Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa 1968-1975
Bill
Laurie
Nguyễn Tiến Việt chuyển ngữ
Lời người
dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về
Việt Nam và nhân chứng được mời tŕnh bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên
“Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN:
Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Đại
Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.
Trong số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm của riêng
ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên t́nh báo
cao cấp trong nhiều năm. Bài này được chuyển ngữ từ nguyên bản bài viết của Bill
Laurie, mà ông dùng để tŕnh bày, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie
gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền
thông Việt ngữ. Những chữ viết ngả để trong ngoặc đơn là chú thích của tác giả
để câu văn chuyển dịch mang được đầy đủ ư nghĩa của nó.
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm
chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới
truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ư, và nh́n chung th́ đến nay vẫn không được
công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều
cuốn sách tự coi là “sách sử”. Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản
chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên
hiệu quả hoạt động và khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa trước năm 1968.
Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đă hiện hữu, hay phủ
nhận rằng vấn đề tham nhũng, lănh đạo kém cỏi không tiếp tục gây hiểm họa cho
khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức
độ nào đó, những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.
Tôi đă tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971 và phục vụ 1 năm
tại MACV (Phái Bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Việt Nam), rồi sau đó trở lại thêm hai
năm, từ 1973-1975, làm việc ở Pḥng Tùy Viên Quân Sự. (DAO)
Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khóa
huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, t́nh báo chiến
thuật và chuyên biệt về Đông Nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt
ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam th́ được biết những nhiệm vụ cố vấn đang
được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV
J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích t́nh báo, trước hết phụ trách
Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng sông Cửu
Long. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên
lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, các toán cố vấn Mỹ, các
chính quyền tỉnh thị của Việt Nam, và cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa ở
vùng IV. Trong 3 năm đó tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong
số 44 tỉnh của Việt Nam Cộng Ḥa, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và Việt
Nam Cộng Ḥa mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi th́ đứng
vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết tŕnh ở tổng hành dinh của MACV
cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, tuần lễ sau đó tôi có
thể đă lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Địa Phương
Quân, hay bay ngang tỉnh Định Tường trên một chiếc trực thăng Huey của Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Động Quân Trà Cú bên sông Vàm
Cỏ Đông.
Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong ṿng một tháng sau khi tới
Việt Nam, thật rơ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin
tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà
có thể diễn tả được những ǵ tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự
hỏi “Nếu quả thật tất cả những người ở Mỹ đang nói về Việt Nam, th́ ḿnh đang ở
nơi nào đây?”
Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích
thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài G̣n, Cao Lănh, hay Rạch Giá, tôi
cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, ḿ, cháo... háo hức lắng
nghe người dân, người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật
nhiều, nhiều hơn những ǵ tôi từng học ở Hoa Kỳ.
Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đă đọc hằng
feet/khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm
tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ với những cựu chiến
binh gốc Đông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn t́m trong hằng trăm trang web Việt Nam và
Đông Nam Á trên Internet. Vẫn c̣n rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và
Thái Lan hơn là những ǵ công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những
người ở các xứ ấy tự tŕnh bày lên th́ lại không phù hợp với những ǵ mà hầu hết
mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.
Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Đúng là có những tấm gương về
lănh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ư ǵ với tôi, mà chính
là ngay lần đầu tiên đến với Sư Đoàn 9 Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa, tôi đă phát
giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng
kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Đoàn 7
Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa, đơn vị cứ măi bị kết tội v́ khả năng chiến đấu kém
cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đă biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến
đấu cao dưới tài lănh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh
liêm không một t́ vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn
không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đă được người Việt Nam tôn sùng
đúng mức. Cũng không hề có ai ngụ ư hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Địa
Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đă làm mất mặt chẳng
những 1 mà tới 3 trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn
công năm 1972 của Hà Nội. Họ đă nhai nát và nhổ ra nguyên cả lực lượng xung kích
của đối phương, một lực lượng có thể đă làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó.
