Tại sao lại gọi là Phụ nữ Truyền thuyêt?
Theo đinh nghĩa: "Truyền thuyềt là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch sử, được thêm thắt hoặc được tiểu thuyết hóa, và được truyền tụng từ người này qua người khác, từ đời này qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch sử có thât." (Trần Gia Phụng).
Như vậy những vị nữ anh hùng nổi danh trong lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu, được dân chúng kính trọng và mến mộ đến độ coi Hai Bà Trưng, Bà Triệu như thần thánh, lập đền thờ và công nhận sự hy sinh của những vị nữ anh hùng này trong t́nh huống rất thanh cao. Thí dụ việc hai Bà Trưng nhẩy xuống ḍng Hát Giang tự tận là h́nh ảnh đẹp hào hùng, bất khuất. Những cố gắng chứng minh sự việc khác với quan niệm này, đều tỏ ra vô ích, không để lọt vào tai người nghe, chưa kể đôi khi làm cho người nghe khó chịu.
Bên cạnh những vị phụ nữ nổi tiếng, đă trở thành những vị phụ nữ truyền thuyết, c̣n những vị phụ nữ b́nh thường khác như bà mẹ quê, bà mẹ Sài G̣n, người con gái Việt Nam sau biến cố 75, người phụ nữ VN tị nạn khắp năm châu...Những vị phụ nữ sau này tuy chưa đủ nổi tiếng, hoặc chưa đủ thời gian trong lịch sử để trở thành những Phụ nữ Truyền thuyết VN, nhưng cũng đă đóng góp xương máu, mồ hôi trong cuộc vượt biển, vượt rừng, trong cuộc gầy dựng đàn con nơi đất lạ quê người, giữ vững niềm tin và đạo hạnh, để nuôi dưỡng bầy con vẫn là người Việt Nam cho tới ngày hôm nay. Chúng ta đă vinh danh những vị Phụ nữ Truyền thuyết Việt Nam qua Đại Nhạc hội hùng sử việt kỳ 3, chúng ta tiếp tục tri ân những vị Phụ nữ Truyền thuyết VN, nhưng chúng ta không quên những bà mẹ quê, những bà mẹ Sài g̣n, những người con gai Việt Nam đang và sẽ là những bà mẹ Việt Nam khắp năm châu...
Chủ đề Đại Nhạc Hội Hùng Sử Việt kỳ 5: "Người Phụ Nữ Việt Nam trên ḍng lịch sử", ngoài vở kịch thơ bi hùng " Ngọn lửa Liên Lâu" nói lên chiến công oanh liệt của Hai Bà Trưng đánh đuổi thái thú Tô Định, lấy lại một phần đất đai của Tổ Tiên đă mất vế tay nhà Tây Hán gồm quận Hợp Phố ở Quảng Đông, và các Quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt sẽ tŕnh diễn những bài thơ, bài nhạc ca tụng những phụ nữ Việt Nam b́nh thường ít nổi danh, nhưng trong đời sống cũng đă hy sinh không kém.
Một người Phụ nữ Việt Nam ít được chúng ta biết đến,"theo sách ngoại sử" đó là "Mẹ Trọng Thủy (tên)là Trịnh thị, người làng Đường Xâm, quận Giao Chỉ, (nay là làng Đường Xâm, huyện Chân Định) nơi có miếu thờ Triệu Đà, Trịnh thị được ṭng tự ở miếu ấy." (Viêt Sử Tiêu Án - Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ - trang 24).

