Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Các Lực Lượng Quân Sự Của 4 Hệ Phái Ḥa Hảo
Vương Hồng Anh
Kỳ 43:
LTS. Tiếp theo phần 1 của loạt bài " Vĩ tuyến 17, Hiệp định Genève, 50 năm nh́n lại", đăng vào số báo thứ Bảy hàng tuần, kể từ đầu tháng 9/2004, VB giới thiệu tiếp phần 2 về t́nh h́nh tại miền Nam từ sau Hiệp định Genève đến thời kỳ 1955-1956. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: Quân lực VNCH trong giai đoạn 1946-1955( Khối Quân sử/Pḥng 5/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH); Đông Dương Hấp Hối của cựu Đại tướng Quân đội Pháp Henri Navarre; hồi kư của các cựu Tướng lănh VNCH: cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu Đại tướng Cao Văn Viên; Việc từng ngày 1945-1964 của tác giả Đoàn Thêm; tài liệu riêng của VB.
*Lực lượng quân sự 4 hệ phái của giáo phái của Ḥa
Hảo
Như đă tŕnh bày, trong năm1955 Quân đội Quốc gia VN (cải danh thành Quân đội
VNCH từ ngày 26 tháng 10/1955), đă mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng để tảo thanh
lực lượng giáo phái Ḥa Hảo của các ông Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lâm Thành
Nguyên, Lê Qang Vinh (tự Ba Cụt). Đây là những lực lượng thuộc các hệ phái của
Quân đội giáo phái Ḥa Hảo được h́nh thành trong giai đoạn 1946-1950 và đă được
Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương phối trí thành lực lượng phụ lực quân
sau khi các lực lượng này về hợp tác với Pháp. Để giúp bạn đọc hiểu thêm về tiến
tŕnh h́nh thành và phát triển các các lực lượng thuộc giáo phái Ḥa Hảo, sau
đây là bài lược tŕnh về 4 hệ phái Ḥa Hảo trước khi Hiệp định Genève kư kết
ngày 20/7/1954.
1, Lực lượng Trần Văn Soái, tức Năm Lửa, đặt bản doanh tại Cần Thơ. Vợ ông là bà
Lê Thị Gấm cũng là một nữ tướng. Lực lượng Trần Văn Soái chiếm vùng Cần Thơ,
Vĩnh Long, Sa Đéc
2,Lực lượng Lâm Thành Nguyên, tức Hai Ngoán, hoạt động tại 2 tỉnh Long Xuyên và
Châu Đốc, bản doanh đặt tại Cái Dầu.
3, Lực lượng Lê Quang Vinh ( tức Ba Cụt) đóng bản doanh tại Thốt Nốt (Long Xuyên),
kiểm soát vùng Rạch Giá, Long Xuyên.
4,Lực lượng Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh tại Chợ Mới, đóng tại một vài khu vực
trong tỉnh Long Xuyên.
* Phân tích về t́nh h́nh của 4 hệ phái
Theo phân tích của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, tổng quân số của 4 hệ phái
nói trên khoảng 30 ngàn người. Trong 4 hệ phái, người cóù binh lực binh lực
trong tay mạnh nhất là ông Trần Văn Soái. Ông tự coi ḿnh là Tổng tư lệnh Quân
đội Ḥa Hảo. Nhưng các phái không phục và sinh ra tranh chấp nhau.Hệ phái của
ông Nguyễn Giác Ngộ tự cho là đệ tử chân chính của Đức Thầy và theo họ nói th́
họ mới chính là người được Đức Thầy giao nhiệm vụ chỉ huy quân lực. Và v́ tự cho
là chính thống nên không chịu kết hợp với lực lượng ông Năm Lửa.
Năm 1947, v́ nội bộ lung củng, bị Việt Minh lấn át, ông Trần Văn Soái bắt liên lạc với 1 đơn vị Pháp hành quân tại Cần Thơ và sau đó đă về hợp tác với Pháp vào ngày 15-3-1947 (Trước đó, các binh đội giáo phái Cao Đài về hợp tác với lực lượng Liên Hiệp Pháp ngày 8-1-1947). Ông Lâm Thành Nguyên đă kịch liệt phản đối ông Trần Văn Soái nhưng tới tháng 2/1949, cảm thấy bị cô lập nên cũng đă về hợp tác với Pháp.
