Tài Liệu Đặc Biệt VN-Mỹ:

Kế Hoạch Việt Nam Hóa Của TT Nixon
Vương Hồng Anh

* Chính sách của Mỹ về VN từ thời Tổng thống Roosevelt đến thời Tổng thống Eisenhower.

Theo ghi nhận của Đại tướng Cao Văn Viên, vào cuối thế chiến thứ hai, sự lănh đạo của Hoa Kỳ đối với Thế giới Tự do không ai mà không nh́n nhận. Nhưng chừng như khi có cuộc chiến tại Việt Nam và nhất là tại khu vực Đông Nam Á nói chung, chính sách Hoa Kỳ đă thay đổi nhiều lần, mà thoạt đầu là chính sách phi chính sách. Rồi đến khi cuộc can thiệp để chống Cộng sản lên đến giai quyết liệt th́ lại nhượng bộ và ḥa hoăn. Sự thay đổi này làm ảnh hưởng một cách nặng nề đến chính sách viện trợ và cung cách tiến hành chiến tranh tại phần đất này của thế giới.

Trong tập hồi kư viết do Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ xuất bản, Đại tướng Cao Văn Viên cũng nhắc lại một số sự kiện như sau: Tổng thống Franklin D.Roosevelt không bao giờ có quyết định là có nên giúp cho Pháp trở lại tái lập chế độ thuộc địa tại Đông Dương hay không. Chính quyền của Tổng thốngTruman th́ có một phản ứng rơ ràng về trước cuộc xung đột giữa Việt Minh và Pháp trong khoảng 1945-1946. Chính quyền Mỹ từ khước việc Pháp yêu cầu phi cơ và tàu chiến Hoa Kỳ giúp chuyên chở quân lính Pháp đến Đông Dương và đồng thời cũng từ khước việc Pháp yêu cầu trang bị vũ khí cho quân đội Pháp đánh nhau với Việt Minh. Đồng thời chính quyền Truman cũng từ khước lời kêu gọi của Hồ Chí Minh. Tháng 8 và 9 năm 1945, trong khi Việt Minh đang kiểm soát Hà Nội, Hồ Chí Minh, qua trung gian của Văn pḥng Cơ quan Chiến lược Hoa Kỳ, đă gửi yêu cầu lên Tổng thống Truman xin cho Việt Nam được hưởng quy chế "như của Phi Luật Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc lập." Từ tháng 10/1945 cho đến tháng Hai năm 1946, Hồ Chí Minh viết cho Tổng thống Truman ít nhất 8 lá thư, chính thức kêu gọi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp. Không có bằng chứng nào cho thấy các lá thư này được trả lời. Việc Hoa Kỳ không can thiệp chẳng khác ǵ là không chấp nhận cho Pháp vào vậy. (Bản tóm lược chính sách Hoa Kỳ dựa trên tập "Tài liệu Ngũ Giác Đài" của New York Times xuất bản năm 1971.)

Nhưng khi Việt Nam được công nhận độc lập một phần trong Liên Hiệp Pháp vào tháng Ba năm 1949 do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu th́ chính quyền Tổng thống Truman lại không hậu thuẫn cho ông, viện cớ là Quốc trưởng Bảo Đại là do Pháp đặt ra. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam bắt đầu ló dạng từ khi Mao Trạch Đông bắt đầu nắm vận mệnh Trung Hoa vào cuối năm 1949. Mục đích của Hoa Kỳ là chận đứng sự bành trướng của Cộng sản tại châu Á. V́ vậy khi Nga và Trung Cộng công nhận Hồ Chí Minh vào tháng 1/1950 th́ Mỹ liền công nhận Vua Bảo Đại trong chức danh Quốc trưởng Quốc gia VN vào tháng 2/1950 và chỉ ba tháng sau Mỹ tuyên bố sẽ viện trợ kinh tế cho Pháp để Pháp trở lại Đông Dương. Từ một khoản viện trợ khiêm tốn 10 triệu Mỹ kim, số tiền viện trợ này vọt lên đến 1 tỉ (ngàn triệu) Mỹ kim vào năm 1954. Cuộc chiến tranh Đông Dương diễn ra bằng tiền của Mỹ tiếp tế qua tay người Pháp.