Tài liệu về người phụ nữ Việt Nam tên là Tŕnh Thị, bà vợ Việt Nam của tướng Triệu Đà, tôi trích từ cuốn "Việt Sử Tiêu Án" của ông Ngô Thời Sỹ. Tương tự, bức thư của Triệu Đà gửi Hán Văn Đế vào khoảng năm 179 tr. T.L (trang 29, cũng vậy. VS sẽ đưa ra những điểm mâu thuẫn trong cách lư luận của quí vị chủ trương không công nhận triều Đại nhà Triệu và nước Nam Việt.
Lư do chính như VS đă nêu, Có sự lẫn lộn giữa "lịch sử truyền thuyết" và "lịch sử thành văn". Khi đă xử dụng những dữ kiện trong "truyền thuyết" để lư luận, th́ phải tôn trọng sự việc xẩy ra trong truyền thuyết. Đó là sự "nhất quán" trong lư luận. Không thể lựa chọn những dữ kiện "có lợi" trong truyền thuyết đem pha trộn với dữ kiện của lịch sử thành văn, để làm "hỏa mù" rồi lớn tiếng phê b́nh, chỉ trích "kẻ vắng mặt", như vậy là không công b́nh.
VS nghĩ, đối với lịch sử thành văn, nhà Tần là triều đại đầu tiên của nước Trung Hoa lập ra chính thể "Quân chủ tập quyền" mà ông Nguyễn Hiến Lê gọi là "Quân chủ đế quốc" (Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê). Tương tự, nhà Triệu là triều đại đầu tiên của nước Việt lập ra chính thể "Quân Chủ tập quyền". Trước Tần Thuỷ Hoàng, Trung Hoa đặt dưới chế đô phong kiến phân quyền, mỗi địa phương là một ông vua, một lănh thổ, một quân đội, một triều đ́nh riêng biệt. Nước Nam ta cũng thế. Vua Hùng làm chủ nước Văn Lang trong truyền thuyết hay vua Thuc làm chủ nước Âu Lạc trong truyền thuyết cũng chỉ làm vua ở một địa phương có giới hạn về lănh thổ nhất định. Chung quanh là những nước nhỏ hơn, yếu kém hơn vui ḷng thần phục "nước lớn" khi nước lớn này c̣n đủ mạnh. Nhưng một khi nước lớn này suy kém và bị một nước khác ở bên cạnh mạnh hơn xâm chiếm, các nước nhỏ vẫn thản nhiên như không và chờ xem nước mới này ra sao? có đủ mạnh để họ theo không?
VS sẽ bàn thêm về việc này.
VS

Vuong Sinh


Bà Tŕnh Thị là ai? ở đâu? đă ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng dất nước Nam Việt như thế nào? Dưới cái nh́n tổng diện, nước Nam Việt đại diện cho ai? người dân Nam Việt là ai? Những ông vua nước Nam Việt là ai? các quận Giao Chỉ, Cửu Chân được phát triển như thế nào dưới thời nhà Triệu?

Có thật nhiều câu hỏi mà chúng ta cần t́m hiểu, không chỉ đơn thuần công nhận hay không công nhận nhà Triệu là triều vua "chính thống" của nước ta.
Sở dĩ chúng ta cần t́m hiểu về người phụ nữ Việt Nam có tên là Tŕnh Thị trên ḍng lịch sử, cũng như t́m hiểu về nước Nam Việt, bởi v́ đó là thời kỳ "lịch sử truyền văn" đầu tiên, liên quan đến nước Việt ta, có thực một trăm phần trăm, được ghi chép lại bằng văn tự, không phải bằng truyền thuyết.

Giáo sư sử học Trần gia Phụng trong cuốn "Những câu chuyện Việt sử" (trang 12) đă viết: "Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng Tượng Quận th́ không c̣n là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rơ ràng".

Cũng theo giáo sư sử học Trần Gia Phụng, dẫn chứng sách "Đất nước Việt Nam qua các đời", nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng: "quốc hiệu Văn Lang chỉ là một tên theo truyền thuyết".
Như vậy, nước Âu Lạc cũng chỉ là "một tên trong truyền thuyết", v́ Thục Phán đánh chiếm lấy một nước (Văn Lang) trong truyền thuyết để lập ra một nước Âu Lạc trong truyền thuyết.