Ông Lê Quang Vinh đă về hợp tác với Pháp ngày 30-1-1948, nhưng cũng từ ngày này đến cuối tháng 3/1953, ông đă 3 lần quy thuận và 3 lần ly khai. Cứ mỗi lần quy thuận và ly khai như vậy, ông lại lấy thêm được tiền tài và vũ khí để phát triển binh lực của ông. Điều đáng nói là người Pháp không lấy thế làm tức giận và vẫn kiên nhẫn đón nhận mỗi lần quy thuận của ông, chỉ cốt kiềm hăm lực lượng của ông không theo Cộng sản, mà ngược lại khai thác lực lượng này đánk kẻ địch chính là Việt Minh.
Riêng ông Nguyễn Giác Ngộ không chịu về hợp tác với Pháp. Bộ đội của ông c̣n mang biệt danh là bộ đội Nguyễn Trung Trực. Ông Ngộ c̣n cắt đứt cả liên lạc với ông Năm Lửa.
Vào cuối năm 1949, nghiă là sau ngày lực lượng của ông Lâm Thành Nguyên về
quy thuận, ông Năm Lửa được sự hỗ trợ của người Pháp, có ư định quy tụ các phái
vơ trang Ḥa Hảo để thành lập Mặt trận Ḥa Hảo Chống Cộng. Ông Năm Lưả đă được
sự hợp tác của ông Lâm Thành Nguyên và bí mật bắt tay được với ông Ba Cụt, nhưng
đă thất bại trước sự chống đối của ông Nguyễn Giác Ngộ. Ông Năm Lửa tiếp xúc mấy
lần với ông Ngộ nhưng ông này vẫn không chịu hợp tác.
Thất bại trong việc thuyết phục ông Ngộ, ông Năm Lửa bèn phối hợp với lực lượng
của ông Lâm Thành Nguyên và Ba Cụt tiến đánh quân ông Ngộ đóng tại quận Chợ Mới.
Bị bao vây và đánh rát, ông Ngộ đă cho người ra quy thuận Quốc trưởng Bảo Đại.
Ngày 25-2-1950, ông Nguyễn Giác Ngộ về hợp tác với chính phủ Quốc gia VN do ông
Nguyễn Phan Long làm thủ tướng. Ông Ngộ là người đầu tiên đưa lực lượng giáo
phái về hợp tác với chính phủ Quốc gia VN.
*Lực lượng giáo phái trong hệ thống phụ lực quân của
Pháp
Ngày 15-5-1952, trong một bản nghiên cứu đề cập tới các đơn vị phụ lục quân tại
Nam Việt, Bộ Tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Pháp đă phân tích rằng phụ lực quân
giáo phái là một tổ chức vô cùng phức tạp về nhiều mặt. Tại mỗi lực lượng giáo
phái, tuy Pháp có một phái bộ cố vấn và liên lạc nhưng không thể nào kiểm soát
được quân số thực sự.
Phụ lực quân có hai loại với những khác biệt như sau:
-Thành phần không giáo phái được tổ chức thành đại đội như phụ lực quân Nam Việt,
và đặt dưới quyền chỉ huy của giới chức quân sự địa phương.
-Thành phần giáo phái đặt dưới sự chỉ huy của giáo phái và làm việc trong hệ
thống chỉ huy của Pháp.
Vào thời kỳ này, tại mỗi tiểu khu đều có 1 pḥng phụ lực quân tiểu khu. Đối với
binh đội giáo phái, các khoản tiền lương cho quân sĩ được pḥng này giao thẳng
cho các cấp lănh đạo giáo phái phân phát, Pháp không thể kiểm soát được. Tại mỗi
nhóm giáo phái, tuy Pháp có 1 phái bộ cố vấn và liên lạc nhưng cũng không thể
nào kiểm soát được quân số thực sự. Các chỉ huy lực lượng giáo phái báo cáo ra
sao th́ Pháp chỉ biết vậy mà thôi. V́ vậy, các lực lượng giáo phái không bị lệ
thuộc vào Pháp mà chỉ đặt dưới sự điều động của các tư lệnh lực lượng giáo phái.
Sau Hiệp định Genève, Chính phủ Quốc gia Việt Nam ban hành lệnh sát nhập kể từ ngày 1-8-1954 các binh đội của giáo phái quy thuận : Một binh đội thuộc lực lượng Cao Đài của hệ phái Đài Nguyễn Thành Phương: 3 ngàn người. Một binh đội thuộc lực lượng Ḥa Hảo thuộc hệ pháiTrần Văn Soái: 3 ngàn người. Mộ tbinh đội thuộc lực lượng Ḥa Hảo của hệ phái Nguyễn Giác Ngộ: 3 ngàn người.