Địa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực
lượng chính quy Việt Nam Cộng Ḥa, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy
Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh.
Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này th́ họ đă lập tức trực tiếp đe
dọa Sài G̣n, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa phải
rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và
như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An
Lộc), Sư Đoàn 21 tuy không thành công trong việc phá ṿng vây An Lộc nhưng cũng
đă buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu
không, nơi này có thể đă sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.
Nói vắn tắt, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, một cách toàn diện, đă có khả năng cao
hơn nhiều so với những ǵ tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn
nhiều so với những ǵ được chuyển tới cho người dân Mỹ. Ngày trước... và ngày
nay cũng vậy.
Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết tŕnh này, ai cũng biết Quân Lực
Việt Nam Cộng Ḥa vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Điều này là hiển nhiên. Nếu
không như vậy th́ đă chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ,
Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.
Tuy nhiên, c̣n có những chỉ dấu cho thấy lực lượng Việt Nam Cộng Ḥa khi được
trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp th́ sẽ có khả năng tới đâu.
Năm 1966 một tiểu đoàn Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă gây thiệt hại nặng và
đă “giúp” giảm quân số chỉ c̣n 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba
lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy
chương của tổng thống Hoa Kỳ”. Đại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đă mô
tả người đối tác của ông, Đại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người
tuyệt nhiên không hề sợ hăi. Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, mang huy hiệu Trâu
Điên, đă từng bắt nạt nhiều đơn vị cộng sản miền Nam và chính quy Bắc Việt,
chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu trâu điên (càng có ư nghĩa đối với những ai đă
từng gặp phải một con trâu đang nổi giận (và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ
không hề được tường tŕnh trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau
cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”...
Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà
hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rơ là kế hoạch Việt Nam hóa phải được tăng
tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ,
thời kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu
chiến đấu. Thái độ này đă bỏ quên dữ kiện là mức tử vong v́ chiến sự hằng tháng
của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của
tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.
Rốt cuộc th́ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay
thế những trang bị thời Thế Chiến Thứ Hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng
đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội Việt Nam Cộng Ḥa được trang bị súng M16), nh́n
chung th́ thua kém vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Đồng thời, quân số
cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây tŕnh bày:
(Bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Địa
Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng
tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng
quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số).
Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có
nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (tác giả
không đồng ư dùng nhóm chữ ARVN để chỉ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, và ông dùng
nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam's Armed Forces). Ngoài ra c̣n những thành
phần khác, gồm Cảnh Sát Dă Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các toán Xây Dựng Nông Thôn.
Lực lượng xây dựng nông thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, c̣n lực
lượng Nhân dân tự vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là
chướng ngại cho quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam's Army trong
nguyên bản). Có lần một toán cán bộ xây dựng nông thôn đă đẩy lui cả một tiểu
đoàn Việt cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm
trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.
Thành phần của lực lượng Nhân dân tự vệ th́ quá trẻ, hay quá già, hay v́ thương
tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng pḥng vệ
làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của cộng sản
địa phương. Nhưng Nhân dân tự vệ cũng là một yếu tố mà cộng sản địa phương phải
đối phó sau năm 1968. Trước đó không có lực lượng này, Việt cộng ở địa phương tự
do đi vào ấp xă lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân dân tự vệ không có hiệu quả, nhiều
khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có
những báo cáo như sau: (Trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).
“Hai Việt cộng đang bắt cóc một Nhân dân tự vệ th́ một Nhân dân tự vệ khác xuất
hiện, bắn chết hai Việt cộng này bằng súng M1 (không ghi rơ garant hay carbine),
tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 ly.”
Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân dân tự vệ
địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”
C̣n nữa: Một Nhân dân tự vệ 18 tuổi đă là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu tiên
trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An Lộc trong cuộc bao
vây năm 1972.