Khi Pháp bị thất trận Điện Biên Phủ và buộc phải kư hiệp định Genève năm 1954, Hội đồng An ninh Quốc gia của chính quyền Tổng thống Eisenhower thấy rằng hiệp định này rất thất lợi cho Mỹ nên đă t́m cách chận đựng sự bành trướng thêm nữa của Cộng sản tại VN. Mục tiêu được đặt ra là duy tŕ "t́nh thân hữu với những người không Cộng sản tại miền Nam", tức chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, và để ngăn chận Cộng sản chiến thắng tại miền Nam bằng một cuộc tổng tuyển cử. Từ đó, Việt Nam Cộng Ḥa nhận viện trợ trực tiếp từ Mỹ.

* Các quyết định của

Tổng thống Kennedy, Tổng thống Johnson,

và kế hoạch Việt Nam hóa của Tổng thống Nixon

Khi được đắc cử, Tổng thống Kennedy đă chuyển kế hoạch có giới hạn của chính quyền Tổng thống Eisenhower thành một cuộc can thiệp rộng lớn để ngăn chận sự thống trị của CS tại miền Nam. Nhưng sự can thiệp này, mặc dù rộng lớn, không bao giờ thực hiện đúng mức của nó. Phải đợi đến khi chính quyền của Tổng thống Johnson tham gia quyết liệt vào bằng cả Không quân và lực lượng bộ chiến, và giai đoạn gay cấn nhất là quân số Hoa Kỳ lên đến 543,500 người vào đầu năm 1969.

Người kế vị Tổng thống Johnson là Tổng thống Nixon. Vị Tổng thống này lập tức đảo ngược phương cách can thiệp bằng kế hoạch Việt Nam hóa, một phó sản khá thuận lợi của học thuyết do ông đưa ra. Thay v́ phải trực diện đối đầu, Tổng thống Nixon chủ trương thương thuyết và chiến lược mưu t́m ḥa b́nh của ông được đặt trên "ba cây cột: thiện chí, sức mạnh và t́nh tương nhiệm". Đó là cách Tổng thống Nixon thường nói. Nhưng nếu có một điểm khác biệt chính yếu duy nhất giữa chủ thuyết Nixon và chính sách của Hoa Kỳ về VN từ năm 1954 là ở chỗ Tổng thống Nixon muốn "phía tương nhiệm gánh vác công việc pḥng thủ". Hăy xem bộ trưởng Quốc pḥng Melvin R.Laird kịch liệt đả kích chính sách của chính quyền cũ th́ thấy rơ.

"Từ quan điểm của chính sách pḥng thủ của Hoa Kỳ, thảm trạng Việt Nam là kế hoạch Việt Nam hóa không được thực hiện sớm hơn, trước 1969, bằng phương thức huấn luyện và trang bị cho Quân lực VNCH để họ chiến đấu chống lại Bắc Việt một cách hữu hiệu cũng như đối phó với vấn đề mất an ninh trong nước do Việt Cộng gây ra. Rơ ràng, những cơ hội đó đă bị bỏ qua để thay vào đó những quyết định can thiệp một cách đáng kể của Hoa Kỳ vào mọi giai đoạn của cuộc chiến" (trích Chủ thuyết Nixon: "Từ sự thất vọng ngấm ngầm đến những cơ hội mới" do bộ trưởng Quốc pḥng Melvin R. Laird đọc).