Học giả Ngô Thời Sỹ cũng đă khẳng định: "Xét nước Việt ta lập quốc, tuy ở sau đời vua Hy và Hiệt nước Tàu, mà văn tự chưa có, kư tái c̣n thiếu, về phần thế thứ niên kỷ, chính trị phong tục đáng nghi hay đáng tin đều không có ǵ đủ làm chứng cứ"

Tiếp tục theo dẫn chứng của giáo sư Trần Gia Phụng: "nhận xét về lịch sử Hùng Vương và Thục Vương tức là những nhân vật theo truyền thuyết đă làm chủ nước Văn Lang và Âu Lạc, trong dụ ngày 12 tháng 7 năm bính th́n (12-6-1850), vua Tự Đức (trị v́ 1847-1883) viết: " Việc Kinh Dương và Lạc Long mà Sử cũ đă chép, hoặc có hoặc không, dầu có nhưng không nên thảo luận đến là hơn cả..."

"Cũng như thế, học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) trong Vân đài loại ngữ đă nhận xét: "...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa ǵ truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên ghi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được..."

Qua những dẫn chứng nêu trên, chúng ta, những kẻ hậu bối khi t́m hiểu vế lịch sử ở thời đại "Triệu Đà và nước Nam Việt trước Tây Lịch" đều tỏ ra rất hoang mang, khó hiểu, đôi khi thấy có sự mâu thuẫn trong lư luận trước sau. Lư do, đă có sự lẫn lộn về "lịch sử thành văn" với "lịch sử truyền thuyết", hay nói theo giáo sư Trần Gia Phụng, đă có sự lẫn lộn giữa "chuyện lịch sử rơ ràng" và "chuyện lịch sử khó tin được".
Như vậy, chuyện Triệu Đà đánh Tượng Quận thuộc về "chuyện lịch sử rơ ràng", c̣n chuyện Triệu Đà đánh lấy nước Âu Lạc thuộc về "chuyện lịch sử truyền thuyết".

Cũng v́ thế, một người phụ nữ Việt Nam có tên là Tŕnh Thị đă kết duyên với ông tướng nhà Tần là Triệu Đà, từng là mẹ, là bà nội, cố tồ nội của những ông vua nhà Triệu, đă bị bỏ quên. Điều đáng buồn hơn nữa, những ông vua nhà Triệu như Triệu Văn Vương (137-125) là cháu nội của bà mẹ Lạc Việt Tŕnh Thị, là con trưởng của Trọng Thủy và Mỵ Châu mang 75% ḍng máu Việt Nam (Lạc Việt), hay Triệu Minh vương (125-113 tr. tây Lịch) mang trên 80% ḍng máu Lạc Việt, lai bị đánh đồng với những tên thái thú Tàu của thời gian Bắc thuộc (Hán thuôc...)!

Để phân biệt, chúng ta t́m hiểu thời đại "Triệu Đà và nước Nam Việt" dưới hai cách nh́n khác nhau: Cách nh́n bao quát trong cảnh giới lịch sử truyền thuyết, và cách nh́n bao quát trong cảnh giới lịch sử thành văn.

Dưới cách nh́n "lịch sử truyền thuyết", Triệu Đà đánh lấy nước Âu Lạc của vua Thục, cũng tương tự như Thục Phán đánh lấy nước Văn Lang của vua Hùng. Triệu Đà xuất quân từ quận Nam Hải (tức vùng đất thuộc tỉnh Quảng Đông) tương tự Thục Phán "xuất quân từ tỉnh Vân Nam tiến xuống lưu vực sông Nhị Hà thôn tính Tây Âu và Lạc Việt (nước Văn Lang) rồi lập ra nước Âu Lạc" (theo Phạm Văn Sơn). Cả Thục Phán lẫn Triệu Đà cùng xuất quân từ Quảng Đông, Quảng Tây, tức là vùng đất Nam Lĩnh, theo truyền thuyết là vùng đất Cổ Việt, nơi Kinh Dương Vương được truyền ngôi, dựng nước đầu tiên. Vùng đất Cổ Việt là nơi sinh tụ của những người Việt Nam đầu tiên, được coi là "cái nôi" Văn minh của miền Nam nước Tàu, bao gồm nhiều dân tộc Việt gọi là Bách Việt, trong đó người Lạc Việt là dân tộc hùng mạnh hơn cả.

