cấp phát văn bằng tiến sĩ khoa học hàng
không và không gian của đại học Colorado. Sự việc này cũng đă được chính
thức ghi trong cuốn sách "Proud Past, Bright Future" nói về lịch sử của
Trường Kỹ Thuật của đại học. Luận án tôi nộp thực ra là một luận án toán
học v́ tôi đă viết về h́nh học quỹ đạo. Tôi đă viết nhiều bài về vấn đề
này để đăng trên các báo khoa học quốc gia và quốc tế và tŕnh bày ở các
hội nghị khoa học không gian. Nhờ vậy mà tôi được nhiều đại học mời
giảng dạy. Sau khi tốt nghiệp, tôi được mời ở lại Đại học Colorado với
chức vụ assistant professor và sau ba năm được đại học Michigan mời tới
làm associate professor. Bốn năm sau, nghĩa là vào năm 1972 tôi được đại
học Michigan bổ nhiệm vĩnh viễn với chức vụ giáo sư thực thụ là ngạch
cuối cùng trong ngành giảng huấn. Sự thăng cấp có thể gọi là rất nhanh
chóng của tôi ở một đại học đứng vào hàng đầu về môn khoa học không gian
như đại học Michigan là do tôi đă làm việc ngày đêm không quản ngại, cốt
để chứng minh khả năng của người ḿnh cũng có thể thành công ở những
ngành khoa học tối tân nhất của thế kỷ. Trong những năm đầu ở Michigan,
tôi thường hay có dịp đi dự những hội nghị về khoa học không gian ở Âu
châu, và một lần ghé thăm đại học Paris, tôi được biết là hồ sơ theo học
chương tŕnh tiến sĩ quốc gia toán học cùa tôi vẫn cập thời và theo thủ
tục hành chánh tôi chỉ cần ghi danh vào năm tôi muốn tŕnh luận án. Cũng
là duyên may cho tôi là giáo sư phụ trách môn cơ học giải tích ở đại học
Paris, là môn học tôi đang triển khai lúc đó, lại là ông Paul Germain,
hiện đang là Bí thư vĩnh viễn (Secrétaire Perpétuel) của Hàn Lâm Viện
Khoa Học Pháp quốc, và cũng là người đă nghe tôi thuyết tŕnh ở những
hội nghị quốc tế và đă tỏ vẻ chú ư đến những kết quả tôi t́m ra được.
Tôi đă tới gặp ông Paul Germain ở văn pḥng ở đại học Paris và được ông
khuyến khích viết cho xong luận án và ông cũng hứa xếp đặt cho tôi được
một ban giám khảo gồm có những giáo sư danh tiếng của đại học. Ngày 9
tháng 6 năm 1972, trước một ban giám khảo gồm có năm vị giáo sư lăo
thành do ông Paul Germain chủ tọa, tôi đă tŕnh luận án với đề là "Étude
de quelques équations différentielles linéaires et non linéaires avec
applications à la mécanique céleste" và được cấp văn bằng tiến sĩ quốc
gia toán học cuả đại học Paris với thứ hạng tối danh dự (mention très
honorable). Lúc đó tôi đă là giáo sư thực thụ của đại học Michigan, nên
có thêm văn bằng tiến sĩ của Pháp thật không có ảnh hưởng ǵ đến công
nghiệp của tôi. Nhưng dạo đó giáo sư Nguyễn Chung Tú là khoa trưởng Khoa
học ỡ Viện đại học Việt Nam ở Sài G̣n đă viết thư báo cho tôi biết là,
theo đề nghị của hai giáo sư toán là Từ Ngọc Tỉnh và Nguyễn Đ́nh Ngọc,
Hội đồng khoa đă bỏ phiếu chấp thuận mời tôi về giảng dạy trong một thời
gian. Tôi nghĩ rằng nếu có cả hai văn bằng Pháp và Mỹ th́ trong khi thăm
viếng giảng dạy tôi sẽ dễ dàng đóng vai người phân giải mỗi khi có sự
tranh chấp hay xích mích giữa các giáo sư ở hai nguồn huấn luyện khác
nhau. Hai năm sau, trong niên học 1974-1975 tôi được mời làm khảo cứu và
giảng dạy ở Pháp. Đây là những dịp nghỉ định kỳ ở đại học, cứ mỗi lục
niên lại để giáo sư được nghỉ để đi làm khảo cứu hay giảng dậy ở một nơi
khác để có dịp trao đổi ư kiến với những bạn đồng nghiệp ở nơi xa. Tôi
đă định là sau năm thăm viếng ở Pháp, tôi xin nghỉ thêm mấy tháng để về
dạy ở Đại học Sài G̣n. Ư định này tôi chưa thực hiện được th́ đă có sự
đổi thay trên quê hương.
