Tiểu sử của Bác-sĩ
Trần Đại-Sỹ
Yên-tử cư-sĩ (YTCS)
Giáo-sư
Trường y khoa Arma (Paris).
Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ tại viện Pháp-Á
(Institut Franco-Asiatique).
Ông sinh trong một gia đ́nh nho học. Ông
ngoại là một đại khoa bảng của triều Nguyễn. V́ không có con trai, nên cụ theo
tục lệ cổ Việt-Nam, nuôi cháu làm con. Cụ nuôi Trần Đại-Sỹ từ nhỏ.
Thân phụ là một Thẩm phán, học tại Pháp, nhưng rất uyên thâm nho học. YTCS là
con thứ ba trong gia đ́nh sáu trai, một gái. Trên ông c̣n một người chị và một
người anh. Hai người em nổi tiếng trong gia đ́nh ông là Vơ-sư Trần Huy Phong, và
nhà văn, kiêm Vơ-sư Trần Huy-Quyền.
YTCS được khai tâm học chữ Nho vào năm 5 tuổi, năm 6 tuổi gửi vào trường Pháp
trong tỉnh học. Được quy y Tam-bảo học vơ với ngài Nam-Hải Diệu-Quang năm 7 tuổi.
Bản-sư, ông ngoại cũng như phụ thân YTCS đều là những người rất uyên thâm về các
khoa học huyền bí Đông-phương như : Tử-vi, Bói dịch, Nhâm-độn, Phong-thủy,
Tử-b́nh...
Ba vị nh́n
thấy rất rơ thiên mệnh đă dành cho đệ tử, con cháu ḿnh những ǵ, nên cả ba đă
chuẩn bị sẵn một con đường cho cả đời YTCS. Hăy nghe YTCS tâm sự :
Bấy
giờ là thời gian 1950-1954, Nho học gần như đi vào giai đoạn chót của thời kỳ
suy tàn, những vị khoa bảng cổ lác đác như sao mai. Chữ quốc ngữ được quần chúng
hóa. Các tiểu thuyết chương hồi của Trung-Quốc được dịch sang tiếng Việt. Người
Việt thi nhau đọc. Mà các tiểu thuyết của Trung-Quốc, viết trong chủ đạo của họ
: Vua luôn là con trời sai xuống. Các quan th́ luôn là những v́ sao trên trời
đầu thai, các nước xung quanh Trung-Quốc th́ Đông là Di, Bắc là Địch, Tây là
Nhung, Nam là Man. Bị ảnh hưởng của những tiểu thuyết đó, người Việt đọc rồi tin
là thực, thậm chí lập tôn giáo thờ kính những nhân vật đó, tự ty ḿnh là
Nam-man! V́ vậy sư phụ, cũng như ông cha tôi muốn ḿnh phải có mấy bộ tiểu
thuyết thuật những huân nghiệp của tổ tiên ta trong năm ngh́n năm lịch sử, để
người Việt ḿnh hiểu rơ hơn. Các người biết số Tử-vi của tôi có thể thực hiện
nguyện ước của các người, v́ vậy các người cố công dạy tôi ».
V́ vậy YTCS phải chịu một chương tŕnh giáo dục gia đ́nh rất nặng nề. Ta hăy
nghe ông tâm sự:
Năm
tuổi bắt đầu học Ấu-học ngũ ngôn thi. Sáu tuổi học Bắc-sử, Nam-sử. Bẩy tuổi học
Tứ-thư, Ngũ-kinh. Tám tuổi đă học làm câu đối, văn sách, văn tế, chế, chiếu,
biểu. Dù phải học nhiều, song nhờ được luyện Thiền-tuệ nên vẫn thư thái dễ dàng.
Chín tuổi phải học thuật tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Mười tuổi học
24 bộ chính sử Trung-Quốc, Đại-Việt sử kư toàn thư, Việt-sử lược, Khâm-định
Việt-sử thông giám cương mục, Đai-Nam chính biên liệt truyện, và hằng trăm thứ
sách khác. Thành ra cả thời thơ ấu, tôi sống với sách vở, với Thiền, chưa từng
biết chơi bi, đánh đáo. Bất cứ ai cũng đặt câu hỏi: Làm thế nào tiền nhân tôi
lại có thể nhét vào đầu tôi những thứ khô khan như vậy? Sau này lớn lên vào đại
học Y-khoa tôi mới biết là nhờ Thiền-tuệ.
Năm 15 tuổi, YTCS đỗ Trung-học, rồi ông ngoại qua đời, một người trong gia đ́nh
gây ra thảm cảnh không thể tưởng tượng nổi, khiến YTCS phải rời tổ ấm. Song cơ
may đưa đến, ông được nhập học một trường có truyền thống giáo dục cực kỳ chu
đáo. Tuy gặp thảm họa, nhưng những ǵ bản sư, ông cha đă hoạch định cho cuộc đời,
YTCS vẫn cương quyết theo đuổi. Sống xa gia đ́nh, YTCS phẫn uất dồn hết tâm tư
vào việc học. Mười bẩy tuổi ông đỗ Tú tài 1, mười tám tuổi đỗ Tú tài toàn phần.