Hà Nội không mấy hài ḷng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:
“Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nh́n, củng cố chính quyền bù nh́n và
thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân dân tự vệ bù nh́n ở nhiều
làng xă. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động cho lực lượng bù
nh́n, thiết lập những tuyến pḥng vệ, và dựng ra cả một hệ thống pḥng thủ và
đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đă gây nhiều khó khăn
và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt cộng).”
Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân dân tự vệ được
thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do các lực lượng
QLVNCH chuyển giao lại.
Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa quân, Địa phương quân với sự trợ giúp của các
toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị vũ khí tốt
hơn, khởi sự tiến bộ, như cố vấn David Donovan thuộc một toán lưu động chứng
kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:
“Chúng tôi vừa vượt khỏi khu ḿn bẫy chính th́ bị hỏa lực từ một rặng cây trước
mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay véo véo trên đầu, trong
tiếng súng nhỏ nổ ḍn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm, không giống như trước
kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt. Trung sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi
của đội h́nh hàng dọc, bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn
kích, trong khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của
Abney tới được chỗ địa thế có che chở th́ họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Dưới
hỏa lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi
yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba người
trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều
xông tới. Chúng tôi đă hành động khá hay.”
Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm
lạc quan của ông vào năm 1970:
“Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần,
cảm thấy như ḿnh là “kim cương bất hoại”. Tinh thần chiến đấu và hăng hái chủ
động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích quân địch một
cách gần như khinh suất, liều lĩnh.”
Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp
ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lănh đạo chỉ huy kém cỏi, chẳng thực
hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động tấn công nào. Có khi
cố vấn Hoa Kỳ suưt bị giết hay bị dọa giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt
Nam mà họ không ḥa thuận được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu
đó, nhưng cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đon vị mà họ cố
vấn. Dù sao th́ những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng
đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước Mỹ
hay trong ư tưởng của những người Mỹ b́nh thường, cũng như trong những ǵ được
dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.
(C̣n tiếp)
Phần 2
Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển hiện
trong những lực lượng lănh thổ và những sư đoàn bộ binh VNCH, (là những đơn vị)
thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ động tấn công. Cố vấn về
kế hoạch b́nh định của tỉnh Quảng Trị Richard Stevens, trước đó từng phục vụ
trong Thủy quân lục chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của
một đơn vị thuộc sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng
hỏa tiễn của quân Bắc Việt:
“Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành quân
và sự táo bạo của họ trong mọi việc... Đây là cuộc hành quân thứ 13 như vậy do
vị tiểu đoàn trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về những chuyên gia hết sức
tinh thục trong những ǵ họ làm, những người đă từng thực hiện những công tác
sởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực hiện... Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn
nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng ‘anh đang làm việc với những người giỏi nhất.
Chúng ta không có điều ǵ để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các
cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. C̣n về sự hiểu biết trong hành quân,
th́ họ là người dạy chúng ta.' Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ
đều nói y như nhau.” (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng,
đại học Hawaii).
Ở miền Nam, trong lănh thổ tỉnh Định Tường thuộc quân khu IV, sư đoàn 7 bộ binh
VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các
cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ sư đoàn 7
trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né”
(thay v́ “lùng và diệt”, search and destroy), có thể v́ trận Ấp Bắc hồi 1963,
nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói ǵ hơn là những lời ca
tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một
cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của sư đoàn 7 bộ binh:
“Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh
xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.
Ở Bến Tre (tức tỉnh Kiến Ḥa) sư đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều
khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ
biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi.” (tác giả
trích dẫn David Chenoff và Đoàn văn Toại, sách Chân dung kẻ địch, Random House ở
New York xuất bản năm 1986).
T́nh h́nh c̣n tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các
đơn vị “Việt cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém
cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía Bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết
bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh
phục kích một cuộc hành quân càn quét của sư đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí
xong trước b́nh minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta th́ lại bị tấn công từ
phía sau do thành phần bên sườn của sư đoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng
chính. (Tài liệu trích dẫn).
Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ
mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành
quân tấn công của Việt cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rơ rệt:
(Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968
đến 1971 đă giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt cộng và quân
Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ c̣n 2 trận, những cuộc tấn công lẻ
tẻ của phía cộng sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số
xă ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9.8%, thương vong v́
chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt cộng, Bắc Việt
trên toàn miền Nam giảm 21%).
Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía cộng sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân
số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, dưới tỉ lệ dự đoán là
21% quân số sụt giảm. Điều này xảy ra trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ
giảm tới 58%. Quân cộng sản Bắc Việt và Việt cộng không những chỉ có mặt ít hơn
trên toàn lănh thổ, mà c̣n kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.
Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xă ấp có an ninh
th́ lại c̣n kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rơ ràng, và không
có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra điều ǵ khác hơn là sự
xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân Việt cộng và quân đội Bắc Việt
trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971. Trong khi Việt cộng, gọi như vậy để
phân biệt với quân Bắc Việt, không bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự
có ảnh hưởng mạnh do họ kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện,
Định Tường, Quảng Nam, Quảng Ngăi, th́ Việt cộng ở địa phương cũng không c̣n là
một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt
và sự cung cấp vũ khí hiện đại, th́ chiến tranh đă dần dần tự tàn lụi. Những đơn
vị và khu vực của Việt cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân
đội Bắc Việt để sống c̣n. Tác giả “phản chiến” Frances Fitzgerald của cuốn “Lửa
trong hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư
tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ Mặt trận Giải phóng và Hà
Nội, Ngô Vĩnh Long), nh́n nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt cộng lẫn
QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 th́ cơ hội sống c̣n của Việt
cộng chỉ c̣n 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành,
sau 23 năm theo Việt cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt trận
giải phóng là vô vọng.
Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn
vị Nghĩa quân xă quận và các chương tŕnh Nhân dân tự vệ, cùng với kế hoạch cải
tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được
nữa. Stanley Karnow khẳng định thằng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá
đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, th́ “riêng phía
Việt cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài G̣n.”
Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối bày
tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa sả om ṣm những ǵ mà
ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đă phải chịu đựng những khó khăn trở
ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những
điềm gở. Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở
vùng châu thổ:
“Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV chỉ đếm được
trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và
tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích
động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn th́
phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các
cấp chỉ huy thuộc quyền của họ th́ chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi c̣n
phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay th́ chuẩn mực chung về tài năng,
sự trong sạch và tận tâm đă tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể
tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở
khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập
một chính quyền ổn định.”
Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp
phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm là những
vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử dụng như hỏa tiễn tầm
nhiệt pḥng không SA-7, hỏa tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn
chiến xa T-54 được yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130
ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh
QLVNCH. QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đă gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển
hiện rơ ràng. Nhưng cái quân lực đang nằm đo ván đă đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8,
hồi phục sức lực và bẻ găy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc
đó.
Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, đă
tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là v́ “...Nam Việt Nam chiến đấu hơn
hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương Bắc.” Nhiều nhà b́nh luận, kể cả Tướng Ngô
Quang Trưởng, nói tới không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, th́ đó đúng là
yếu tố chính. Nhưng những điều ngụ ư nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu như
không có không lực Mỹ, th́ đă thiếu sót hai điều căn bản. Thứ nhất, quân đội Mỹ
cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như QLVNCH đă được. Thứ hai, là điểm
người ta ít nh́n ra: Không lực Hoa Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai
lực lượng vượt trội của Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng
pháo binh hơn hẳn, hỏa tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá quy
mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km).
Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại ngang
bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp cho Hà Nội. Hà
Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH không đủ đại bác để phản
pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly
và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm.
Tựu chung, trở lại đề tài không lực, th́ không quân Việt Nam đă thi hành nhiệm
vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới b́nh
luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lăng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của Hoa
Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ
tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:
“Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả nhiên
tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn đầu. Tôi la lên
báo động, th́ đă thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng
ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của
không quân Việt Nam cũng ghi bàn hoàn hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ
bị đạn pḥng không bắn lên xối xả... Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân
Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.
“Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom đạn
của họ trúng đích, không hề hấn ǵ. Hai phi công không quân Việt Nam đă tŕnh
diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục ḷng can đảm của họ trên cả sự thông
minh. Trong giây phút đó ḷng can đảm ấy đă vượt hẳn sự khôn ngoan trong những
tính toán hơn thiệt về sự an toàn của cá nhân họ.”
Đây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên không quân
của Mỹ chứng thực:
“Không quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972...
Trong trận pḥng thủ Kontum KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu.”
QLVNCH lănh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết Mậu
Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng có khoảng gần 150 ngàn
quân Bắc Việt đă tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung
khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết 1968 chỉ có 84 ngàn quân Việt
cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế. (ngoại trừ ở
quân khu I).
QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hiệp định Paris gian lận được kư kết
và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm VNCH đă
đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi
sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn
vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn
vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Định Tường-Kiến
Tường-Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm
trong suốt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí pḥng thủ kiên cố; cuộc
thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là phải
dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái
đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ
là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973
xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn
vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đon vị Nhảy Dù và
Thủy quân Lục chiến của VNCH.
Tuy nhiên đến giữa 1974 th́ việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ siết cổ
QLVNCH, và đạo quân này chỉ c̣n nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Đến 1975 cấp
số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đă giảm
nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn
trong một ngày:
| Năm 1972 | Năm 1975 | Tỉ lệ giảm | |
| Đạn 105 ly | 180 viên | 10 viên | 94% |
| Đạn 155 ly | 150 viên | 5 viên | 97% |
| Đạn 175 ly | 30 viên | 3 viên | 90% |
Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy.
Nhiều binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ.
Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị
chạm địch có khi bị giới hạn chỉ c̣n được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác,
ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy
bay... nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia
đ́nh họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp.
Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH
không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đ́nh. Đói kém và suy dinh dưỡng làm
xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. T́nh h́nh những tháng sau đó càng xuống
dốc, và người ta đau ḷng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến v́ hằng ngàn
vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như
những sách gọi là sách sử, th́ nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ
có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ư hơn phải là tại sao
QLVNCH đă có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu
thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng
lép kẹp, và gia đ́nh cũng đói khát không kém?
Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi
vùng cao nguyên, th́ khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm v́
những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ
nhục nhă sau cùng, vẫn có không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính
VNCH chiến đấu đến phút cuối.
Sư đoàn 18 đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai
tṛ của của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi quân
khu II đổ vỡ và kết cuộc đă gần, sư đoàn 7 VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân
Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu
Long vói Sài G̣n. Vào ngày cuối, gọi là “ngày quốc hận” (tác giả viết bằng tiếng
Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu ṇng do các Trung Úy Thanh và
Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) c̣n bay quanh Sài G̣n yểm trợ hỏa lực cho những
đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy
thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đă mất hết
rồi. Nhưng các Trung Úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược,
và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do Thiếu Tá Trương Phụng và Đại Úy
Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ c̣n Đại Úy
Phúc sống sót, oanh kích đến khi hết đạn. Hai Trung Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá
Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đă chiến đấu đến măi tận giây phút
cuối cùng!
Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đă bị th́ không một quân đội nào có thể
chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, vói thừa ứ những khẩu
pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối cộng sản cung
cấp. Trước một đạo quân VNCH bị rút ruột v́ cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc
Việt đă phải tung ra tất cả những ǵ họ có. Chừng 400 ngàn quân cộng sản, gần
90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ
từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đă ném vào trận chiến năm
1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân
số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi tết 1968,
trong khi về phẩm, c̣n có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn
xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Đoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn
gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng cộng sản hồi Tết Mậu Thân 1968.
(C̣n tiếp)