Nàng Toán và Nàng Thơ
Tôi có thể nói không chút ngượng ngùng là tôi mê toán học trọn đời, như
mấy câu thơ tôi đọc được ở đâu đó và tôi viết lại ở phần mở đầu. Tôi yêu
toán học như tôi đă yêu viết văn và làm thơ, v́ tôi nghĩ theo học toán
không hẳn sẽ làm cho tâm hồn khô cằn lại v́ những người thực sự là có
năng khiếu về toán th́ thường thường lại là những người có óc tưởng
tượng phong phú và cũng có thể là những triết gia. Nói theo cách khác,
họ cũng có óc thơ mộng không thua kém ǵ những người vẫn tự cho ḿnh là
thi sĩ. Đó là một chân lư v́ muốn đi vào nghiên cứu và phát minh, toán
gia cần phải có một bộ óc giầu tưởng tượng, phải có chút ít thơ mộng,
vượt qua những tầm thường g̣ bó của thế tục. Nhà toán học Đức quốc lừng
danh Karl Weierstrass (1815-1897) của thế kỷ 19 đă viết rằng:
"It is true that a mathematician who is not also something of a poet
will never be a perfect mathematician" .
Câu này có thể tạm dịch là:
"Thật đúng vậy, là một toán gia nếu không cùng một lúc là một thi sĩ th́
không thể nào là một toán gia vẹn toàn được".
V́ tin ở lời nói của Weierstrass, là một toán gia tôi rất hâm mộ, nên
đôi khi trăn trở về một bài toán mà tôi chưa t́m ra được lời giải toàn
vẹn, một lời giải chưa thật "élégant" như giáo sư Đỗ Qúy Toàn đă viết là
đôi khi đă phát biểu trong lớp đang dậy, tôi cũng đă từng đổi bút, làm
thơ. Dưới đây là một bài tiêu biểu:
T́nh Hư Ảo
Anh t́m em trên ṿng tṛn lượng giác,
Nét diễm kiều trong tọa độ không gian.
Đôi trái tim theo nhịp độ tuần hoàn,
C̣n tất cả chỉ theo chiều hư ảo.
Bao mơ ưóc, phải chi là nghịch đảo,
Bóng thời gian, quy chiếu xuống giản đồ.
Nghiệm số t́m, giờ chỉ có hư vô,
Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.
Anh chờ đợi một lời em giải thích,
Qua môi trường có ṿng chuẩn chính phương.
Hệ số đo cường độ của t́nh thương,
Định lư đảo, t́m ra v́ giao hoán.
Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn,
Tính không ra phương chính của cấp thang.
Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng,
Em trọn vẹn thành phương tŕnh vô nghiệm .