Vào Đại học. Năm 25 tuổi ra trường (1964.) Đă có chỗ đứng vững chắc về danh vọng,
về tài chánh. Bấy giờ ông mới trở về với gia đ́nh trong vinh quang. Mà... cái
người gây ra đau khổ cho YTCS, than ôi, y trở thành một tên lêu bêu, vô học bất
thuật, và cho đến bây giờ (2000), y đă đi vào tuổi 66, vẫn là một tên ma-cô, ma
cạo.
Năm 1968 ông bắt đầu viết những bộ tiểu thuyết lịch sử.
Năm 1977, ông làm việc cho Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical
Franco-Chinois viết tắt là CMFC) với chức vụ khiêm tốn là Thông dịch viên. Nhờ
vào vị thế này, ông học thêm, đỗ Tiến-sĩ y khoa Trung-Quốc, rồi lại tốt nghiệp
Trung-y học viện Bắc-kinh. Dần dần ông trở thành Giảng viên, rồi Tổng thư kư, và
cuối cùng là Trưởng đoàn từ 1995 cho đến nay (2000).
I. Sự
nghiệp văn học
1. Dịch Cân
Kinh - Thư Viện Việt Nam Ấn Quán xuất bản năm 2003
2. Giảng Huấn T́nh Dục bằng Y Học Trung Quốc (Bộ 3 quyển 900 khổ lớn) Thư-viện
Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
Cali. USA, xuất bản 2002.
Về cuộc
khởi nghĩa của vua Trưng, gồm 11 quyển, 3509 trang, do Nam-Á Paris xuất bản :
3. Anh-hùng Lĩnh-Nam, 4 quyển,1318 trang, 1987 tái bản 2000.
4. Động-Đ́nh hồ ngoại sử, 3 quyển, 886 trang, 1990, tái bản 2001.
5. Cẩm-Khê di hận, 4 quyển, 1305 trang, 1992, tái bản 2001.
Về cuộc phá Tống, b́nh Chiêm thời Lư, gồm 19 quyển, 6634 trang, do viện Pháp-Á
Paris xuất bản. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
California, Hoa-kỳ tái bản 2001:
6. Anh-hùng Tiêu-Sơn, 3 quyển, 907 trang.
7. Thuận-thiên di sử, 3 quyển, 909 trang.
8. Anh-hùng Bắc-cương, 4 quyển, 1254 trang.
9. Anh-linh thần vơ tộc Việt, 4 quyển, 1334 trang. Sẽ do Thư-viện Việt-Nam (www.thuvienvietnam.com),
Cali. USA, tái bản 2003.
10. Nam-Quốc sơn hà, 5 quyển, 2230 trang, 1996. (Do viện Pháp-Á Paris xuất bản,
Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành).
Về cuộc b́nh Mông. Do viện Pháp-Á Paris xuất bản, Đại-Nam Hoa-kỳ ấn hành ...
11. Anh-hùng Đông-A dựng cờ b́nh Mông, 5 quyển, 2566 trang, 1999. Tổng cộng đă
xuất bản : 12.709 trang !
Đang viết sẽ xuất bản: • Anh-hùng Đông-A gươm thiêng Hàm-Tử, 5 quyển, khoảng
2500 trang.
Về cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn : • Anh-hùng Lam-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.
Về cuộc khởi nghĩa Tây-Sơn : • Anh-hùng Tây-Sơn, 5 quyển, khoảng 2500 trang.
Tính chung, YTCS đă và dự định viết là : 20.209 trang.
II. Sự nghiệp
y học
Nếu so sánh với sự nghiệp văn học, th́ sự nghiệp y học của YTCS rất khiêm tốn.
Tốt
nghiệp:
Đại-học
Y-khoa Cochin Port Royal Paris (Pháp) với luận án Contribution à la bio-bibliographie
de quelques Stomatologistes et dentistes français.
Đại-học Y-khoa Thượng-Hải, với luận án Trung-y dương ủy biện chứng luận trị (Điều-trị
chứng bất lực sinh lư bằng y học Trung-Quốc).
Sự nghiệp y học của ông có 3 : Một là t́m lại được cây Phản-ph́, hai là t́m ra
phương pháp Điện-phân mỡ, ba là đào tạo được 1422 đệ tử.
1. T́m
lại được cây Phản-ph́ Năm 1982
YTCS cùng phái đoàn CMFC, đă t́m lại được cây Phản-ph́, tưởng đă tuyệt chủng.