* Những thí dụ về trang bị vũ khí

Để giải thích thêm cho sự phân tích của bộ trưởng Quốc pḥng Melvin R. Laird, Đại tướng Cao Văn Viên đă nêu ra 1 trường hợp và ghi nhận như sau: Loại súng cá nhân AR-15 mà sau được cải danh thành M-16 là một thí dụ cần nêu rơ. Loại súng này được thí nghiệm tại Việt Nam từ đầu năm 1964. Đây là loại súng rất tuyệt hảo nhờ các đặc điểm: nhẹ, dễ bảo tŕ và chính xác. Viên đạn nhỏ nên người lính bộ chiến có thể mang theo nhiều cấp số, sức công phá của đầu đạn rất mạnh khả năng xuyên phá sâu nhờ vào tốc độ viên đạn bắn đi nhanh. Nói tóm lại, loại súng này chế tạo cho người lính Việt Nam và cho chiến trường Việt Nam. Tuy nhiên chỉ có khoảng 200 khẩu súng này được đưa ra sử dụng thật sự. Mấy năm say loại súng này mới được chọn làm vũ khí căn bản cho người lính bộ chiến Việt Nam Cộng Ḥa, nhưng chỉ sau khi Cộng sản được trang bị loại súng AK-47. Đại tướng Cao Văn Viên cũng nhắc đến việc trang bị loại ống phóng hỏa tiễn M-72 chống xe tăng và sau là loại phi đạn TOW chỉ được thực hiện sau khi Cộng quân đă có loại B-40 và B-41.


*Kế hoạch VN hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon

Theo kế hoạch Việt Nam Hóa của Tổng thống Nixon, trong các năm 1969, 1970, 1971, 1972, Lực lượng Hoa Kỳ lần lượt rút khỏi Việt Nam. Các đơn vị Hoa Kỳ c̣n lại tiếp tục phối hợp với các đơn vị Việt Nam Cộng Ḥa. Sự kết hợp giữa bộ Chỉ huy Yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ tại VN (gọi tắt là USMACV) cùng bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH diễn ra tốt đẹp.

Sau khi Hiệp định Paris được kư kết vào ngày 27-1-1973 và có hiệu lực vào 8 giờ sáng ngày 28-1-1973, mức quân viện của Hoa Kỳ bị giảm lần. Suốt trong những tháng đầu năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH và Văn pḥng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (gọi tắt là DAO) đưa ra đề nghị số tiền quân viện là 1,600 triệu Mỹ kim. Tổng thống Nixon chuyển sang Quốc hội đề nghị này nhưng với con số sửa đổi là 1,474 triệu Mỹ kim, nhưng Tổng thống Nixon xin thêm 1 khoản 474 triệu đô phụ cho tài khóa 1974 để trang trải các khoản kinh phí về hành quân mở rộng và thay thế các quân cụ bị hư hỏng cùng với 266 triệu Mỹ kim khác để đắp vào khoản thâm hụt do tài khóa năm trước c̣n thiếu.

Tháng Tư năm 1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử Đại tướng Cao Văn Viên với tư cách Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu sang Hoa Kỳ để vận động sự ủng hộ đề nghị viện trợ vừa nói. Tại Ngũ Giác Đài, Đại tướng Viên tŕnh bày về t́nh h́nh quân sự tại VNCH với đầy đủ bằng chứng và h́nh ảnh về sự vi phạm hiệp định của địch cũng như cuộc chuyển quân và chiến cụ ồ ạt của CSBV vào miền Nam. Các viên chức của bộ Quốc pḥng Mỹ bày tỏ một ḷng hậu thuẫn Đại tướng Viên hết ḿnh nhưng chẳng may Quốc hội Hoa Kỳ lại bác bỏ yêu cầu viện trợ phụ trội mà chỉ cho phép tối đa cho năm 1975 là 1 tỉ Mỹ kim và trong đó 700 triệu Mỹ kim sẽ bao gồm mọi phí khoản. Trong số này th́ tiền chi tiêu cho hoạt động của cơ quan DAO chiếm hết 46 triệu đô. Con số này làm cho quân và dân VNCH sững sờ. Dĩ nhiên ai cũng nh́n thấy một khoảng cách giữa nhu cầu và số cung rộng lớn như thế nào. Sự cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ đă ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị VNCH, nhất là Không quân và Hải quân.