Như đă tŕnh bày, với những thành phần giáo phái này, những trung đoàn giáo phái sau nay đă được thành lập:Trung đoàn 58 thành lập 1-8-1954, nguồn gốc: binh đội 3 ngàn quân thuộc lực lượng Cao Đài của hệ phái Nguyễn Thành Phương. Trung đoàn 59 thành lập 1-8-1954, nguồn quân số: binh đội 3 ngàn quân của lực lượng Ḥa Hảo hệ phái Trần Văn Soái. Trung đoàn 57 thành lập ngày 1-8-1954, nguồn quân số: binh đội 3 ngàn quân của lực lượng Ḥa Hảo hệ phái Nguyễn Giác Ngộ.
Binh đội 3 ngàn quân của lực lượng Trần Văn Soái sát nhập vào Quân đội Quốc
gia là thuộc thành phần phụ lực quân của Pháp, được ông Trần Văn Soái chấp thuận
cho quy thuận chính phủ Quốc gia VN. Cũng cần ghi nhận rằng vào ngày 24 tháng 9,
ông Trần Văn Soái, với danh xưng là Trung tướng lực lượng giáo phái Ḥa Hảo, đă
được Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm mời giữ chức vụ Quốc vụ khanh, uỷ viên Quốc pḥng
của Chính phủ Quốc gia VN. Cũng được mời giữ chức vụ này c̣n có Trung tướng Cao
Đài Nguyễn Thành Phương. Đến tháng 3/1955, ông Trần Văn Soái xin từ chức, về Cái
Vồn tiếp tục chỉ huy lực lượng chống chính phủ. Kỳ sau: Lực lượng Dân xă đảng và
những ngày cuối cùng của ông Ba Cụt.
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại: Lực Lượng
Dân Xă Đảng Tại Vùng Hậu Giang
Vương Hồng Anh
Kỳ 44:
*Tiến tŕnh h́nh thành lực lượng vũ trang Dân Xă Đảng
của Giáo phái Ḥa Hảo
Theo tài liệu của Khối Quân sử/Pḥng 5/Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực VNCH tŕnh bày
trong Quân sử 4, tiến tŕnh h́nh thành và phát triển lực lượng Dân Xă Đảng của
Giáo phái Ḥa Hảo được ghi nhận như sau.
Ngày 21 tháng 9/1946, Đức Huỳnh Giáo Chủ cùng với ông Nguyễn Văn Sâm và một số
trí thức thành lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xă Hội, gọi tắt là Việt Nam Dân Xă Đảng.
Trong một thời gian ngắn, Việt Nam Dân Xă Đảng phát triển mạnh, và được sự hậu
thuẫn rất lớn tại miền Tây Nam phần Việt Nam. Các đảng viên Dân Xă Đảng chính là
thành phần ṇng cốt của lực lượng quân sự giáo phái Ḥa Hảo. Từ năm 1947 đến năm
1954, lực lượng vơơ trang của giáo phái Ḥa Hảo có 4 hệ phái gồm: lực lượng Trần
Văn Soái, tức Năm Lửa, hoạt động tại Cần Thơ, Vĩnh Long, đặt bản doanh tại Cái
Vồn; lực lượng Lâm Thành Nguyên, tức Hai Ngoán, hoạt động tại 2 tỉnh Long Xuyên
và Châu Đốc, bản doanh đặt tại Cái Dầu.; lực lượng Lê Quang Vinh ( tức Ba Cụt)
đóng bản doanh tại Thốt Nốt (Long Xuyên), kiểm soát vùng Rạch Giá, Long Xuyên;
lực lượng Nguyễn Giác Ngộ đặt bản doanh tại Chợ Mới, đóng tại một vài khu vực
trong tỉnh Long Xuyên.
*Kế hoạch phối trí lực lượng Dân xă đảng trong năm 1955
Sau Hiệp định Genève, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam đă có kế hoạch
sát nhập các lực lượng giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo. Tuy nhiên, trong tháng
8/1954, chỉ có một số binh đoàn giáo phái sát nhập vào hệ thống Quân đội Quốc
gia. Về giáo phái Ḥa Hảo chỉ có 1 binh đoàn 3 ngàn người của lực lượng Trần Văn
Soái và 3 ngàn người thuộc lực lượng Nguyễn Giác Ngộ Nguyễn Thành Phương, về quy
thuận Chính phủ và được cải biến thành các Trung đoàn Bộ binh.
Khi Quân đội Quốc gia Việt Nam khai diễn chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1
(23/5-12/8/1955) đă tŕnh bày trong phần trước, qua chiến dịch Đinh Tiên Hoàng
đợt 1, lực lượng giáo phái Ḥa Hảo chống Chính phủ Quốc gia VN bị phân tán. Đầu
tháng 9/1955, lực lượng Ḥa Hảo của ông Lê Quang Vinh (tức Ba Cụt), trung tướng
lực lượng giáo phái, dưới danh xưng là Quân đội Dân Xă Đảng Việt Nam đă tản mác
khắp nơi, đă về tập trung vùng Nam Thái Sơn và Ba Thê. này.Trước áp lực của các
binh đoàn giáo phái ly khai đè nặng xuống nhiều khu vực của miền Tây, Chiến dịch
Đinh Tiên Hoàng đợt 2 được khai diễn vào ngày 29-9-1955 và kéo dài đến
17-10-1955. Cuộc hành quân này có mục đích tiêu diệt lực lượng Ḥa Hảo của ông
Ba Cụt đồng thời chiếm đóng trụ đường Rạch Giá-Hà Tiên để phá huỷ các cơ sở của
đối phương..
Như đă tŕnh bày, ông Lê Quang Vinh khi được tin Quân đội Quốc gia VN lại tiếp
tục mở cuộc hành quân tại miền Tây, ông quyết tử chiến và đă thảo một bản quân
lệnh với danh xưng là Trung tướng Tổng tư lệnh Quân đội Dân Xă Việt Nam gửi cho
các cơ quan, đơn vị quân sự trực thuộc ở trong các vùng ảnh hưởng của ông, để
theo đó mà thi hành. Lực lượng Quân đội Quốc gia ít lâu sau bắt được bản quân
lệnh này được phổ biến ngày 6-11-1955. Sau đây là phần lược tŕnh về sự phối trí
của lực lượng Dân Xă Đảng theo quân lệnh của ông Lê Quang Vinh. Một số chi tiết
trong phần này đă được tŕnh bày trong bài tổng lược về chiến dịch Đinh Tiên
Hoàng.
Theo sự phân nhiệm của ông Lê Quang Vinh, Tư lệnh Lực lượng Dân Xă Đảng , nỗ lực
chính của lực lượng là Trung đoàn Lê Quang, được giao nhiệm vụ pḥng thủ tại Ba
Thê. Tiểu đoàn Các đơn vị khác gồm: Tiểu đoàn 205 Lê Lợi tác chiến tại cả ba
kinh Ba Thê Mới, quyết chiến tại mặt trận Núi Tróc, Núi Tượng.Tiểu đoàn 210 tác
chiến tại kinh Mốp Văn. Tiểu đoàn 206 Lê Lợi chịu trách nhiệm phá con đường từ
cầu số 5 đến ngă ba lộ cái Long Xuyên-Châu Đốc. Tiểu đoàn Năm Núi đào lộ đánh xe
nhà binh, phá cầu làm chứơng ngại sự lưu thông trên con đường từ Ô Môn tới Cần
Thơ. Tiểu đoàn 20 tác chiến tại Ô Long Vĩ (Châu Đốc) . Tiểu đoàn Hồng Châu chịu
trách nhiệm phá cầu, đào lộ từ Sa Đéc đến Vàm Cống và nă trọng pháo vào châu
thành Sa Đéc. Trung đoàn Lê Lợi trách nhiệm điều động trọng pháo bắn tàu binh
đường Long Xuyên-Núi Sập Trung đoàn Nguyễn Huệ bố trí các đồng rừng Giồng Triêng
G̣ Quéo. Tiểu đoàn chủ lực Thất Sơn phân ra hai bộ phận: đột kích ngă ba kinh
Tám Ngàn, liên tiếp nă trọng pháovào Xà Tôn.
Trong tháng 12/2955, sau những cố gắng qua các cuộc hành quân liên tiếp của
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, lực lượng Quân đội Quốc gia VN vẫn không tiêu diệt
được chủ lực của đối phương.
Miền Tây Nam thuộc ảnh hưởng của ông Ba Cụt. mặc dù bị săn đuổi, nhưng các đơn
vị của Dân Xă Đảng do ông Ba Cụt tổng chỉ huy vẫn chưa bị tiêu diệt, vẫn c̣n khả
năng quay rối các đồn bót và các thôn xóm, nhất là tại vùng biên thùy Cam Bốt-
Việt Nam, gây bất an trên các trục lộ giao thông bằng lối đánh du kích.
*Lực lượng Dân Xă Đảng tại Hậu Giang sau chiến dịch
Đinh Tiên Hoàng.
Để chỉnh đốn và phân định chiến trường hoạt động, Tư lệnh Lực lượng Dân Xă Đảng
Lê Quang Vinh đă chia vùng Hậu Giang ra làm bốn khu chiến với sự phối trí như
sau.
-Khu Giồng Riềng (Rạch Giá): Khoảng 200 người có Tiểu đoàn 21 đóng tại An Giồng
Riêng.
-Khu Ba Thê: khoảng 400 người có Tiểu đoàn Hồng Châu đóng tại vùng Thới Long (Cần
Thơ), Đại đội 30 Dân xă đóng trên kinh Bốn Tổng, Đại đội đặc biệt đóng trên kinh
Tri Tôn.
-Khu Hà Tiên: Khoảng 200 người trong đó có quân số của Tiểu đoàn chủ lực Thất
Sơn đóng tại Vĩnh Phú.
-Khu Châu Đốc: Khoảng 400 người có quân số của Tiểu đoàn 19 đóng tại Tân An,
Tiểu đoàn 7 đóng tại Phú Hữu, Tiểu đoàn 20 đóng tại Vĩnh Ngươn, Đại đội 31 Dân
xă, Đại đội 2 pḥng vệ đóng tại vùng kinh Thần Nông, Tiểu đoàn Phan Thanh Giảng
đóng tại Mương Kinh dọc theo bờ sông Tiền Giang, Tiểu đoàn Lê Văn Duyệt đóng tại
vùng rạch Sở Thượng.
Ngoài quân số trên, lực lượng Dân Xă Đảng c̣n 4 trung đoàn chủ lực di động trên
khắp khu vực vùng Hậu Giang. Đó là:
-Trung đoàn Bắc Tiến c̣n khoảng trên 200 người.
-Trung đoàn Nguyễn Huệ có quân số c̣n khoảng 200 người (các tiểu đoàn 201, 2002
và 204 sau cần lần thất bại, quân số hao hụt nên đă bị giải tán)
-Trung đoàn Lê Quang c̣n khoảng trên 300 quân.
-Trung đoàn Lê Lợi c̣n khoảng 100 người.
Ông Lê Quang Vinh gọi lực lượng của ḿnh là Nghiă quân cách mạng hoạt động trong
Dân Xă Đảng, và ông có danh xưng là Trung tướng Tổng tư lệnh Quân lực Dân Xă
Đảng. Ông Lê Quang Vinh đă về hợp tác với Pháp ngày 30-1-1948, nhưng cũng từ
ngày này đến cuối tháng 3/1953, ông đă 3 lần quy thuận và 3 lần ly khai. Cứ mỗi
lần quy thuận và ly khai như vậy, ông lại lấy thêm được tiền tài và vũ khí để
phát triển binh lực của ông. Điều đáng nói là người Pháp không lấy thế làm tức
giận và vẫn kiên nhẫn đón nhận mỗi lần quy thuận của ông, chỉ cốt kiềm hăm lực
lượng của ông không theo Cộng sản, mà ngược lại khai thác lực lượng này đánh kẻ
địch chính là Việt Minh.
Vào lúc chưa xảy ra các cuộc giao tranh với lực lượng Quân đội Quốc gia, ông đă
củng cố lực lượng Dân Xă Đảng. Lực lượng này đă có các tỉnh đảng bộ và quận bộ
thuộc 6 tỉnh miền Tây: Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sa Đéc, Rạch Giá và Hà
Tiên. Sự tổ chức này cho thấy ông Lê Quang Vinh đă lập đảng bộ ngay cả tại những
vùng thuộc sự kiểm soát của lực lượng Trần Văn Soái. (Kỳ sau: Các cuộc hành quân
của QL.VNCH tảo thanh lực lượng Dân Xă Đảng tại Hậu Giang trong năm 1956).