Loại cây này thuộc họ trà, rút bỏ một vài độc chất, chế thành thuốc uống vào có
khả năng giảm béo, hạ thấp Cholestérol, Triglycéride trong máu, mà không bị phó
tác dụng như các loại thuốc hóa học. Sau đó cây này được gây giống, trồng, chế
thành thuốc. Năm 1984 bắt đầu bán trên thị trường châu Âu. Trong chuyến đi này,
phái đoàn được tăng cường một nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, và một nữ Bác sĩ
thuộc Côn-minh làm Hướng dẫn viên. Để làm vui ḷng hai người đẹp đi trong phái
đoàn, thay v́ đặt cho sản phẩm này mang tên ḿnh, YTCS đă đặt tên là Hao Ling (Đọc
theo Hán-Việt là Hảo Liên). Hảo là nữ Bác sĩ Chu Vĩnh Hảo người Vân-Nam. Liên là
tên nữ Tài tử điện ảnh Hương-Cảng, đi theo phái đoàn.
2. T́m
ra phương pháp điện phân mỡ
Khởi đầu từ năm 1978, trong một dịp vô t́nh, YTCS cùng một số học tṛ, đă t́m ra
phương pháp Điện-phân mỡ, mà tiếng Pháp gọi la Lypo-électrolyse. Sau đó mười năm,
một trong các học tṛ của ông là Bác-sĩ Nguyễn Thị Dung (Hay Đặng Vũ Dung), đem
ra phổ biến trên báo, nên người ta tưởng bà là tác giả. Hiện nay trên thế giới
có khoảng 60.000 Bác sĩ xử dụng. Phương pháp này có thể làm mất mỡ tại bất cứ
khu vực nào trên cơ thể, mà không phải dùng thuốc, hay giải phẫu.
3. Đào
tạo học tṛ
Năm 1977, YTCS bắt đầu đào tạo học tṛ. Nhận thấy y học Tây-phương thường bó tay
trước một số bệnh, mà y học Trung-Quốc lại có thể điều trị dễ dàng. Trong khi đó
tại Pháp cũng như châu Âu, lại ít người biết đến. Bấy giờ tại Pháp có chừng vài
trường, dạy cho những Bác sĩ đă tốt nghiệp Đại học y khoa, học thêm 3 năm về
khoa Châm-cứu, chương tŕnh rất giản lược. Ông âm thầm đào tạo 9 Bác sĩ người Âu,
5 Bác sĩ người Việt, và một tu sĩ Phật-giáo về khoa Châm-cứu, Bốc-dược, Khí-công
rất sâu, đúng như chương tŕnh của Đại học y khoa Thượng-Hải. Chính đám đệ tử
đầu tiên này, sau khi học xong, đều mở trường dạy học, gồm hai trường ở Pháp một
trường ở Tây-Ban-Nha. Chương tŕnh dạy tổng hợp y học Âu-Á bắt đầu. YTCS vừa dạy
tại các trường này, vừa làm cố vấn cho các Giám đốc trường. Cho đến nay (2000)
ông đă đào tạo được 1422 Bác sĩ, đang hành nghề khắp châu Âu. Trong đó có 136
Bác sĩ Việt-Nam.
III. Kết luận
Viện Pháp-Á mời Giáo sư Trần Đại-Sỹ giữ chức Giám-đốc Trung-Quốc sự vụ v́ các lư
do sau :
1. Thứ nhất, ông rất giỏi về các khoa huyền bí Á-châu : Tử-vi, Nhâm-độn, Bói
dịch, Phong-thủy, Phương-thuật. Ông dùng lư thuyết khoa học để chứng minh các
khoa trên không phải là những thứ bói toán dị đoan. Trong các khoa trên, ông nổi
tiếng nhất về khoa Phong-thủy (Địa-lư).
2. Ông cùng CFMC dùng hệ thống ADN để chứng minh rằng lănh thổ tộc Việt bao gồm
từ sông Trường-giang xuống tới vịnh Thái-Lan. Với công cuộc nghiên cứu này, ông
làm đảo ngược tất cả những nghiên cứu cổ cho rằng: Người Việt gốc từ người
Trung-Hoa trốn lạnh hay trốn bạo tàn di cư xuống; mà người Trung-Quốc do người
từ Đông Nam Á đi lên hợp với giống người đi từ Bắc-Á đi xuống.
3. Ông đă can đảm dành cả cuộc đời, để viết những bộ lịch sử tiểu thuyết trường
giang, ca tụng huân nghiệp giữ nước của tổ tiên ông; mà từ trước đến giờ chưa ai
làm, chưa ai làm được, chưa ai có can đảm làm. Những bộ này ngoài yếu tố lịch
sử, c̣n chứa đựng tất cả hệ thống văn hóa, tư tưởng của tộc Việt. Chúng tôi liệt
tác phẩm của ông vào loại tư tưởng.
4. Ông t́m lại được cây Phản-ph́, phát minh ra phương pháp Điện-phân mỡ.