Toàn Phong
Tôi hay được mời đi thuyết giảng về khoa học, và cũng nhiều lần được mời
nói chuyện với người đồng hương. V́ vậy tôi có sẵn hai bản tiểu sử. Bản
tiếng Việt th́ tôi có thêm ít chi tiết về những sáng tác văn thơ. C̣n
bản tiếng Anh th́ tuy cũng ngắn gọn như bản tiếng Việt nhưng chỉ có
những dữ kiện thuần túy về khoa học. Ngày mồng 9 tháng Năm, năm 1997,
đúng vào ngày ông Peterson là vị đại sứ đầu tiên của Hoa Kỳ tới Hà Nội
để quan hệ ngoại giao với Việt cộng, theo lời mời của Tổ Chức Quốc Tế
Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản, tôi tới nói chuyện ở Falls Church thuộc tiểu
bang Virginia trong Ngày Nhân Quyền. Buổi dạ tiệc gây qũy ở nhà hàng
Thần Tài đêm hôm đó, và tôi đă nói về đề tài "Vọng Cố Hương", đă rất
thành công v́ có hơn 600 người tham dự, và trong phần giới thiệu diễn
giả, v́ có một số nhân vật Hoa Kỳ hiện diện nên xướng ngôn viên đă dùng
bản tiếng Việt để dịch ra tiếng Anh tiểu sử của tôi như là một giáo sư
toán học không gian nhưng cũng là môt nhà văn và nhà thơ. Sau đó có một
vị khách ngoại quốc đến xin tôi một bài thơ tôi đă viết bằng tiếng Anh,
ông nói là để giữ làm kỷ niệm. Trước đây tôi đă viết một vài truyện ngắn
bằng Anh ngữ và đăng ở trên Empire Magazine là tuần báo ra ngày Chủ Nhật
kèm với nhật báo Denver Post. Tôi cũng đă viết ra được vài bài thơ bằng
tiếng Pháp. Nhưng lần này để chiều ḷng người khách ngoại quốc và cũng
để chứng tỏ rằng tôi coi Nàng Toán và Nàng Thơ như nhau, tôi đă viết một
bài thơ Toán bằng Anh ngữ như sau để gửi cho ông:
A History of Mathematics
A poem by TP
Cro-Magnon Man added his fingers,
And lying beside his mate calculated hers.
With the dawn of Paleolithic art
Men foresaw early geometric signs in the race's future
Drawing into Mesolithic agriculture.
Circumscribing the hallowed lands
Recovered from Mother Nile,
Gazing into the starlit sky
After the death of Zeno,
Hippocrates of Chios
Heralded the iconic birth of Plato.
Euclid's Elements are monumental:
From Seigneur to Vassal, in two or three dimensionals,
They transverse the planes of our world,
High or low, narrow and wide.
Without subterfuge or ruse,
Running through the ancient streets of Syracuse,
Archimedes kept crying:
Eureka! Eureka!
I found it!
Plenitude and perfection,
Through centuries of reflection,
From Medieval rings
To Feuerbach's circle, it's located
Within its divine nine points
And the conic sections of Dandelin.
Infinite series were beloved of Maclaurin.
With the Queen of Sciences on his side,
The Universe cannot hide.
In the exploits of those Three Musketeers,
Lagrange, Laplace and Legendre,
Libration points and elliptic resonance
Finish in full concordance.
In the age of Einstein
Appear Hardy of Britain,
And Ramanujan of India.
From India the distant land
To the shores of fair England
A Hindu genius self-taught.
Several years after Hausdorff
Mathematics turns abstract,
With domain linked and compact.
Transversing the geodesic lines
Without measuring,
How do we escape the Klein Bottle?
Dancing and singing
On the bridge of Avignon,
Thinkers tinker with Hamilton's quaternions.
Balanced forever on the Mobius strip
Without traversing the surface
We morph ourselves to the other side.
Lindermann proved Pi transcendental,
While Hermite showed e transformational.
Theorems proved without doubt immortal.
Higher space or hyperplane
Conclude in the Markov chain.
Dreamer, poet or mathematician,
Hardy said we are makers of patterns,
Designs in Hilbert or Banach spaces.
For integration, let us have Lebesgue.
Set theory and topology,
Pure invention - just ask Bourbaki.
Calculus of variations
Opens the way to control theory.
Shall we name the last universalist?
Can it be Carl Gauss or Henri Poincaré?
Can we have both? A mathematical impossibility?
Not if they converge in eternity.
Toan Phong
Nhưng có một điều tôi phải thú nhận là nếu lời thơ đọc lên mà thấy hay
tuyệt vời th́ con người toán không thể nào toàn vẹn. Tôi đă trích lời
viết của Weierstrass trong cuốn sách "Men of Mathematics" của cố giáo sư
Eric Temple Bell thuộc California Institute of Technology, trong chương
sách nói về Karl Wilhelm Theodor Weierstrass, một trong những toán gia
hàng đầu của thế kỷ 19. Cuối chương sách này giáo sư Bell cũng bầy tỏ ư
kiến rằng : "A perfect mathematician, by the very fact of his poetic
perfection, would be a mathematical impossibility". Theo tôi hiểu th́
không có thể nào ôm đồm mà nói là toàn vẹn cả hai bề. Vậy tôi xin ở lại
với toán học và trả thơ văn lại cho gió bốn phương trời.
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh |