Chiến Sử Việt Nam, Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
LTS. Tiếp theo phần 1 của loạt bài " Vĩ tuyến 17, Hiệp định Genève, 50 năm nh́n lại", đăng vào số báo thứ Bảy hàng tuần, kể từ đầu tháng 9/2004, VB giới thiệu tiếp phần 2 về t́nh h́nh tại miền Nam từ sau Hiệp định Genève đến cuối năm1955. Loạt bài này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: Quân lực VNCH trong giai đoạn 1946-1955( Khối Quân sử/Pḥng 5/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH); Đông Dương Hấp Hối của cựu Đại tướng Quân đội Pháp Henri Navarre; hồi kư của các cựu Tướng lănh VNCH: cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, cựu Thiếu tướng Đỗ Mậu, cựu Đại tướng Cao Văn Viên; Việc từng ngày 1945-1964 của tác giả Đoàn Thêm; tài liệu riêng của VB.
Quân Đội Quốc Gia Kiểm Soát
Các Căn Cứ Địa Của Giáo Phái
Vương Hồng Anh
Kỳ 30
*Tổng lược về cuộc hành quân của Chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 1
Sau cuộc hành quân đầu tiên của chiến dịch Đinh Tiên Hoàng khai diễn vào ngày
5-6-1955, mà mục tiêu là tiến chiếm căn cứ của Trung tướng Lực lượng Ḥa Hảo
Trần Văn Soái, vàCăn cứ Cái Dầu của Thiếu tướng Lực lượngḤa Hảo Lâm Thành
Nguyên, lực lượng Quân đội Quốc gia mở tiếp cuộc hành quân truy kích lực lượng
của ông Ba Cụt tại Tân Quới, Thới Lai và Cờ Đỏ. Sau vài cuộc chạm súng, một phần
lực lượng của ông Ba Cụt rút về hướng Bắc vượt qua ranh giới Cao Miên, phần c̣n
lại rút về kinh Tri Tôn rút về về cố thủ tại vùng "định cư Bắc Việt " (casier
Tonkinois) nằm ở khoảng giữa tỉnh lỵ Rạch Giá và Hà Tiên.
Ngày 9 tháng 8-1955, lực lượng Quân đội Quốc gia trở lại Thốt Nốt và Thới Long.
Cuộc hành quân này có tính cách yểm trợ các đơn vị đến lập căn cứ trong các khu
vực mà trước đó là các căn cứ địa của lực lượng giáo phái. Đây là cuộc hành quân
chót của chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1. Tổng kết giai đoạn 1 của chiến dịch
này được ghi nhận như sau.
A-Thiệt hại của Lực lượng Quân đội Quốc gia:
-tử thương: 6 sĩ quan, 15 hạ sĩ quan, 103 binh sĩ.
-bị thương: 24 sĩ quan, 89 hạ sĩ quan, 417 binh sĩ.
-mất tích: 11 binh sĩ.
-vũ khí: 33 súng trong đó có 4 súng cộng đồng
-máy truyền tin: 1 AN.PRC, 3 SCR 300, 1 SCR 508
B- Thiệt hại của lực lượng giáo phái:
-tử thương: 463
-bị bắt: 239
-quy thuận: 1,823 người
-vũ khí bị tịch thu: 299 súng, trong đó có 4 súng cối 81 ly, 2 súng cối 60 ly.
-vũ khí nộp do quy thuận: 1,115 súng, trong đó có 20 đại liên, 27 súng cối 81 ly,
3 súng cối 60 ly.
-quân xa bị tịch thu: 25 xe nhỏ, 10 xe Jeep. 2 xe dodge 4x4, 21 camions.
-tàu thuyền bị tịch thu: 2 tàu nhỏ, 2 ghé máy.
- phương tiện bị phá hủy: 10 tàu, 2 xà lan, 66 thuyền, 1 xưởng đạn dược, 1 biệt
thự của ông Ba Cụt.
*Phân tích về các cuộc tấn công của Quân đội Quốc
gia trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1.
Theo phân tích của Khối Quân sử/Pḥng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QL.VNCH, tŕnh bày
trong Quân sử 4, th́ cuộc tấn công của Quân đội Quốc gia vào sáng sớm ngày
5-6-1955 là một sự bất ngờ. Lực lượng giáo phái đă chống cự yếu ớt ngay từ phút
đầu tiên của các cuộc tấn công này. Các đơn vị của Tướng Năm Lưả đóng theo trục
Vĩnh Long-Cần Thơ đă bị tan ră ngay, một lớp quy thuận, c̣n một lớp theo Tướng
Năm Lưả lánh sang Đồng Tháp Mười. Các đơn vị của Tướng Lâm Thành Nguyên đă cùng
ông quy thuận sau khi bản doanh Cái Dầu bị chiếm. Riêng có lực lượng của Tướng
Ba Cụt đă thoát ra khỏi vùng kinh Thốt Nốt và tổ chức lại lượng chống lại Quốc
gia Việt Nam khá lâu.
Trong thời gian diễn ra chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1, lực lượng Quân đội
Quốc gia đă huy động 6 liên đoàn bộ chiến, có pháo binh yểm trợ, mở liên tiếp
các cuộc hành quân quy mô. Ghi nhận chung, các cuộc hành quân này đă không mang
lại kết quả khả quan. Theo phân tích của Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia VN,
vào thời kỳ này, Quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn chưa có những chiến thuật mới,
thường khai triển các cánh quân tiến theo các con kinh vào khu vực đối phương để
truy kích. Khu vực do các lực lượng giáo phái trú đóng là vùng nông thôn rộng
bát ngát, kinh rạch chằng chịt, cây cỏ rậm rạp, khó xác định vị trí của đối
phương.
Về lực lượng giáo phái, chiến thuật thường áp dụng là du kích chiến. Lực lượng
giáo phái thường tránh né các cuộc tấn công lớn của Quân đội Quốc gia bằng những
phương cách như sau:
-Phân tán ra hai bên bờ kinh, núp vào các g̣ đống ở xa, khi các đơn vị của Quân
đội Quốc gia đi khỏi th́ họ lại trở về ấp xă.
-Thoát ra khỏi khu vực hành quân nhờ đêm tối và nhờ trang bị vũ khí nhẹ nên di
chuyển rất nhanh.
Cũng theo phân tích của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia VN, trong chiến dịch
này, lực lượng Quân đội Quốc gia có những nhược điểm khiến cho các cuộc hành
quân trở nên không có hiệu quả:
-Bộ chỉ huy chiến dịch đă ra lệnh cho các đơn vị hành quân di chuyển quá xa theo
các con kinh khiến cho binh sĩ mệt mỏi ( có khi phải đi xa hơn 20 km theo các
con kinh mỗi ngày).
-Không xác định được rơ mục tiêu nơi nào có đối phương, nên các đơn vị hành quân
thường tiến theo các con kinh cho chóng kết thúc lộ tŕnh tiến quân, không cần
khám phá, lục soát hai bên bờ và cũng không có thời giờ để khám phá v́ lộ tŕnh
hành quân quá dài.
-Binh sĩ phải mang đồ cồng kềnh theo và phải vượt qua nhiều cầu khỉ khó khăn nên
địch quân kịp thời rút lui.
-Khi vượt qua rừng tràm, các đơn vị hành quân hết gạo và nước uống, không được
tái tiếp tế, lại thiếu yểm trợ của Không quân, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh.
Đoàn quân bị đói khát và mệt mỏi, phải vượt qua một khu rừng tràm đầy nước mênh
mông, không có địa thế ẩn núp, chỉ cần một toán quân nhỏ của địch quân lợi dụng
địa thế thuận lợi là có thể gây khó khăn cho đơn vị hành quân một cách dễ dàng.
Qua vài trận đụng độ với lực lượng giáo phái của ông Năm Lửa và ông Ba Cụt, các
sĩ quan chỉ huy của các đơn vị Quân đội Quốc gia nhận thấy đối phương đă sử dụng
hỏa lực một cách loạn xạ, nghiă là khi chạm súng, họ bắn tối đa hỏa lực sẵn có,
bắn được một lúc rồi bỏ chạy. Do đó chỉ có những toán quân đầu của lực lượng
hành quân chạm súng, các đơn vị đi sau ít khi sử dụng đến vũ khí.
Lần đầu tiên chạm một đơn vị chủ lực của ông Ba Cụt, một đơn vị hành quân đă mất
b́nh tĩnh v́ hỏa lực đối phương bắn ra dữ dội, tưởng như địch quân đang chuẩn bị
cho một cuộc xung phong theo kiểu Việt Minh. Bởi v́ đối với Việt Minh trong cuộc
chiến tranh Việt-Pháp, các đơn vị bộ chiến rất hạn chế hỏa lực và chỉ khai hỏa
tối đa khi mở một trận quyết định, c̣n thường th́ chỉ bắn lẻ tẻ rồi rút lui.Sau
khi rút được kinh nghiệm này, các đơn vị Quân đội Quốc gia đă tỏ ra b́nh tĩnh
một lần chạm súng với lực lượng giáo phái ly khai, chống Chính phủ.
Một kinh nghiệm khác được rút ra trong các cuộc hành quân của chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 1 là thường thường các mũi dùi phải mở sâu vào các con kinh nhiều
cây số và phải vượt qua nhiều cầu khỉ. Quân của lực lượng giáo phái thường lợi
dụng những chướng ngại vật này để nổ súng vào đơn vị hành quân. Các đơn vị Quân
đội Quốc gia muốn vượt qua phải bắn trọng pháo yểm trợ, cho nên khi đi hành quân,
các đơn vị phải mang theo bích kích pháo 81 ly và một số khá nhiều đạn dược.
Trong điều kiện không thể mỗi lúc mà tiếp tế được, nên mỗi tiểu đoàn với 4 đại
đội chiến đấu, thường dành riêng ra một đại đội làm trừ bị và mỗi binh sĩ thuộc
đại đội này phải có nhiệm vụ mang theo mỗi người hai quả đạn bích kích pháo 81
ly trong suốt cuộc hành quân. Để di chuyển cho nhẹ nhàng, mỗi binh sĩ có một đ̣n
tre để gánh các viên đạn. (Kỳ sau: Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng giai đoạn 2).
Tài Liệu Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Chiến Dịch Đinh Tiên Hoàng
2, Truy Kích Quân Giáo Phái
Vương Hồng Anh
Kỳ 31
*Tổng lược về cuộc hành quân của Chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 1
Như đă tŕnh bày, sau cuộc hành quân đầu tiên của chiến dịch Đinh Tiên Hoàng
khai diễn vào ngày 5-6-1955, mà mục tiêu là tiến chiếm căn cứ của Trung tướng
Lực lượng Ḥa Hảo Trần Văn Soái, vàCăn cứ Cái Dầu của Thiếu tướng Lực lượngḤa
Hảo Lâm Thành Nguyên, lực lượng Quân đội Quốc gia mở tiếp cuộc hành quân truy
kích lực lượng của ông Ba Cụt tại Tân Quới, Thới Lai và Cờ Đỏ. Sau vài cuộc chạm
súng, một phần lực lượng của ông Ba Cụt rút về hướng Bắc vượt qua ranh giới Cao
Miên, phần c̣n lại rút về kinh Tri Tôn rút về về cố thủ tại vùng "định cư Bắc
Việt " (casier Tonkinois) nằm ở khoảng giữa tỉnh lỵ Rạch Giá và Hà Tiên. Ngày 9
tháng 8-1955, lực lượng Quân đội Quốc gia trở lại Thốt Nốt và Thới Long.
Theo kế hoạch, các cuộc hành quân có tính cách yểm trợ các đơn vị đến lập căn cứ
trong các khu vực mà trước đó là các căn cứ địa của lực lượng giáo phái. Đây là
cuộc hành quân chót của chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1. Tổng kết giai đoạn 1
của chiến dịch này được ghi nhận như sau-Thiệt hại của Lực lượng Quân đội Quốc
gia: tử thương: 6 sĩ quan, 15 hạ sĩ quan, 103 binh sĩ.-bị thương: 24 sĩ quan, 89
hạ sĩ quan, 417 binh sĩ.-mất tích: 11 binh sĩ. -vũ khí: 33 súng trong đó có 4
súng cộng đồng-máy truyền tin: 1 AN.PRC, 3 SCR 300, 1 SCR 508 Thiệt hại của lực
lượng giáo phái:tử thương: 463, bị bắt: 239.-quy thuận: 1,823 người.vũ khí bị
tịch thu: 299 súng, trong đó có 4 súng cối 81 ly, 2 súng cối 60 ly.vũ khí nộp do
quy thuận: 1,115 súng, trong đó có 20 đại liên, 27 súng cối 81 ly, 3 súng cối 60
ly.quân xa bị tịch thu: 25 xe nhỏ, 10 xe Jeep. 2 xe dodge 4x4, 21 camions.tàu
thuyền bị tịch thu: 2 tàu nhỏ, 2 ghé máy; phương tiện bị phá hủy: 10 tàu, 2 xà
lan, 66 thuyền, 1 xưởng đạn dược, 1 biệt thự của ông Ba Cụt.
* Hành quân giải vây áp lực địch quân tại Nam Sơn
Qua chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1, lực lượng giáo phái Ḥa Hảo chống Chính
phủ Quốc gia VN bị phân tán. Đầu tháng 9/1955, lực lượng Ḥa Hảo của ông Ba Cụt
đă tản mác khắp nơi, nay đă về tập trung vùng Nam Thái Sơn và Ba Thê, uy hiếp
trầm trọng an ninh khu vực này.
Tại Nam Sơn, các Tiểu đoàn 54 và Tiểu đoàn 508 Quân đội Quốc gia VN bị cô lập.
Lực lượng đối phương đắp ụ phong tỏa và bắn vào những binh sĩ ra khỏi đồn. Ban
đêm, quân đối phương pháo kích.
Theo tin tức t́nh báo, Trung đoàn Lê Quang của ông Ba Cụt cùng các Tiểu đoàn
Hồng Ngự và Tiểu đoàn 7 đă tập trung tại vùng này để mở cuộc công hăm.
Ngày 15-9-1955, Bộ chỉ huy chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đă phải điều động hai tiểu
đoàn đến vùng này để hành quân giải vây. Tiểu đoàn 713 do Đại úy Nguyễn Văn Tư
chỉ huy đă xung phong làm nỗ lực chính tấn công đối phương để giải toả. Tiểu
đoàn 713 cũng như Tiểu đoàn trưởng là người gốc Lạng Sơn, mỗi lần trong các trận
đánh, Đại úy Nguyễn Văn Tư đều đi đầu dàn quân thành hàng ngang, rồi ồ ạt tiến
quân tới mục tiêu theo tiếng kèn đồng mà tiểu đoàn thường mang theo. Với lối tấn
công của Đại uư Nguyễn Văn Tư, những binh sĩ nhát sợ thường đào ngũ hết và chỉ
c̣n lại những người thực sự can đảm ở lại với Tiểu đoàn.
Trong cuộc tấn công vào mục tiêu Nam Thái Sơn để giải tỏa áp lực địch cho các
đơn vị bạn bị bao vây, Đại uư Nguyễn Văn Tư đă áp dụng chiến thuật sở trường của
ḿnh: Quân dàn theo hàng ngang và bỏ đường băng qua các ruộng luá che khuất,
trong ṿng 2 ngày, Tiểu đoàn 713 đă băng qua những cánh đồng của 7 con kinh xáng,
tràn ngập lên các thôn làng chạy dài theo những con kinh này và đă mở những trận
đánh xáp lá cà với đối phương. Lực lượng của ông Ba Cụt hoảng sợ phải bỏ chạy
hết.
Riêng trong trận này, Tiểu đoàn 713 tiêu diệt trên 100 quân địch, và về phần
ḿnh, cả tử trận lẫn bị thương đến 70 người.
Trước áp lực của địch đè nặng xuống nhiều khu vực của miền Tây, Chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 2 được khai diễn dưới quyền chỉ huy của Đại tá Dương Văn Đức.
*Cuộc hành quân Rạch Giá-Hà Tiên: 29-5-1955 đến
17-10-1955
Đây là cuộc hành quân đầu tiên trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2. Cuộc hành
quân này có mục đích tiêu diệt lực lượng Ḥa Hảo chống chính phủ, đồng thời
chiếm đóng trụ đường Rạch Giá-Hà Tiên để phá huỷ các cơ sở của đối phương.
Tin tức t́nh báo cho biết Trung đoàn Bắc Tiến của Ḥa Hảo hoạt động trong khu
vực này. V́ vào thời gian diễn ra cuộc hành quân, toàn thể những cánh đồng tại
đây đều ngập nước, đầy rẫy những rạch nước khó băng qua, nên các trục tiến quân
đều phải theo sát các con kinh xuyên qua các rừng tràm chen lẫn lau sậy. Một yếu
tố thuận lợi cho lực lượng hành quân là sau trận chiến quyết liệt ở khu định cư
Bắc Việt, đối phương đă rời bỏ khu này nên không một trận đụng độ nào xảy ra.
Ông Ba Cụt khi được tin Quân đội Quốc gia VN lại tiếp tục mở cuộc hành quân tại
miền Tây, ông quyết tử chiến và đă thảo một bản quân lệnh gửi cho các cơ quan,
đơn vị quân sự trực thuộc ở trong các vùng ảnh hưởng của ông, để theo đó mà thi
hành. Lực lượng Quân đội Quốc gia ít lâu sau bắt được bản quân lệnh này được phổ
biến ngày 6-11-1955.
*Hành quân Vĩnh Phú 17-11-1955 đến 25-11-1955
Trong cuộc hành quân nà, lực lượng Quân đội Quốc gia VN chiếm đóng thường trực
trên trục Rạch Giá-Hà Tiên và trong khu Nam Thái Sơn, buộc đối phương phải ra
khỏi khu an toàn để di chuyển về Long Xuyên.
Từ trung tuần tháng 11-1955, chủ lực quân của ông Ba Cụt lần lượt tập trung về
núi Ba Thê, Vĩnh Chánh và Vĩnh Phú khiến dân chúng trong vùng đă lục tục tản cư
ra tỉnh lỵ.
Cuộc hành quân Vĩnh Phú của Quân đội Quốc gia được tiến hành với mục đích tiêu
diệt đối phương, xây dựng các cơ sở hành chính và đóng đồn trong vùng này.
Khi cuộc hành quân Vĩnh Phú diễn ra, các đơn vị của ông Ba Cụt đă tránh chạm
súng với Quân đội Quốc gia VN. Các toán quân của đối phương đă phân tán lẩn lút
trong những vùng lau sậy, hoặc giả dạng thường dân sau khi đă chôn dấu vũ khí.
*Hành quân Cái Dầu: 26-11-1955 đến 8-12-1955
Trong cuộc hành quân này, một phần lớn lực lượng của ông Ba Cụt lại tập trung về
vùng Cái Dầu, đóng quân rải rác từ ấp Thanh Lợi đến xóm Láng. Bộ chỉ huy Khu
chiến miền Tây đồng thời là Bộ chỉ huy chiến dịch Đinh Tiên Hoàng giao cho Sư
đoàn 11 Khinh chiến tổ chức một cuộc hành quân tiêu diệt đối phương trong vùng
này.
Khác với những cuộc hành quân trước, trong cuộc hành quân Cái Dầu, các đơn vị
Quân đội Quốc gia VN đột nhập bằng xuồng và di chuyển ban đêm đă gây cho đối
phương một số thiệt hại v́ bị tấn công bất ngờ.
Đồng thời cũng vào thời gian này, Liên đoàn Nhảy Dù với các Tiểu đoàn 3 và 6, có
Pháo binh yểm trợ đă hành quân tấn công Trung đoàn Lê Quang và Trung đoàn Nguyễn
Huệ của ông Ba Cụt ở vùng Thốt Nốt.
Sau các cuộc hành quân này, các lực lượng của ông Ba Cụt rút chạy xuống Giồng
Riềng và đóng quân trong khu vực tam giác Giồng Riềng-Hoà Hưng-Thới Lai. (Kỳ sau:
Các cuộc hành quân kế tiếp của Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2).
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Quân Lệnh Của Ông Ba Cụt Gửi
Các Đơn Vị Dân Xă Đảng
Vương Hồng Anh
Kỳ 32:
*Lược trinh về chiến dịch Đinh Tiên
Hoàng giai đoạn 2
Như VB đă tŕnh bày trong phần trước, qua chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1, lực
lượng giáo phái Ḥa Hảo chống Chính phủ Quốc gia VN bị phân tán. Đầu tháng
9/1955, lực lượng Ḥa Hảo của ông Lê Quang Vinh (tức Ba Cụt), trung tướng lực
lượng giáo phái, dưới danh xưng là Quân đội Dân xă đảng Việt Nam đă tản mác khắp
nơi, nay đă về tập trung vùng Nam Thái Sơn và Ba Thê, uy hiếp trầm trọng an ninh
khu vực này.Trước áp lực của địch đè nặng xuống nhiều khu vực của miền Tây,
Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2 được khai diễn dưới quyền chỉ huy của Đại tá
Dương Văn Đức. Ngày 29-5-1955, Bộ chỉ huy chiến dịch này cho khai diễn cuộc hành
quân đầu tiên và kéo dài đến 17-10-1955. Cuộc hành quân này có mục đích tiêu
diệt lực lượng Ḥa Hảo của ông Ba Cụt đồng thời chiếm đóng trụ đường Rạch Giá-Hà
Tiên để phá huỷ các cơ sở của đối phương..
Ông Ba Cụt khi được tin Quân đội Quốc gia VN lại tiếp tục mở cuộc hành quân tại
miền Tây, ông quyết tử chiến và đă thảo một bản quân lệnh với danh xưng là Trung
tướng Tổng tư lệnh Quân đội Dân Xă Việt Nam gửi cho các cơ quan, đơn vị quân sự
trực thuộc ở trong các vùng ảnh hưởng của ông, để theo đó mà thi hành. Lực lượng
Quân đội Quốc gia ít lâu sau bắt được bản quân lệnh này được phổ biến ngày
6-11-1955. Sau đây là nguyên văn phần phân nhiệm trong quân lệnh của Trung tướng
Ḥa Hảo Lê Quang Vinh. (Trong quân lệnh này, ông Ba Cụt gọi các đơn vị Quân đội
Quốc gia là địch)
* Nguyên văn Quân lệnh của ông Lê Quang Vinh (Ba Cụt), Trung tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Dân Xă đảng VN, gửi cho các đơn vị trưởng của lực lượng Dân Xă Đảng thuộc giáo phái Ḥa Hảo.
"Mặt trận giải phóng Quốc gia
Quân lực Dân Xă Đảng
Tổng tư lệnh bộ
Gửi các cơ quan trực thuộc
Nhân danh Tổng tư lệnh Quân đội Dân xă Việt Nam, tôi quyết định chiến đấu với
địch để giữ danh dự cho đảng và quân đội bằng cách chiến đấu toàn diện.
Các đơn vị khi nhận lệnh này hăy chuẩn bị hẳn hoi khi nghe tiếng súng khu Long
Châu Hà vưà nổ hoặc thấy địch huy động binh đến th́ phải lập tức thi hành theo
lệnh phản công để hiệp lực với các đơn vị chiến đấu giữ ǵn khu, đúng theo sự
phân công dưới đây:
1, Trung đoàn Lê Quang chịu trách nhiệm mặt Xốp Văn hướng về mặt Sóc Xoài và
kinh Tân Hội để chiến đấu, chiến đấu cuối cùng, quyết chiến tại Ba Thê.
2, Tiểu đoàn 205 Lê Lợi chịu trách nhiệm chiến đấu tại cả ba kinh Ba Thê Mới,
quyết chiến tại mặt trận Núi Tróc, Núi Tượng.
3, Tiểu đoàn 210 chịu trách nhiệm chiến đấu kinh Mốp Văn tại cả ba hướng về cầu
số 5, quyết chiến tại cản Dưà và lần lần vô mặt trận tại miếu Thần Nông, cuối
cùng không chiến đấu được th́ qua tại Núi Tróc phụ lực với bộ Tham mưu.
4, Tiểu đoàn 206 Lê Lợi chịu trách nhiệm phá con đường từ cầu số 5 đến ngă ba lộ
cái Long Xuyên-Châu Đốc, phá cầu, đào đắp lộ và bắn mortier 60 m/m vào các ổ
trọng pháo của địch. Cách đóng binh"
-2 đại đội ở Vĩnh Hanh
-1 đại đội đóng ở ngọn Hang Tra
5, Trung úy Lạp có bổn phận điều động bộ phận bazooka, bắn tàu kinh Xáng Cây
Dương vô cầu số 5 Nam.
6. Đại đội Sáu Dương và Đại đội Maxim chịu trách nhiệm chiến đấu tại kinh Bốn
Tổng.
7, Đại đội 30 chịu trách nhiệm từ kinh Ông C̣ và Vĩnh Chánh đem súng cối bắn vô
ổ súng đồng của địch tại poste Cái Vồn.
8, Liên đội dân quân Núi Sập, Đại đội Tổng hành dinh Trung đoàn Lê Lợi có bổn
phận tổ chức 2 đại đội có súng cối bắn vào các bộ phận "ca nông" của địch tại
núi Sập và tại poste số 1, đầu kinh Ba Thê cũ, đến cho địch phải chịu bất lực
khi nă súng đồng vào Ba Thê
10, Chỉ huy khu vực Thốt Nốt hợp với ban t́nh báo Ba Keo cùng các đại đội Dân xă
đào đường phá cầu lộ, đột kích xe tàu, làm chứơng ngại con đường Rạch Giá-Long
Xuyên, lộ Cái Sắn, đường thủy cũng như đường bộ.
11, Ông Phó tư lệnh điều động Tiểu đoàn 7 và Đại đội dân xă Thôn Thới Long,
Thuận Hưng, Thới Thạnh, Thới Lai, phá lộ, phá cầu, đánh xe nhà binh, chặn xe nhà
binh, chặn xe đ̣ lộ Thốt Nốt xuống Ô Môn và bắn mortier vào châu thành Thốt Nốt.
12, Tiểu đoàn Năm Núi đào lộ đánh xe nhà binh, phá cầu làm chứơng ngại sự lưu
thông của địch trên con đường từ Ô Môn tới Cần Thơ.
13, Đại đội anh Tư Liên chặn xe đ̣, đánh xe nhà binh, phá cầu, phá lộ từ Tân Hợi
xáp về Rạch Giá.
14, Tiểu đoàn 20 đem binh đóng tại Ô Long Vĩ (Châu Đốc) chịu trách nhiệm đào lộ
bắn trọng pháo vào châu thành Châu Đốc và con lộ Vĩnh Tre lên Châu Đốc, từ Châu
Đốc vô Nhà Bàng, từ Nhà Bàng về Xà Tôn.
15, Tiểu đoàn Hồng Châu hợp với đại đội pḥng vệ quận Lai Vung, chịu trách nhiệm
phá cầu, đào lộ từ Sa Đéc đến Vàm Cống và nă trọng pháo vào châu thành Sa Đéc.
16, Trung úy Tre, giám đốc Công an xung phong chịu trách nhiệm nă 100 trái
mortier 60 vào châu thành Sa Đéc.
17, Trung đoàn trưởng Lê Lợi chịu trách nhiệm điều động trọng pháo 81 và canon
57 để bắn tàu binh đường Long Xuyên-Núi Sập và lưu động bắn các ổ trọng pháo
địch để làm canon bất lực sự yểm trợ khi tấn công ta.
18. Tiểu đoàn 19 của Hồng tổ chức đột nhập, đốt phá châu thành Châu Đốc với mọi
h́nh thức.
19, Đại đội 43 cùng chỉ huy khu vực châu Đốc hoạt động trên đường Tân Châu qua
Châu Đốc để làm gián đoạn con đường này.
20, Đại đội 2 pḥng vệ của Triêu chịu trách nhiệm huy động đào đất, đào lộ, phá
cầu, kích đánh xe nhà binh, chận xe đ̣ từ cầu Vĩnh Tre đến cầu chữ S gần tổng
hành dinh Lâm Thành Nguyên.
21, Đại đội Trinh sát của Thiếu tá Khương chịu trách nhiệm huy động dân rất khéo,
đào lộ, đắp mộ thật lớn, đánh xe nhà binh, chặn các xe đ̣ từ cầu Cây Dương đến
nhà ông Phó Quư.
22, Trung đoàn Nguyễn Huệ phải cấp tốc bố trí các đồng rừng Giồng Triêng G̣ Quéo.
23, Tiểu đoàn chủ lực Thất Sơn phân ra hai bộ phận:
a, bắn vào về Xà Tôn
b, cho nă trọng pháo và đột kích kinh Tri Tôn
24, Trung đoàn Bắc Tiến cho đột kích ngă ba kinh Tám Ngàn, liên tiếp nă trọng
pháo.
25, Hiến binh đội cho đột kích và bao vây các đồn địch ở núi Tượng.
26, Đại đội 31 cho đột kích và nă trọng pháo vô ngă ba Núi Trầu và châu thành Hà
Tiên.
27, Trung đội pḥng vệ Be đến bao vây các đồn địch ở Chợ Vàm, phá các cây cầu từ
Chợ Vàm đến Tân Châu.
28, Tiểu đoàn Đại uư Tính cho bao vây các đồn ở Hồng Ngự vô đột kích dữ dội liên
tiếp.
29, Đại đội cảnh sát tỉnh Châu Đốc đột kích chợ Tân Châu.
Các đơn vị trên đây có bổn phận triệt để thi hành và thi đua diệt địch.
Chiến khu Giải Phóng ngày 6-11-1955
Trung tướng Lê Quang Vinh
Tổng tư lệnh Quân đội Dân xă đảng."
Kỳ sau: cuộc hành quân của Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2 nhằm truy kích lực
lượng của Ba Cụt tại Cái Dầu.
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Cuộc Hành Quân Truy Kích
Trung Đoàn Của Tướng Ba Cụt
Vương Hồng Anh
Kỳ 34:
* Lược ghi về kế hoạch phối trí lực lượng Dân xă
đảng của ông Ba Cụt
Như đă tŕnh bày, Trung tướng Ḥa Hảo Lê Quang Vinh (Ba Cụt) khi được tin Quân
đội Quốc gia VN lại tiếp tục mở cuộc hành quân tại miền Tây, ông quyết tử chiến
và đă thảo một bản quân lệnh với danh xưng là Trung tướng Tổng tư lệnh Quân đội
Dân Xă Việt Nam gửi cho các cơ quan, đơn vị quân sự trực thuộc ở trong các vùng
ảnh hưởng của ông, để theo đó mà thi hành.
Theo sự phân nhiệm, Trung đoàn Lê Quang chịu trách nhiệm mặt Xốp Văn hướng về
mặt Sóc Xoài và kinh Tân Hội để chiến đấu, chiến đấu cuối cùng, quyết chiến tại
Ba Thê. Tiểu đoàn 205 Lê Lợi chịu trách nhiệm chiến đấu tại cả ba kinh Ba Thê
Mới, quyết chiến tại mặt trận Núi Tróc, Núi Tượng.Tiểu đoàn 210 chịu trách nhiệm
chiến đấu kinh Mốp Văn tại cả ba hướng về cầu số 5, quyết chiến tại cản Dưà và
lần lần vô mặt trận tại miếu Thần Nông. Tiểu đoàn 206 Lê Lợi chịu trách nhiệm
phá con đường từ cầu số 5 đến ngă ba lộ cái LoXuyên-Châu Đốc, phá cầu, đào đắp
lộ và bắn mortier 60 m/m vào các ổ trọng pháo của Quân đội Quốc gia VN. Tiểu
đoàn Năm Núi đào lộ đánh xe nhà binh, phá cầu làm chứơng ngại sự lưu thông trên
con đường từ Ô Môn tới Cần Thơ. Tiểu đoàn 20 đem binh đóng tại Ô Long Vĩ (Châu
Đốc) chịu trách nhiệm đào lộ bắn trọng pháo vào châu thành Châu Đốc và con lộ
Vĩnh Tre lên Châu Đốc, từ Châu Đốc vô Nhà Bàng, từ Nhà Bàng về Xà Tôn. Tiểu đoàn
Hồng Châu hợp với đại đội pḥng vệ quận Lai Vung, chịu trách nhiệm phá cầu, đào
lộ từ Sa Đéc đến Vàm Cống và nă trọng pháo vào châu thành Sa Đéc. Trung đoàn
trưởng Lê Lợi chịu trách nhiệm điều động trọng pháo 81 và canon 57 để bắn tàu
binh đường Long Xuyên-Núi Sập và lưu động bắn các ổ trọng pháo của Quân đội Quốc
gia để làm canon bất lực trong yểm trợ khi tấn công quân Ḥa Hảo .18. Tiểu đoàn
19 tổ chức đột nhập, đốt phá châu thành Châu Đốc với mọi h́nh thức. 22, Trung
đoàn Nguyễn Huệ phải cấp tốc bố trí các đồng rừng Giồng Triêng G̣ Quéo. Tiểu
đoàn chủ lực Thất Sơn phân ra hai bộ phận: đột kích ngă ba kinh Tám Ngàn, liên
tiếp nă trọng pháovào Xà Tôn.
*Các cuộc hành quân trong tháng 11 của Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2.
Cuộc hành quân Vĩnh Phú khai diễn ngày 17-11-1955 và kế thúc vào ngày
25-11-1955. Trong cuộc hành quân này, lực lượng Quân đội Quốc gia VN phối trí
đóng quân thường trực trên trục Rạch Giá-Hà Tiên và trong khu Nam Thái Sơn, buộc
đối phương phải rút quân khỏi khu an toàn để di chuyển về Long Xuyên.
Từ trung tuần tháng 11/1955, lực lượng chủ lực của giáo phái ly khai tập trung
về núi Ba Thê, Vĩnh Chánh, và Vĩnh Phú. Tiếp theo cuộc hành quân Vĩnh Phú, vào
ngày 26 tháng 11/1955, Bộ chỉ huy chiến dịch điều động Sư đoàn 11 khinh chiến tổ
chức cuộc hành quân tại khu vực Cái Dầu. Cuộc hành quân kết thúc vào ngày 8
tháng 12/1955.
* Hành quân Giồng Riêng truy kích Trung đoàn Lê
Quang của ông Ba Cụt
Tiếp theo hai cuộc hành quân Vĩnh Phú và Cái Dầu, ngày 6 tháng 12/1955, Bộ chỉ
huy chiến dịch Đinh Tiên Hoàng mở cuộc hành quân Giồng Riêng với lực lượng tham
chiến gồm 2 trung đoàn. Cuộc hành quân được tiến hành với mục đích tiêu diệt
Trung đoàn Lê Quang, binh đoàn thiện chiến của ông Ba Cụt. Trong khi khai triển
lượng, 1 tiểu đoàn Quân đội Quốc gia VN bị lọt vào 1 ổ phục kích của Trung đoàn
Lê Quang, khiến đơn vị này bị thiệt hại khá nặng.
Trận chiến diễn ra vào ngày 6 tháng 12/1955, một đại đội của Trung đoàn Lê Quang
ẩn núp trong 1 khu vườn cây mà xung quanh là ruộng đồng bỏ trống. Đối phương đă
đào công sự chiến đấu theo h́nh tam giác để dễ dàng pḥng thủ và yểm trợ lẫn
nhau. Khi 1 cánh quân của Tiểu đoàn Quân đội Quốc gia VN tới sát, đơn vị đối
phương mới nổ súng vào những đơn vị tiền phong. Lực lượng Quân đội Quốc gia VN
cố gắng mở những đợt tấn công khác vào các phía sườn của đối phương. Lực lượng
của Trung đoàn Lê Quang chiến đấu dựa theo 1 thế trận h́nh tanm giác có thể bao
quát được 4 phía, nên đă chống trả đến chiều, rồi nhân đêm tối mới rút đi.
Sau trận giao tranh này, Trung đoàn Lê Quang của ông Ba Cụt rút theo kinh Xà No
về rừng U Minh Thượng. Trung đoàn Nguyễn Huệ của đối phương rút về đường đầm Cô
Túc, rồi phân thán lẫn theo thường dân.
Cũng trong tháng 12/1955, Bộ chỉ huy chiến dịch c̣n mở cuộc hành quân vào Cái
Cái để giải tỏa cho Tiểu đoàn 508 khinh quân bị lực lượng của Năm Lửa vế quay
rối. Cùng với cuộc hành quân này, một cuộc hành quân khác đă diễn ra tại Lấp Ṿ
cũng để giải tỏa áp lực đối phương và là cuộc hành quân chót của chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 2.
*Kết quả hành quân Đinh Tiên Hoàng đợt 2.
Phía lực lượng giáo phái ly khai:
-Chết: 300 người , trong đó có 4 sĩ quan.
-Tù binh: 202 người
-Qui thuận: 24 người
-vũ khí bị tịch thu: 382 trong đó có 14 vũ khí cộng đồng
Về lực lượng Quân đội Quốc gia VN:
-chết: 117 quân nhân trong đó có 6 sĩ quan
-bị thương: 225 quân nhân
-mất tích: 9 quân nhân
-vũ khí bị mất: 60 trong đó có 2 đại liên và 10 trung liên
-tàu bị bắn ch́m: 1 LCVP
* Phân tích về chiến dịch Đinh Tiên Hoàng
Trong tháng 12/2955, sau những cố gắng qua các cuộc hành quân liên tiếp của
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, lực lượng Quân đội Quốc gia VN vẫn không tiêu diệt
được chủ lực của đối phương, Các đơn vị giáo phái đă tránh giao tranh, tản mác
lẫn trốn khắp nơi trong các làng mạc xa xôi hẻo lánh để chỉnh đốn lại đơn vị.
Nh́n vào địa thế miền Hậu Giang, các nhà quân sự phân chia miền này làm hai vùng
bị ảnh hưởng một cách rơ rệt của giáo phái. Đó là miền Tây Nam và miền Đồng Tháp
.
Miền Tây Nam thuộc ảnh hưởng của ông Ba Cụt. mặc dù bị săn đuổi, nhưng các đơn
vị của ông Ba Cụt vẫn chưa bị tiêu diệt, vẫn c̣n khả năng quay rối các đồn bót
và các thôn xóm, nhất là tại vùng biên thùy Cam Bốt- Việt Nam, gây bất an trên
các trục lộ giao thông bằng lối đánh du kích.
Miền Đồng Tháp chịu ảnh hưởng của ông Trần Văn Soái (Năm Lửa). Từ sau khi bị tấn
công, lực lượng của ông Năm Lửa đă tập trung về nay để lập lại cơ sở mới, nhờ sự
giúp đỡ của Pháp nên đă chấn chỉnh lại hàng ngũ khá vững chắc. (Kỳ sau: Chiến
dịch Nguyễn Huệ).
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Tướng Dương Văn Minh Và
Chiến Dịch Nguyễn Huệ
Vương Hồng Anh tổng hợp
Kỳ 35:
* Những sự kiện trước khi chiến chiến dịch Nguyễn
Huệ khai diễn
Như VB đă tŕnh bày, sau chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1, lực lượng giáo phái
Ḥa Hảo chống Chính phủ Quốc gia VN bị phân tán. Đầu tháng 9/1955, lực lượng Ḥa
Hảo của ông Lê Quang Vinh (tức Ba Cụt), trung tướng lực lượng giáo phái, dưới
danh xưng là Quân đội Dân xă đảng Việt Nam đă tản mác khắp nơi, nay đă về tập
trung vùng Nam Thái Sơn và Ba Thê, uy hiếp trầm trọng an ninh khu vực này. Qua
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1, lực lượng giáo phái Ḥa Hảo chống Chính phủ
Quốc gia VN bị phân tán. Đầu tháng 9/1955, lực lượng Ḥa Hảo của ông Ba Cụt đă
tản mác khắp nơi, nay đă về tập trung vùng Nam Thái Sơn và Ba Thê, uy hiếp trầm
trọng an ninh khu vực này.Tại Nam Sơn, các Tiểu đoàn 54 và Tiểu đoàn 508 Quân
đội Quốc gia VN bị cô lập. Lực lượng đối phương đắp ụ phong tỏa và bắn vào những
binh sĩ ra khỏi đồn. Ban đêm, quân đối phương pháo kích.Theo tin tức t́nh báo,
Trung đoàn Lê Quang của ông Ba Cụt cùng các Tiểu đoàn Hồng Ngự và Tiểu đoàn 7 đă
tập trung tại vùng này để mở cuộc công hăm.
Trước áp lực của địch đè nặng xuống nhiều khu vực của miền Tây, Chiến dịch Đinh
Tiên Hoàng đợt 2 được khai diễn dưới quyền chỉ huy của Đại tá Dương Văn Đức.Ngày
29-9-1955, Bộ chỉ huy chiến dịch này cho khai diễn cuộc hành quân đầu tiên và
kéo dài đến 17-10-1955. Cuộc hành quân này có mục đích tiêu diệt lực lượng Ḥa
Hảo của ông Ba Cụt đồng thời chiếm đóng trụ đường Rạch Giá-Hà Tiên để phá huỷ
các cơ sở của đối phương. Tiếp theo là cuộc hành quân Vĩnh Phú khai diễn ngày
17-11-1955 và kế thúc vào ngày 25-11-1955. Trong cuộc hành quân này, lực lượng
Quân đội Quốc gia VN phối trí đóng quân thường trực trên trục Rạch Giá-Hà Tiên
và trong khu Nam Thái Sơn, buộc đối phương phải rút quân khỏi khu an toàn để di
chuyển về Long Xuyên. Nối tiếp cuộc hành quân Vĩnh Phú, vào ngày 26 tháng
11/1955, Bộ chỉ huy chiến dịch điều động Sư đoàn 11 khinh chiến tổ chức cuộc
hành quân tại khu vực Cái Dầu. Cuộc hành quân kết thúc vào ngày 8 tháng 12/1955.
Sau hai cuộc hành quân Vĩnh Phú và Cái Dầu, ngày 6 tháng 12/1955, Bộ chỉ huy
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng mở cuộc hành quân Giồng Riêng với lực lượng tham
chiến gồm 2 trung đoàn. Cuộc hành quân được tiến hành với mục đích tiêu diệt
Trung đoàn Lê Quang, binh đoàn thiện chiến của ông Ba Cụt.
*T́nh h́nh miền Hậu Giang cuối năm 1955
Trong tháng 12/2955, sau những cố gắng qua các cuộc hành quân liên tiếp của
chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, lực lượng Quân đội Quốc gia VN vẫn không tiêu diệt
được chủ lực của đối phương, Các đơn vị giáo phái đă tránh giao tranh, tản mác
lẫn trốn khắp nơi trong các làng mạc xa xôi hẻo lánh để chỉnh đốn lại đơn vị.
Nh́n vào địa thế miền Hậu Giang, các nhà quân sự phân chia miền này làm hai vùng
bị ảnh hưởng một cách rơ rệt của giáo phái. Đó là miền Tây Nam và miền Đồng Tháp
.
Miền Tây Nam thuộc ảnh hưởng của ông Ba Cụt. mặc dù bị săn đuổi, nhưng các đơn
vị của ông Ba Cụt vẫn chưa bị tiêu diệt, vẫn c̣n khả năng quay rối các đồn bót
và các thôn xóm, nhất là tại vùng biên thùy Cam Bốt- Việt Nam, gây bất an trên
các trục lộ giao thông bằng lối đánh du kích.
Miền Đồng Tháp chịu ảnh hưởng của ông Trần Văn Soái (Năm Lửa). Từ sau khi bị tấn
công, lực lượng của ông Năm Lửa đă tập trung về nay để lập lại cơ sở mới, nhờ sự
giúp đỡ của Pháp nên đă chấn chỉnh lại hàng ngũ khá vững chắc. Ngoài 2 lực lượng
nói trên, c̣n có 1 số quân Cao Đài ly khai khoảng 1 tiểu đoàn thuộc lực lượng
Liên minh hoạt động tại Vùng Giồng (Đồng Tháp Mười), và 1 đại đội hoạt động tại
Châu Đốc.
* Tướng Dương Văn Minh chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ
Trước những thực trạng về an ninh, để ổn định t́nh h́nh miền Tây, Tổng thống Ngô
Đ́nh Diệm (chính thức trở thành Tổng thống VNCH ngày 26-10-1955), đă chỉ định
Thiếu tướng Dương Văn Minh, nguyên tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, xuống miền Tây
để chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ. (Tư lệnh Dương Văn Minh được thăng cấp Thiếu
tướng vào ngày 6-11-1955, thăng Trung tướng vào ngày 8/12/1956).
Chiến dịch Nguyễn Huệ khởi diễn ngày 1-1-1956 với 3 nhiệm vụ chính:
-Giải quyết vấn đề lực lượng của ông Ba Cụt và ông Trần Văn Soái.
-Giữ vững biên giới VN-Cao Miên không cho loạn quân chạy từ Hà Tiên đến sông Vàm
Cỏ.
-Cắt đứt liên lạc loạn quân giữa hai khu chiến: Miền Tây và Đồng Tháp.
Ngoài những nhiệm vụ trên, chiến dịch Nguyễn Huệ c̣n có nhiệm vụ tiêu diệt những
cơ cấu nằm vùng của Việt Cộng trong vùng hành quân, tái lập hành chánh, khai
thác vùng Đồng Tháp Mười, mở mang đường sá, cầu cống và xây cất đồn bót.
Trước khi chiến dịch khai diễn, Bộ Tham mưu chiến dịch đă được thành lập từ ngày
29 tháng 12/1955 và đặt bản doanh tại Long Xuyên.Theo phân nhiệm, các lănh thổ
sau đây được đặt dưới quyền chỉ huy về quân sự và hành chính của Tư lệnh chiến
dịch Nguyễn Huệ là Thiếu tướng Dương Văn Minh.
-Phân khu Mỹ Tho (Bến Tre, G̣ Công, Tân An, Mỹ Tho)
-Phân khu Vĩnh Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc),
-Phân khu Cần Thơ (Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên)
-Phân khu Sóc Trăng (Sóc Trăng, Bạc Liêu và Rạch Giá).
V́ vùng hành quân quá rộng và mỗi nhóm quân địch đều có tích cánh khác nhau nên
chiến dịch Nguyễn Huệ phân chia ra nhiều vùng hành quân và nhiều giai đoạn. Vùng
hành quân được chia ra làm hai khu chiến và 1 trái độn:
-Khu chiến miền Tây
-Khu chiến Đồng Tháp Mười
-Khu trái độn thuộc phân khu Vĩnh Long
1,Khu chiến miền Tây dưới quyền chỉ huy của Đại tá Dương Văn Đức vẫn tiếp tục
b́nh định miền Tây sau chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 2. Khu chiến này được chia
thành 3 vùng hoạt động.
-Vùng Bắc: trục Long Xuyên-Rạch Giá-Châu Đốc
-Vùng Nam: trục Long Xuyên-Rạch Gía-Cần Thơ
-Vùng Cà Mau: chia làm 2 khu là Cà Mau Nam và Cà Mau Bắc do các lực lượng của
Thiếu tá Trần Thanh Bền và Thiếu tá Lâm Quang Pḥng đảm trách.
2,Khu chiến Đồng Tháp dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Là, được chia
làm 2 vùng hành quân của 2 giai đoạn: vùng tạm an và vùng bất an.
3, Khu chiến trái độn tức là phân khu Vĩnh Long, dưới quyền chỉ huy của Đại tá
Nguyễn Văn Quan, với phương tiện địa phương của phân khu, hoạt động ngăn ngừa
mọi đột nhập của đối phương để liên lạc với hai khu chiến nói trên.
Để tổng chỉ huy hoạt động hành quân và điều động lực lượng của hai khu chiến và
khu trái độn, bộ tham mưu chiến dịch có danh xưng là Bộ Tư lệnh liên khu chiến
miền Tây và Đồng Tháp.
Các giai đoạn của chiến dịch sẽ nhằm vào những mục tiêu theo thứ tự ưu tiên sau
đây:
-Mục tiêu thứ nhất: giải quyết vấn đề của lực lượng Trần Văn Soái
-Mục tiêu thứ hai: giải quyết vấn đề của lực lượng Ba Cụt sau khi giải quyết
xong vấn đề của lực lượng Trần Văn Soái.
-Mục tiêu thứ ba: Giải quyết vấn đề Việt Cộng nằm vùng để ngăn ngừa hậu quả sau
này.
(Kỳ sau: Các lực lượng tham dự chiến dịch Nguyễn Huệ).
Tài Liệu Chiến Sử Việt Nam, Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
4 Sư Đoàn Bộ Binh, 4 Hải
Đoàn B́nh Định Vùng Hậu Giang
Vương Hồng Anh tổng hợp
Kỳ 36:
* Lược tŕnh về giai đoạn 1 của chiến dịch Nguyễn
Huệ
Như đă tŕnh bày, để ổn định t́nh h́nh miền Tây, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm (chính
thức trở thành Tổng thống VNCH ngày 26-10-1955), đă chỉ định Thiếu tướng Dương
Văn Minh, nguyên tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, xuống miền Tây để chỉ huy chiến
dịch Nguyễn Huệ.Chiến dịch Nguyễn Huệ khởi diễn ngày 1-1-1956 với 3 nhiệm vụ
chính:Giải quyết vấn đề lực lượng của ông Ba Cụt và ông Trần Văn Soái.Giữ vững
biên giới VN-Cao Miên không cho loạn quân chạy từ Hà Tiên đến sông Vàm Cỏ.Cắt
đứt liên lạc loạn quân giữa hai khu chiến: Miền Tây và Đồng Tháp.
Ngoài những nhiệm vụ trên, chiến dịch Nguyễn Huệ c̣n có nhiệm vụ tiêu diệt những
cơ cấu nằm vùng của Việt Cộng trong vùng hành quân, tái lập hành chánh, khai
thác vùng Đồng Tháp Mười, mở mang đường sá, cầu cống và xây cất đồn bót.
Trước khi chiến dịch khai diễn, Bộ Tham mưu chiến dịch đă được thành lập từ ngày
29 tháng 12/1955 và đặt bản doanh tại Long Xuyên.Theo phân nhiệm, các lănh thổ
sau đây được đặt dưới quyền chỉ huy về quân sự và hành chính của Tư lệnh chiến
dịch Nguyễn Huệ là Thiếu tướng Dương Văn Minh:Phân khu Mỹ Tho (Bến Tre, G̣ Công,
Tân An, Mỹ Tho).Phân khu Vĩnh Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc).Phân khu Cần
Thơ (Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên). Phân khu Sóc Trăng (Sóc Trăng, Bạc
Liêu và Rạch Giá).
V́ vùng hành quân quá rộng và mỗi nhóm quân địch đều có tích cánh khác nhau nên
chiến dịch Nguyễn Huệ phân chia ra nhiều vùng hành quân và nhiều giai đoạn. Vùng
hành quân được chia ra làm hai khu chiến và 1 trái độn:Khu chiến miền Tây Khu
chiến Đồng Tháp Mười.Khu trái độn thuộc phân khu Vĩnh LongĐể tổng chỉ huy hoạt
động hành quân và điều động lực lượng của hai khu chiến và khu trái độn, bộ tham
mưu chiến dịch có danh xưng là Bộ Tư lệnh liên khu chiến miền Tây và Đồng Tháp.
*Lực lượng Lục quân, Hải quân, Không quân tham gia
chiến dịch
Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đă huy động vào chiến dịch 1 lực lượng hùng hậu
gồm cả hải lục, không quân như sau.
1, Bộ binh:
4 Sư đoàn dă chiến và khinh chiến được phối trí như sau.
-Sư đoàn 4 dă chiến+ Sư đoàn 11 khinh chiến cho Khu chiến Miền Tây
-Sư đoàn 14 kinh chiến+ Sư đoàn 15 khinh chiến (điều động từ miền Trung và phân
khu duyên hải) cho khu chiến Đồng Tháp.
-Các trung đoàn địa phương, các đơn vị cảnh sát lưu động trong các vùng hành
quân.
2, Hải quân:
-4 hải đoàn xung phong số 21, 22 , 23, 24 và 2 tàu LSIL, 1 LSSI, 3 LCU, riêng
Khu chiến Đồng Tháp được phân chia 3 hải đoàn, 1 LCU và 20 xuồng M 2
3, Không quân:
-1 phân đội của Phi đội 2 quan sát (Sóc Trăng+ Long Xuyên)
-3 phi cơ oanh tạc Marcel Dassault (Sóc Trăng).
4, Thiết giáp:
-6 chi đoàn thám thính xa
5, Pháo binh:
-Các Tiểu đoàn 21, 22, 24, 3 và 4 Pháo binh (Tiểu đoàn 3và 4 Pháo binh được phân
chia cho khu chiến Đồng Tháp.
6, Lực lượng trừ bị:
-1 Tiểu đoàn nhảy dù ứng chiến tại Sa Đéc
Ngoài những đơn vị tác chiến nói trên, một số đơn vị yểm trợ và chuyên môn được
đặt dưới quyền điều động của Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Huệ.
*T́nh h́nh dân chúng tại Hậu Giang trước khi chiến
dịch khai diễn.
Nhận định về t́nh h́nh dân chúng tại Hậu Giang, Pḥng 2 của Bộ Tư lệnh chiến
dịch Nguyễn Huệ đă phân tích như sau.
-Khối dân chúng thiên về chính phủ đều tập trung ở các thị trấn, các vùng phụ
cận, các thôn xă đă được chính quyền và Quân đội VNCH kiểm soát và bảo đảm an
ninh cho đời sống của dân chúng thoát khỏi những hăm dọa hay khủng bố trực tiếp
hay gián tiếp của các lực lượng giáo phái chống đối chính phủ, ngoài ra, c̣n có
khối người nạn nhân của các đơn vị giáo phái ly khai, hay Việt Cộng.
-Khối dân chúng thiên về đối phương phần đông là những tín đồ Phật giáo Ḥa Hảo,
những người thuộc các vùng xa xôi mà chính quyền cũng như Quân đội VNCH chưa
kiểm soát chặt chẽ, và những khối dân chúng losợ trước áp lực hăm dọa phá hoại
mùa màng của các lực lượng ly khai.
-Khối dân chúng thiên về Việt Cộng, phần đông là những người bị tiêm nhiễm ảnh
hưởng cộng sản từ lâu ở các vùng Cà Mau, U Minh cùng Đồng Tháp, và những người
có con em tập kết ra Bắc.
Những tín đồ Ḥa Hảo, vẫn tiếp tục giúp cho lực lượng ly khai về mọi mặt, nhất
là vấn đề lương thực, thuốc men. Khối dân chúng này chiếm gầ nửa nhân số dân
chúng miền Tây, phần đông thuộc các vùng Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc.
Đoàn thể vơ trang Nguyễn Trung Trực của Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ, tuy tách
khỏi ảnh hưởng tranh chấp với chính quyền, vẫn không dứt được t́nh đồng đạo. Bề
ngoài vẫn tuyên bố oán ghét nhưng vẫn âm thầm giúp đỡ cho đối phương về thuốc
men và lương thực. Sự ủng hộ của đoàn thể này kéo dài sự chống trả của lực lượng
ly khai đối với chính quyền và làm hoang mang dân chúng. Lực lượng của Tướng Lâm
Thành Nguyên tuy đă quy thuận, nhưng vẫn giúp đỡ các đơn vị ly khai.
Cũng do vấn đề dân chúng, các quan sát viên ghi nhận rằng, với chiến thuật vũ
bảo của chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, tuy đem lại vài kết quả khả quan về quân sự
như: làm tan ră lực lượng của đối phương, phá huỷ các cơ sở. Nhưng cũng v́ chiến
thuật có tính cách cứng rắn này mà đă làm mất thiện cảm ít nhiều của dân chúng,
v́ dân cho rằng chính quyền đang ra tay tận diệt các lực lượng giáo phái.Nhận
thức và rút được những kinh nghiệm từ chiến dịch trước, Bộ Tư lệnh chiến dịch
Nguyễn Huệ sau này đă có những biện pháp nặng về tâm lư và chính trị nhiều hơn.
Kỳ sau: Cuộc hành quân tấn công lực lượng của ông Trần Văn Soái.
|
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại: Lực Lượng Trần Văn Soái
Tại Khu Chiến Đồng Tháp * Lược ghi về chiến dịch Nguyễn Huệ * Địa h́nh của khu chiến Đồng Tháp * Trung tướng Ḥa Hảo Trần Văn Soái
lập khu chiến Đồng Tháp |
Chiến Sử Việt Nam, Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại :
Cuộc Hành Quân Đồng Tháp Dẹp
Binh Đoàn ‘Năm Lửa’
Vương Hồng Anh
Kỳ 38:
*Lược ghi về chiến khu Đồng Tháp Mười của lực lượng
Trần Văn Soái (Năm Lửa)
Như đă tŕnh bày ở phần trước, sau khi triệt thoái khỏi ban doanh Cái Vồn, lực
lượng Ḥa Hảo của phái Trần Văn Soái (tức Năm Lửa, trung tướng Ḥa Hảo), nhờ
Pháp tiếp tế, đă rút về Đồng Tháp Mười, tổ chức vùng này căn cứ chính, và đă
chấn chỉnh lực lượng khá vững chắc. Khi đến khu chiến Đồng Tháp, lực lượng của
ông Trần Văn Soái c̣n khoảng 3,800 người, được phân chia, phối trí đóng quân tại
2 khu vực:Liên khu Tiền Giang: bao gồm Đồng Tháp Mười, lấy sông Tiền Giang làm
ranh giới.-Liên khu Hậu Giang từ sông Tiền Giang về hướng Tây.Tại mỗi liên khu,
ông Trần Văn Soái tổ chức một hệ thống tác chiến riêng biệt. Đối với liên khu
Tiền Giang được xem như là vùng trọng điểm, căn cứ địa, ông Trần Văn Soái bố trí
5 trung đoàn và 5 tiểu đoàn pḥng vệ, có quân số đông hơn Liên khu Hậu giang,
vào khoảng 3 ngàn người. Mỗi trung đoàn quân số chỉ vào khoảng trên 400 người.
Tại liên khu Hậu Giang , quân số chỉ vào khoảng 800 người. Ông Trần Văn Soái
muốn tổ chức lực lượng tại Hậu Giang thành các đơn vị hoạt động du kích chiến
trong địa bàn những vùng ảnh hưởng cũ do Quân đội Quốc gia vưà mới kiểm soát.
Cũng trên địa bàn liên khu Hậu Giang, tại chiến khu 1 trong vùng Cái Vồn, có sự
hoạt động của Trung đoàn Quốc Tuấn với quân số vỏn vẹn 65 người. Tại chiến khu 2
vùng Sa Đéc, có 1 trung đoàn đang được thành lập với quân số là 120 người. Tại
chiến khu 4 vùng Cần Thơ, một số người đă được đưa về để thành lập 1 trung đoàn
nhưng chưa h́nh thành.
* Bộ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ phối trí lực lượng
hành quân
Do địa thế vùng hành quân quá rộng và mỗi nhóm quân địch đều có tích cánh khác
nhau nên chiến dịch Nguyễn Huệ phân chia ra nhiều vùng hành quân và nhiều giai
đoạn. Vùng hành quân được chia ra làm hai khu chiến và 1 trái độn:Khu chiến miền
Tây Khu chiến Đồng Tháp Mười.Khu trái độn thuộc phân khu Vĩnh Long. Để tổng chỉ
huy hoạt động hành quân và điều động lực lượng của hai khu chiến và khu trái độn,
bộ tham mưu chiến dịch có danh xưng là Bộ Tư lệnh liên khu chiến miền Tây và
Đồng Tháp.
Khu chiến Đồng Tháp dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Là, được chia làm
2 vùng hành quân của 2 giai đoạn: vùng tạm an và vùng bất an.
1,Vùng tạm an: được giới hạn từ G̣ Bắc Chiêu (tỉnh lỵ Mộc Hóa) đến sông Vàm Cỏ
Đông, đây là vùng giáp ranh với tỉnh Tây Ninh, có các phần tử của lực lượng giáo
phái Cao Đài ly khai hoạt động ở vùng đất phụ cận G̣ Dầu Hạ. Lực lượng Cao Đài
này đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của một Đại tá Cao Đài tên là Đặng Thành
Sử tự Phụng và đơn vị ly khai này lại có danh xưng là Trung đoàn Trịnh Minh Thế.
2, Vùng bất an: được giới hạn từ G̣ Bắc Chiêu-Mỹ An qua tới Hồng Ngự, đây là
vùng đất thuộc phiá Tây tỉnh lỵ Mộc Hoá. Trong vùng này, lực lượng của ông Trần
Văn Soái đă chiếm đóng: Tuyên B́nh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thạnh, Cái Cái, vùng giồng
phiá Tây Mộc Hóa, và vùng Cao Lănh. Lực lượng Trần Văn Soái hoạt động với tính
cách du kích nên không có vị trí nhất định.
Với t́nh h́nh và địa thế hiểm trở của Đồng Tháp, Bộ Tư lệnh liên khu chiến đă
đưa ra kế hoạch hành quân như sau.
-Thời kỳ thứ 1: Bố trí tất cả nẻo xuất nhập Đồng Tháp Mười, nhất là vùng biên
giới Việt-Miên hầu cô lập hoàn toàn đối phương về mặt tiếp tế cũng như tiếp viện
từ bên ngoài, đồng thời cho hành quân tảo thanh chiếm vùng xung quanh G̣ Bắc
Chiên và vùng Cao Lănh.
-Thời kỳ thứ 2: Xoay mặt trận từ G̣ Bắc Chiên sang Hồng Ngự để đánh ép đối
phương dồn về trung tâm vùng bất an để dễ bề tiêu diệt hay bắt đối phương trong
t́nh trạng bế tắc mà phải đầu hàng.
-Thời kỳ thứ 3: Sau khi giải quyết xong vấn đề Trần Văn Soái, sẽ xoay sang vùng
Đông Bắc Đồng Tháp là vùng tạm an để tiêu diệt lực lượng Cao Đài ly khai.
Ngày 9-1-1956, Bộ chỉ huy Khu chiến Đồng Tháp và Bộ tham mưu Sư đoàn 15 khinh
chiến di chuyển đến G̣ Bắc Chiên.
Lực lượng Quân đội VNCH chia làm nhiều cánh:
-Cánh A: gồm Trung đoàn 43, Trung đoàn 44 và 1 pháo đội di chuyển lên G̣ Bắc
Chiên do các Hải đoàn xung phong 21 và 23 đảm nhận. Cánh quân này từ ngày
12-1-1956, bắt đầu tiến quân từ G̣ Bắc Chiên về phiá Tây Bắc,
-Cánh B: gồm có Trung đoàn 39 và Tiểu đoàn 581 tại Cao Lănh thành lập một hệ
thống án ngữ hoạt động tảo thanh quanh Chi khu Cao Lănh.
-Cánh C do lực lượng của Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ và Trung đoàn 42 từ Sa Đéc
di chuyển lên, án ngữ chặn đường rút lui của đối phương ở miền Tây.
-Trung đoàn 45, lực lượng trừ bị hoạt động xung quanh G̣ Bắc Chiên.
*Diễn tiến cuộc hành quân tiến vào Đồng Tháp
Cuộc hành quân tiến vào Đồng Tháp đă diễn ra tốt đẹp, trên đường tiến quân, chỉ
xảy ra vài cuộc giao tranh và phiá đối phương bị thiệt hại nặng.
Khởi đầu, các đơn vị của Trung đoàn 43 và 44 tiến quân lên B́nh Châu dọc theo
sông Vàm Cỏ Tây. Trung đoàn 39 án ngữ dọc theo kinh Đồng Tháp. Trung đoàn 44 từ
B́nh Châu tiến lên rạch Long Khốt. Khi toán tiền phong của Trung đoàn 44 chiếm
Long Khối, Trung đoàn 43 theo chân binh đoàn bạn lên chiếm xóm Keo Gia. Lực
lượng của ông Trần Văn Soái rút lui về Vĩnh Trị.
Tiếp đó, Trung đoàn 44 từ Long Khối tiến quân chiếm Hưng Điền. Trung đoàn 43 từ
xóm Keo Gia cũng tiến lên chiếm Ḷ Gạch.
Khi nhận được tin lực lượng Trần Văn Soái đặt bản doanh tại Vĩnh Thạnh, Sư đoàn
15 thay chiều trục nỗ lực tấn công về hướng Tây Nam. Cánh quân thứ nhất do Trung
đoàn 44 làm nỗ lực chính với sự yểm trợ của pháo binh, dàn quân tại B́nh Châu
tiến chiếm Vĩnh Trị và Vĩnh Thạnh. Cánh quân thứ 2 do Trung đoàn 43 khai triển,
có pháo binh yểm trợ, tiến quân chiếm Vĩnh Lợi.
Trên đường tiến quân, Trung đoàn 44 chạm súng kịch chiến với đối phương lần đầu
tiên sau 5 ngày hành quân.
Trung đoàn 39 tiếp tục tảo thanh tại khu Cao Lănh và đă chạm súng với đối phương
vài lần, thu đạt vài kết quả. Để phản ứng lại cuộc tiến quân của Trung đoàn 39,
lực lượng Trần Văn Soái đă pháo kích vào Cao Lănh.
Về cuộc tiến quân của Trung đoàn 43 và Trung đoàn 44, sau cuộc chiếm đóng Vĩnh
Trị, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, 2 trung đoàn này mở rộng hoạt động quanh các vị trí
vưà chiếm và thường có những cuộc chạm súng lẻ tẻ. Hai tiểu đoàn của Trung đoàn
45 đă được điều động tăng cường cho 2 trung đoàn 43 và 44 tại vùng trách nhiệm
của cuộc hành quân.
Kỳ sau: Giai đoạn 2 của cuộc hành quân tại Đồng Tháp.
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
2 Sư Đoàn Tấn Công Mật Khu
Vương Hồng Anh
Kỳ 39:
*Lược ghi cuộc hành quân giai đoạn 1
của chiến dịch Nguyễn Huệ
Như đă tŕnh bày, vào ngày 9-1-1956, theo kế hoạch, Bộ chỉ huy Khu chiến Đồng
Tháp và Bộ tham mưu Sư đoàn 15 khinh chiến di chuyển đến G̣ Bắc Chiên.Lực lượng
Quân đội VNCH chia làm nhiều cánh: Cánh A: gồm Trung đoàn 43, Trung đoàn 44 và 1
pháo đội di chuyển lên G̣ Bắc Chiên do các Hải đoàn xung phong 21 và 23 đảm nhận.
Cánh quân này từ ngày 12-1-1956, bắt đầu tiến quân từ G̣ Bắc Chiên về phiá Tây
Bắc.Cánh B: gồm có Trung đoàn 39 và Tiểu đoàn 581 tại Cao Lănh thành lập một hệ
thống án ngữ hoạt động tảo thanh quanh Chi khu Cao Lănh.Cánh C do lực lượng của
Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ và Trung đoàn 42 từ Sa Đéc di chuyển lên, án ngữ
chặn đường rút lui của đối phương ở miền Tây. -Trung đoàn 45, lực lượng trừ bị
hoạt động xung quanh G̣ Bắc Chiên. Cuộc hành quân tiến vào Đồng Tháp đă diễn ra
tốt đẹp, trên đường tiến quân, chỉ xảy ra vài cuộc giao tranh và phiá đối phương
bị thiệt hại nặng.Khởi đầu, các đơn vị của Trung đoàn 43 và 44 tiến quân lên
B́nh Châu dọc theo sông Vàm Cỏ Tây. Trung đoàn 39 án ngữ dọc theo kinh Đồng Tháp.
Trung đoàn 44 từ B́nh Châu tiến lên rạch Long Khốt. Khi toán tiền phong của
Trung đoàn 44 chiếm Long Khối, Trung đoàn 43 theo chân binh đoàn bạn lên chiếm
xóm Keo Gia. Lực lượng của ông Trần Văn Soái rút lui về Vĩnh Trị.Tiếp đó, Trung
đoàn 44 từ Long Khối tiến quân chiếm Hưng Điền. Trung đoàn 43 từ xóm Keo Gia
cũng tiến lên chiếm Ḷ Gạch.
Khi nhận được tin lực lượng Trần Văn Soái đặt bản doanh tại Vĩnh Thạnh, Sư đoàn
15 thay chiều trục nỗ lực tấn công về hướng Tây Nam. Cánh quân thứ nhất do Trung
đoàn 44 làm nỗ lực chính với sự yểm trợ của pháo binh, dàn quân tại B́nh Châu
tiến chiếm Vĩnh Trị và Vĩnh Thạnh. Cánh quân thứ 2 do Trung đoàn 43 khai triển,
có pháo binh yểm trợ, tiến quân chiếm Vĩnh Lợi.Trên đường tiến quân, Trung đoàn
44 chạm súng kịch chiến với đối phương lần đầu tiên sau 5 ngày hành quân.Trung
đoàn 39 tiếp tục tảo thanh tại khu Cao Lănh và đă chạm súng với đối phương vài
lần, thu đạt vài kết quả. Để phản ứng lại cuộc tiến quân của Trung đoàn 39, lực
lượng Trần Văn Soái đă pháo kích vào Cao Lănh.Về cuộc tiến quân của Trung đoàn
43 và Trung đoàn 44, sau cuộc chiếm đóng Vĩnh Trị, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Lợi, 2 trung
đoàn này mở rộng hoạt động quanh các vị trí vưà chiếm và thường có những cuộc
chạm súng lẻ tẻ. Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 45 đă được điều động tăng cường
cho 2 trung đoàn 43 và 44 tại vùng trách nhiệm của cuộc hành quân.
* Giai đoạn 2 của chiến dịch Nguyễn Huệ:
Sư đoàn 14 và 15 tấn công các khu chiến của đối phương
Ngày 23 tháng 1/1956, Trung đoàn 39 hoạt động quanh vùng Cao Lănh bắt sống được
trung đoàn trưởng Trung đoàn Lư Thường Kiệt tên là Phùng.
Ngày 24 tháng 1/1956, Sư đoàn 15 khinh chiến mở một cuộc tảo thanh ngược lại về
phía Tây Nam G̣ Bắc Chiêu để chiếm dinh điền Phước Xuyên. Trung đoàn 43 được
tăng cường di chuyển về G̣ Bắc Chiên chia quân làm 3 cánh: Cánh 1 tiến theo rạch
Bắc Chan tiến quân lên dinh điền Phước Xuyên. Cánh thứ hai có hải quân yểm trợ
tiến theo kinh Lagrange cũng tiến lên Phước Xuyên. Cánh thứ 3 bố trí tại kênh
Bắc Chan để sẵn sàng trợ lực. Cuộc hành quân này vô sự. Trung đoàn 43 tiếp tục
tảo thanh ấp Tháp Mười.
Từ ngày này về sau, không ngày nào là không có giao tranh xảy ra: ngày 25-1,
Tiểu đoàn 581 phục kích tại đụng độ tại Phong Mỹ, ngày 26/1, Trung đoàn 43 đụng
ở ấp Tháp Mười, ngày 28/1, tiểu đoàn 581 đi phục kích lại chạm súng, ngày 29-1,
Trung đoàn 44 đă chạm súng dữ dội với đối phương tại Vĩnh Thạnh khiến quân HH bị
tử thương 80 người tại trận địa.
Thời kỳ thứ nhất nhằm bố trí bao mặt Đông Bắc và Đông Nam khu bất an vưà hoàn
tất, quân VNCH chuyển sang thời kỳ thứ hai bằng cách điều động thêm Sư đoàn 14
khinh chiến vào tham chiến. Cánh quân này được gọi là cánh quân D.
Cuộc hành quân ở thời kỳ 2 khai diễn vào 6 giờ ngày 5/2/1956, Sư đoàn 14 từ khởi
điểm B́nh Thạnh ở phiá Bắc Hồng Ngự tiến quân theo trục nỗ lực rạch Sở Hạ-Cái
Cái án ngữ dọc theo biên giới Việt-Miên. Hải đoàn 21 tiến theo sông để giữ an
ninh sườn phiá Bắc. Lực lượng Sư đoàn 14 đă chạm trán mạnh mẽ với đối phương.
Trên đường tiến quân, đối phương gài rất nhiều ḿn và có 1 sân ḿn dài 1 km.
Binh sĩ Sư đoàn 14 chạm ḿn bị thương rất nhiều. Đối phương thiết lập một vị trí
pḥng thủ rất kiên cố tại ngă ba Sở Hạ-Cái Cái khiến các đơn vị VNCH không vượt
sông được và phải dùng pháo binh và trọng pháo hỏa tập dữ dội.
Ngày 7-2-1956, Bộ chỉ huy khu chiến Đồng Tháp đă phải điều động lực lượng trừ bị
là Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù trợ chiến. Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù dùng xuồng M 2 vượt sông
Cái Cái tấn công bất ngờ, đánh thủng vị trí đối phương khiến phải rút lui sâu
vào trung tâm Đồng Tháp.
Sư đoàn 14 lại tiếp tục tiến quân vượt theo. Tại rạch Cái Cái, đối phương làm
nhiều rào cản, quân đội VNCH phải cho phá để cho Hải đoàn 21 tiến vào yểm trợ.
Riêng trận giao tranh quyết liệt tại rạch Sở Hạ-Cái Cái, phiá Sư đoàn 14 bị
thương 56 chiến binh phần nhiều do ḿn, 13 người chết trong đó có 1 thiếu uư.
Đối phương bị chết khoảng 50 người. Đây là cuộc đụng độ lớn nhất đối với lực
lượng tàn quân của ông Năm Lửa và là một trận có hầu hết các đơn vị ṇng cốt của
họ tham dự.
Sau khi thua trận này, tinh thần binh sĩ của lực lượng TVS trở nên rời rạc, sa
sút. Quân đối phương bị bao vây trong vùng Đồng Tháp đă bị thất thế ở giưă 1
vùng śnh lầy và nước đọng. Tới ngày 17-2-1956, qua nhiều lần tiếp xúc với đại
diện chính quyền, ông Trần Văn Soái đă thỏa thuận mang toàn lực lượng c̣n lại ra
quy thuận. Các đoàn quân quy thuận lần lượt đưa về tập trung tại trại chiêu an
của chiến dịch Nguyễn Huệ đặt tại Cái Vồn.
* Kết quả hành quân giai đoạn 1 từ 9/1
đến 3-2/1956:
-Tổn thất đối phương:
142 chết trong đó có 4 sĩ quan.
Quy thuận: 15 người
Vũ khí bị tịch thu: 52 súng đủ loại, trong đó có 1 súng cối 81 ly và 3 súng cối
60 ly.
-Tổn thất của lực lượng VNCH:
Tử trận: 8
Bị thương: 17
Mất tích: 7
Vũ khí mất: 17 súng cá nhân
* Kết quả hành quân giai đoạn 2: 4/2 đến 17/2 /56:
-Tổn thất của đối phương:
Chết: 126
Quy thuận: 3,735
Vũ khí bị tịch thu: 2071 súng trường, 34 các bin, 85 trung liên, 85 súng cối,
330 tiểu liên, 21 đại liên, 41 súng lục.
-Tổn thất của lực lượng VNCH:
Tử trận: 23
Bị thương: 98
Vũ khí bị mất: không có.
Kỳ sau: Chi tiết về việc quy thuận của ông Trần Văn Soái
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Lực Lượng Trần Văn Soái Quy
Thuận Chính Phủ VNCH
Vương Hồng Anh tổng hợp
Kỳ 40
*Tiến tŕnh các cuôäc thương thuyết vận động ông
TrầnVăn Soái ra quy thuận
Ngay khi cuộc hành quân vào Đồng Tháp được khai triển với các cánh quân tham
chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ đă nghĩ đến kế hoạch dồn ép quân của lực
lượng Trần Văn Soái, để rồi lần lần thương thuyết vận động Trần Văn Soái ra quy
thuận.
Ngày 19 tháng 1/1956, 10 ngày sau khi có cuộc hành quân vào Đồng Tháp, một đại
diện của chính phủ VNCH đă bí mật liên lạc được với một đại diện của ông Soái.
Đó là ông Phan Hà, đại tá Đổng lư văn pḥng của ông Soái. Cuộc gặp gỡ đă diễn ra
tại đồn Cây Tre làng Tân Phú (Đồng Tháp). Đại diện chính quyền VNCH đă tŕnh bày
sự khoan hồng của chính phủ và cho biết sẵn sàng tiếp nhận ông Trần Văn Soái trở
về với đại gia đ́nh quốc gia. Trong việc gặp gỡ đầu tiên này, đại diện của ông
Soái cũng hoan hỉ bày tỏ sự mong muốn trởvề của họ. Cả hai bên đều đi đến sự
đồng thuận là để một đại diện chính thức của chính phủ gặp ông Soái để trao đổi
ư kiến và quyết định những điều kiện thỏa thuận.
Ngày 24/1/1956, phái đoàn chính phủ không gặp ông Soái nhưng đă gặp bà Lê Thị
Gấm, vợ của ông để bàn luận thêm. Bà Gấm tỏ vẻ sốt sắng nên phái đoàn có nhờ bà
thuyết phục để ông Soái sớm đưa lực lượng trở về quy thuận.
Ngày 11-2-1956, sau bao lần liên lạc và thảo luận, ông Soái đă chịu thảo luận
với Đại sứ lưu động của Tổng thống VNCH là ông Nguyễn Ngọc Thơ được cử xuống Hậu
Giang tiếp xúc với ông Soái. Ông Trần Văn Soái đưa ra một số đề nghị và những
điều kiện này đă được chính phủ chấp thuận.
Ngày 17-2-1956, ông Trần Văn Soái đă thỏa thuận mang toàn lực lượng c̣n lại ra
quy thuận. Các đoàn quân quy thuận lần lượt đưa về tập trung tại trại chiêu an
của chiến dịch Nguyễn Huệ đặt tại Cái Vồn.
*Tổng kết về cuộc hành quân Đồng Tháp của chiến dịch
Nguyễn Huệ
Như đă tŕnh bày, sau khi triệt thoái khỏi Cái Vồn, lực lượng của ông Trần Văn
Soái (tức Năm Lửa, trung tướng Ḥa Hảo), đă rút về Đồng Tháp Mười, tổ chức vùng
này căn cứ chính.Khi đến địa bàn mới, lực lượng của ông Trần Văn Soái c̣n khoảng
3,800 người, được phân chia, phối trí đóng quân tại 2 khu vực:Liên khu Tiền
Giang: bao gồm Đồng Tháp Mười, lấy sông Tiền Giang làm ranh giới.-Liên khu Hậu
Giang từ sông Tiền Giang về hướng Tây.Tại mỗi liên khu, ông Trần Văn Soái tổ
chức một hệ thống tác chiến riêng biệt.
Sau đây là phần tổng kết cuộc hành quân của lực lượng của Quân đội VN CH tham
gia chiến dịch Nguyễn Huệ. Phần này lược tŕnh diễn tiến các giai đoạn hành quân
đă được tŕnh bày chi tiết trong các kỳ trước.
Chiến dịch Nguyễn Huệ khởi diễn ngày 1-1-1956 với 3 nhiệm vụ chính:Giải quyết
vấn đề lực lượng của ông Ba Cụt và ông Trần Văn Soái.Giữ vững biên giới VN-Cao
Miên không cho loạn quân chạy từ Hà Tiên đến sông Vàm Cỏ.Cắt đứt liên lạc loạn
quân giữa hai khu chiến: Miền Tây và Đồng Tháp.Ngoài những nhiệm vụ trên, chiến
dịch Nguyễn Huệ c̣n có nhiệm vụ tiêu diệt những cơ cấu nằm vùng của Việt Cộng
trong vùng hành quân, tái lập hành chánh, khai thác vùng Đồng Tháp Mười, mở mang
đường sá, cầu cống và xây cất đồn bót.
Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đă huy động vào
chiến dịch 1 lực lượng hùng hậu gồm cả hải lục, không quân như sau: Sư đoàn 4 dă
chiến+ Sư đoàn 11 khinh chiến cho Khu chiến Miền Tây.Sư đoàn 14 kinh chiến+ Sư
đoàn 15 khinh chiến (điều động từ miền Trung và phân khu duyên hải) cho khu
chiến Đồng Tháp. Các trung đoàn địa phương, các đơn vị cảnh sát lưu động trong
các vùng hành quân,4 hải đoàn xung phong,1 phân đội của Phi đội 2 quan sát (Sóc
Trăng+ Long Xuyên).3 phi cơ oanh tạc Marcel Dassault (Sóc Trăng). Thiết giáp:6
chi đoàn thám thính xa. Pháo binh: Các Tiểu đoàn 21, 22, 24, 3 và 4 Pháo binh (Tiểu
đoàn 3và 4 Pháo binh được phân chia cho khu chiến Đồng Tháp.Lực lượng trừ bị:1
Tiểu đoàn nhảy dù ứng chiến tại Sa Đéc.
Do địa thế vùng hành quân quá rộng và mỗi nhóm quân địch đều có tích cánh khác
nhau nên chiến dịch Nguyễn Huệ phân chia ra nhiều vùng hành quân và nhiều giai
đoạn. Vùng hành quân được chia ra làm hai khu chiến và 1 trái độn:Khu chiến miền
Tây Khu chiến Đồng Tháp Mười.Khu trái độn thuộc phân khu Vĩnh Long. Để tổng chỉ
huy hoạt động hành quân và điều động lực lượng của hai khu chiến và khu trái độn,
bộ tham mưu chiến dịch có danh xưng là Bộ Tư lệnh liên khu chiến miền Tây và
Đồng Tháp.
Khu chiến Đồng Tháp dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Là, được chia làm
2 vùng hành quân của 2 giai đoạn: vùng tạm an và vùng bất an.Vùng tạm an: được
giới hạn từ G̣ Bắc Chiêu (tỉnh lỵ Mộc Hóa) đến sông Vàm Cỏ Đông, đây là vùng
giáp ranh với tỉnh Tây Ninh, có các phần tử của lực lượng giáo phái Cao Đài ly
khai hoạt động ở vùng đất phụ cận G̣ Dầu Hạ. Lực lượng Cao Đài này đặt dưới
quyền chỉ huy thống nhất của một Đại tá Cao Đài tên là Đặng Thành Sử tự Phụng và
đơn vị ly khai này lại có danh xưng là Trung đoàn Trịnh Minh Thế. Vùng bất an:
được giới hạn từ G̣ Bắc Chiêu-Mỹ An qua tới Hồng Ngự, đây là vùng đất thuộc phiá
Tây tỉnh lỵ Mộc Hoá. Trong vùng này, lực lượng của ông Trần Văn Soái đă chiếm
đóng: Tuyên B́nh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thạnh, Cái Cái, vùng giồng phiá Tây Mộc Hóa, và
vùng Cao Lănh. Lực lượng Trần Văn Soái hoạt động với tính cách du kích nên không
có vị trí nhất định.
Sau khi kết thúc giai đoạn 1 trong kế hoạch bố trí bao mặt Đông Bắc và Đông Nam
khu bất an vưà hoàn tất, quân VNCH chuyển sang thời kỳ thứ hai bằng cách điều
động thêm Sư đoàn 14 khinh chiến vào tham chiến. Cánh quân này được gọi là cánh
quân D.
Cuộc hành quân ở thời kỳ 2 khai diễn vào 6 giờ ngày 5/2/1956, Sư đoàn 14 từ khởi
điểm B́nh Thạnh ở phiá Bắc Hồng Ngự tiến quân theo trục nỗ lực rạch Sở Hạ-Cái
Cái án ngữ dọc theo biên giới Việt-Miên. Hải đoàn 21 tiến theo sông để giữ an
ninh sườn phiá Bắc. Lực lượng Sư đoàn 14 đă chạm trán mạnh mẽ với đối phương.
Trên đường tiến quân, đối phương gài rất nhiều ḿn và có 1 sân ḿn dài 1 km.
Binh sĩ Sư đoàn 14 chạm ḿn bị thương rất nhiều. Đối phương thiết lập một vị trí
pḥng thủ rất kiên cố tại ngă ba Sở Hạ-Cái Cái khiến các đơn vị VNCH không vượt
sông được và phải dùng pháo binh và trọng pháo hỏa tập dữ dội.Ngày 7-2-1956, Bộ
chỉ huy khu chiến Đồng Tháp đă phải điều động lực lượng trừ bị là Tiểu đoàn 5
Nhảy Dù trợ chiến. Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù dùng xuồng M 2 vượt sông Cái Cái tấn công
bất ngờ, đánh thủng vị trí đối phương khiến phải rút lui sâu vào trung tâm Đồng
Tháp. Sư đoàn 14 lại tiếp tục tiến quân vượt theo. Tại rạch Cái Cái, đối phương
làm nhiều rào cản, quân đội VNCH phải cho phá để cho Hải đoàn 21 tiến vào yểm
trợ.
Riêng trận giao tranh quyết liệt tại rạch Sở Hạ-Cái Cái, phiá Sư đoàn 14 bị
thương 56 chiến binh phần nhiều do ḿn, 13 người chết trong đó có 1 thiếu uư.
Đối phương bị chết khoảng 50 người. Đây là cuộc đụng độ lớn nhất đối với lực
lượng tàn quân của ông Năm Lửa và là một trận có hầu hết các đơn vị ṇng cốt của
họ tham dự.Sau khi thua trận này, tinh thần binh sĩ của lực lượng TVS trở nên
rời rạc, sa sút.
Sau 13 ngày khai triển lực lượng tham chiến, cuộc hành quân Đồng Tháp của lực
lượng VNCH trong giai đoạn 2 đă kết thúc vào ngày 17 tháng 2/1956. (Kỳ sau:
Những sự kiện liên quan đến việc quy thuận của ông Trần Văn Soái).
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại:
Tuyên Bố Của Tướng Năm Lửa
Về Việc Quy Thuận Chính Phủ
Vương Hồng Anh
Kỳ 41
*Lược ghi về diễn tiến việc quy thuận của ông Trần
Văn Soái và binh đội thuộc quyền.
Như đă tŕnh bày, ngày 19 tháng 1/1956, 10 ngày sau khi có cuộc hành quân của
lực lượng Quân đội VNCH vào Đồng Tháp, một đại diện của chính phủ VNCH đă bí mật
liên lạc được với một đại diện của ông Trần Văn Soái (tức Năm Lửa, trung tướng
lực lượng giáo phái). Đó là ông Phan Hà, đại tá Đổng lư văn pḥng của ông Soái.
Cuộc gặp gỡ đă diễn ra tại đồn Cây Tre làng Tân Phú (Đồng Tháp). Đại diện chính
quyền VNCH đă tŕnh bày sự khoan hồng của chính phủ và cho biết sẵn sàng tiếp
nhận ông Trần Văn Soái trở về với đại gia đ́nh quốc gia. Trong việc gặp gỡ đầu
tiên này, đại diện của ông Soái cũng hoan hỉ bày tỏ sự mong muốn trởvề của họ.
Cả hai bên đều đi đến sự đồng thuận là để một đại diện chính thức của chính phủ
gặp ông Soái để trao đổi ư kiến và quyết định những điều kiện thỏa thuận.Ngày
24/1/1956, phái đoàn chính phủ không gặp ông Soái nhưng đă gặp bà Lê Thị Gấm, vợ
của ông để bàn luận thêm. Bà Gấm tỏ vẻ sốt sắng nên phái đoàn có nhờ bà thuyết
phục để ông Soái sớm đưa lực lượng trở về quy thuận.
Ngày 11-2-1956, sau bao lần liên lạc và thảo luận, ông Soái đă chịu thảo luận
với Đại sứ lưu động của Tổng thống VNCH là ông Nguyễn Ngọc Thơ được cử xuống Hậu
Giang tiếp xúc với ông Soái. Ông Trần Văn Soái đưa ra một số đề nghị và những
điều kiện này đă được chính phủ chấp thuận. Ngày 17-2-1956, ông Trần Văn Soái đă
thỏa thuận mang toàn lực lượng c̣n lại ra quy thuận. Các đoàn quân quy thuận lần
lượt đưa về tập trung tại trại chiêu an của chiến dịch Nguyễn Huệ đặt tại Cái
Vồn
*Các điều kiện và đề nghị của ông Trần Văn Soái về
việc quy thuận.
Ngày 19 tháng 2-1956, những điều kiện của ông Trần Văn Soái được chính thức công
bố và được báo chí đăng tải. Những điều kiện này có những điểm chính sau đây:
-Ông Trần Văn Soái sẽ giao trọn lực lượng vơ trang của ông đặt dưới quyền sử
dụng của Chính phủ.
-Tài sản đă bị tịch thu th́ thuộc về Chính phủ, chưa bị tịch thu th́ ông Trần
Văn Soái được toàn quyền sử dụng.
-Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan thuộc lực lượng ông Trần Văn Soái được tự do lựa
chọn theo ư muốn của ḿnh, hoăc: trở về với gia đ́nh làm ăn, buôn bán, an ninh
tính mạng sẽ được bảo đảm, hoặc xin gia nhập Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, sẽ có
ban tuyển trạch lựa chọn và sẽ đưa đi huấn luyện tại Quán Tre.
* Tuyên bố của ông Trần Văn Soái về quyết định quy
thuận Chính phủ VNCH
Ngày 2 tháng 3/1956, lời tuyên bố của ông Trần Văn Soái được Chính phủ phổ biến
với đầy đủ nội dung như sau:
"Sau một thời gian ly khai đứng đối lập với Chính phủ là v́ trước đây bởi một
ngộ nhận xảy ra đáng tiếc, làm lũng đoạn khối đoàn kết dân tộc mà lỗi ấy là do
thực dân và Việt Cộng bày kế ly gián, gây thảm họa đau thương cho đồng bào, điều
mà Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa không bao giờ muốn.
Thời gian ly khai ấy, tôi đă nhận thấy sự dă tâm của bọn Việt Cộng lợi dụng đạo
giáo để mưu nổi loạn, cũng như thực dân đă gián tiếp phá hoại nền an ninh và
trật tự của xứ sở Việt Nam.
Đă quá rơ ràng bọn Thực-Cộng là những kẻ ngoan cố, khoác chiêu bài liên kết lợi
dụng danh nghiă đạo, phá hoại nền an ninh, chặn ngăn sức tiến triển của chính
thể Việt Nam Cộng Ḥa, thêm vào đó, cố t́nh gây hố chia rẽ giưă Chính phủ, nhân
dân và chúng tôi, để hầu có cơ hội thôn tính miền Nam."
Tôi đă vô t́nh hiểu lầm bọn trên, nên đă đi trái ngược với nguyện vọng của toàn
dân. Ngày nay, chính nghiă Cộng Ḥa trên mục tiêu Chống Thực Bài Cộng Tiêu Diệt
Bọn Phiến Loạn do vị lănh tụ cương quyết và sáng suốt Ngô Đ́nh Diệm dẫn dắt đă
đi đúng với nguyện vọng của toàn dân, và hợp với giáo lư chân truyền của Đức
Huỳnh Giáo Chủ, v́ thế tôi cùng toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ từ nay nhận
thấy lỗi lầm ấy, nên quyết định trở về phụng sự với Chính phủ.
Tôi cần phải có bổn phận xác nhận lập trường của tôi lẫn chung quân sĩ thuộc hạ
đối với Chính phủ do Ngô Tổng thống lănh đạo và đồng thanh tuyên bố:
-Trên đường kiến quốc chung bằng ư thức phụng sự Dân tộc và Tổ quốc chúng tôi
nguyện hứa:
-Triệt để chống Cộng, bài Thực để đưa đồng bào đến chỗ an ninh, trật tự suốt
vùng Đồng Tháp Mười và trên toàn cơi Việt Nam.
-Triệt để ủng hộ Chính phủ do Ngô Tổng thống lănh đạo.
-Đập tan mưu mô hiệp thương tổng tuyển cử của bọn Việt Cộng độc tài khát máu.
-Đặt toàn bộ quân sĩ thuộc hạ của tôi dưới quyền sử dụng của Chính phủ.
-Thành khẩn phụng sự cho Chính phủ và nhất định thẳng tay trừng trị lẫn tiêu
diệt dư đảng phiến loạn c̣n trong nước và ngoài ranh giới, bè lũ tay sai cho bọn
thực dân và đế quốc đỏ.
-Tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh của chính phủ để tiêu diệt bọn người phá đạo,
phản Thầy, phản cách mạng và phản dân tộc.
-Triệt để tham gia cuộc tuyển cử Quốc hội ngày 4 tháng 3-1956.
-Quyết tâm tranh đấu đứng trên lập trường của Ngô Tổng thống đề xướng để xứng
đáng là một tín đồ trung thành của Đức Thầy.
Tôi tha thiết kêu gọi anh em Phật giáo Ḥa Hảo hăy đoàn kết lại noi theo lời
khuyên của Đức Thầy, đứng sau lưng của Ngô Tổng Thống để cương quyết thanh trừng
bọn phản đạo và tiêu diệt bọn Thực-Cộng để xây đắp nền tự do dân chủ và độc lập
phú cường của đất nước".
Ngày 7-3-1956, một buổi lễ tiếp nhận ông Trần Văn Soái và binh đội của ông đă
được tổ chức tại Cái Vồn để chấm dứt cuộc đời hoạt động quân sự và chính trị của
ông. Một thời gian sau, ông Soái và gia đ́nh trở về Sài G̣n sống b́nh thường như
những người dân b́nh thường khác. Cuộc quy thuận của ông Trần Văn Soái đă làm
cho t́nh h́nh miền Tây lắng dịu hẳn.
*Tổng lược về hoạt động của Lực lượng Trần Văn Soái
tại Đồng Tháp
Như đă tŕnh bày, sau khi triệt thoái khỏi Cái Vồn, lực lượng của ông Trần Văn
Soái (tức Năm Lửa, trung tướng Ḥa Hảo), đă rút về Đồng Tháp Mười, tổ chức vùng
này căn cứ chính.Khi đến địa bàn mới, lực lượng của ông Trần Văn Soái c̣n khoảng
3,800 người, được phân chia, phối trí đóng quân tại 2 khu vực:Liên khu Tiền
Giang: bao gồm Đồng Tháp Mười, lấy sông Tiền Giang làm ranh giới.-Liên khu Hậu
Giang từ sông Tiền Giang về hướng Tây.Tại mỗi liên khu, ông Trần Văn Soái tổ
chức một hệ thống tác chiến riêng biệt. Để ổn định t́nh h́nh miền Tây, Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm (chính thức trở thành Tổng thống VNCH ngày 26-10-1955), đă
chỉ định Thiếu tướng Dương Văn Minh, nguyên tư lệnh Chiến dịch Hoàng Diệu, xuống
miền Tây để chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ.Chiến dịch Nguyễn Huệ khởi diễn ngày
1-1-1956 với 3 nhiệm vụ chính:Giải quyết vấn đề lực lượng của ông Ba Cụt và ông
Trần Văn Soái.Giữ vững biên giới VN-Cao Miên không cho loạn quân chạy từ Hà Tiên
đến sông Vàm Cỏ.Cắt đứt liên lạc loạn quân giữa hai khu chiến: Miền Tây và Đồng
Tháp.Ngoài những nhiệm vụ trên, chiến dịch Nguyễn Huệ c̣n có nhiệm vụ tiêu diệt
những cơ cấu nằm vùng của Việt Cộng trong vùng hành quân, tái lập hành chánh,
khai thác vùng Đồng Tháp Mười, mở mang đường sá, cầu cống và xây cất đồn bót tại
vùng này. (Kỳ sau: Cuộc hành quân tảo thanh lực lượng ly khai tại phiá Đông Bắc
Đồng Tháp.)
|
Hiệp Định Genève, 50 Năm Nh́n Lại: Hành Quân Thăng Long Tảo
Thanh Lực Lượng Ly Khai *Hành quân Thăng Long tảo thanh lực lượng Cao
Đài ly khai Sau ngày 24/3/1956, chiến trường Đồng Tháp vẫn chưa yên hẳn và luôn sôi động với các hoạt động của Việt Cộng nằm vùng liên kết với các phần tử ly khai c̣n lại. Tại đây, các nhóm quân này đă sử dụng miền biên giới bao la và bỏ ngỏ làm nơi trú ẩn và hoạt động. Các đơn vị Quân đội VNCH đă liên tục mở các cuộc hành quân tảo thanh nhưng không sao tiễu trừ hết được. *Tổng lược về sự h́nh thành của các phụ lực quân
giáo phái Theo tài liệu quân sử, các binh đội giáo phái Cao Đài về hợp tác với lực lượng Liên Hiệp Pháp ngày 8-1-1947, binh đội giáo phái Ḥa Hảo của ông Trần Văn Soái về hợp tác ngày 15-3-1947, binh đội của ông Lê Quang Vinh về ngày 30-1-1948, và binh đội của ông Nguyễn Giác Ngộ về hợp tác vào đầu 1952. Tất cả các binh đội này giai đoạn đầu được xem như vệ binh , tới năm 1949, các đơn vị vệ binh được chính quy hóa, nhưng các binh đội giáo phái do các cấp lănh đạo giáo phái thành lập và Pháp tài trợ nên chỉ được hưởng theo quy chế phụ lực quân. Ngày 15-5-1952, trong một bản nghiên cứu đề cập tới các đơn vị phụ lục quân tại Nam Việt, Bộ Tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Pháp đă phân tích rằng phụ lực quân giáo phái là một tổ chức vô cùng phức tạp về nhiều mặt. Tại mỗi lực lượng giáo phái, tuy Pháp có một phái bộ cố vấn và liên lạc nhưng không thể nào kiểm soát được quân số thực sự. Vào năm 1954, kế hoạch sát nhập binh đội và quân nhân các lực lượng giáo phái tại miền Nam vào Quân Đội Quốc gia VN được đề cập từ trước Hiệp định Genève vài tháng, nghĩa là từ khi nội các của Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu thành h́nh. Theo quan điểm của Bộ Quốc pḥng Quốc gia VN, việc sát nhập này nhằm vào các lực lượng vơ trang giáo phái của Ḥa Hảo và Cao Đài, là hai lực lượng giáo phái chính yếu. Chính phủ Quốc gia muốn kết hợp tất cả mọi lực lượng vơ trang vào một mối, dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia VN. Việc sát nhập được ấn định bởi dụ số 24 QP ngày 10-4-1954, nhưng kế hoạch này chỉ được xúc tiến từ sau ngày đ́nh chiến. *Quân đội VNCH tái tổ chức các đơn vị giáo phái
quy thuận. 6 tháng sau, vào mùa Xuân 1955, thêm 1 binh đội 2,600 người thuộc lực lượng Cao Đài của Tướng Trịnh Minh Thế về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, một trung đoàn giáo phái được thành lập, đó là Trung đoàn 60 thành lập ngày 1-2-1955. Cuối tháng 3/1955, một binh đội khác gồm 5 ngàn người thuộc lực lượng củaTrung tướng Nguyễn Thành Phương về hợp tác, và Trung đoàn giáo phái thứ 5 được thành lập vào ngày 1-4-1955. Vào đầu tháng 8/1955, Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ hợp tác chặt chẻ với Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Một binh đội gồm 2 ngàn quân sĩ thuộc lực lượng của Tướng Nguyễn Giác Ngộ lại được chấp thuận gia nhập Quân đội Quốc gia Việt Nam thêm 1 Trung đoàn nữa, đó là Trung đoàn giáo phái thứ 6 được thành lập với danh hiệu Trung đoàn 63. Trong một văn thư phổ biến vào tháng 7/1955, Chính phủ Quốc gia Việt Nam kêu
gọi các lực lượng giáo phái phải sớm hoàn tất việc sát nhập trước ngày
1-10-1955. Sau thời hạn này, chỉ có Quân đội Quốc gia Việt Nam mới có quyền
mang binh phục, những người nào mang trái phép sẽ bị bắt và truy tố trước
pháp luật. Kỳ sau: Tổng lược về lực lượng quân sự của giáo phái Ḥa Hảo. |