Dưới cách nh́n " lịch sử thành văn", Triệu Đà ban đầu là tướng nhà Tần, trấn nhậm ở vùng đất Nam Hải. Sau Triệu Đà nổi dậy phản Tần, giết hết Trưởng Lại nhà Tần và đánh chiếm lấy đất đai của nhà Tần trong đó có Tượng Quận thuộc về miền Bắc Việt Nam ngày nay, để lập ra nước Nam việt. Dưới con mắt của Sử quan nhà Hán, không hề có nước Âu Lạc, mà chỉ có nước Nam Việt. Chúng ta sẽ t́m hiểu về vấn đề này cặn kẽ hơn vào những phần sau.

1- Bà Tŕnh Thị là ai?
Theo sách ngoại sử, Bà Tŕnh Thị, vợ Triệu Đà là người Lạc Việt quê ở huyện Chân Định (không phải Chân Định bên Trung Hoa). Theo Sổ Tay Địa Danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh, "huyện Chân Định về đời Lê thuộc phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nguyên là huyện Chân Lợi, đời Lê v́ kị húy vua Lê Thái Tổ nên đổi là Chân Định, lấy tên quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà có người vợ người Việt quê ở làng Đồng Xâm, huyện Chân Định. Đời Thành Thái v́ kị húy tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Trực Định và chuyển thuộc tỉnh Thái B́nh mới thành Lập (1894), từ năm 1945 là huyện Kiến Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Trương Quỳnh Như".
 
2- Bà Tŕnh Thị đă ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng đất nước Nam Việt như thế nào?Trước khi bàn đến ảnh hưởng của người phụ nữ Việt Nam Tŕnh Thị đối với một di dân ngoại quốc hội nhập vào xă hội nước nhà, chúng ta thử t́m hiểu qua về cuộc đời của Tướng Triệu Đà.
Triệu Vũ Vương tức Triệu Đà làm vua 70 năm, mất năm Giáp Th́n (137 trước Tây Lịch), thọ 121 tuổi (Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, trang 32), suy ra ngài sinh năm 258 trước Tây Lịch (tr.TL).

Triệu Đà đến nước Nam ta từ bao giờ? Căn cứ vào lời lẽ trong thư gửi Hán Văn Đế vào khoảng năm 179 tr. TL sau khi Lữ Hậu mất (180 tr. TL): "Lăo phu ở đất Việt đă bốn mươi chín năm nay, bây giờ đă có cháu rồi", suy ra ngài đến nước Nam ta vào khoảng năm 228 tr. TL, lúc đó 30 tuổi. Lư do Triệu Đà qua nước Nam để làm ǵ? và bằng cách nào? ban đầu đến ở đâu? chúng ta chưa rơ. Nhưng chắc chắn Triệu Đà không qua nước Nam với tư cách là một ông tướng nhà Tần, v́ khi Triệu Đà "di cư" qua nước Nam, nhà Tần chưa thành lập. Nhà Tần do Tần Thủy Hoàng làm vua (221-206 tr. TL) đem quân đánh Bách Việt (Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây) vào năm 214 tr. TL.(VNSL - Trần Trọng Kim trang 18), 14 năm sau khi Triệu Đà lập nghiệp tại nước ta(Khoảng thời gian 14 năm đủ cho 1 di dân lập gia đ́nh ṿi người bản xứ, hội nhập vào xă hội mới: học tiếng nói, thấm nhuần phong tục tập quán của xă hội mới Có thể, thời gian dài 14 năm này, Triệu Đà đă kết duyên với bà Tŕnh Thị, người Phụ Nử Việt thuộc tỉnh Thái B́nh là chốn địa linh nhân kiệt, đă sản sinh ra những danh nhân anh hùng như Nguyễn Quang Bích, Trương Đăng Quỹ, Trương Quỳnh Như. Người con trai trưởng là Trọng Thủy của bà mẹ Việt, đă được sinh ra trong khoảng thời gian này (Có thể, Triệu Đà di cư qua nước Nam khoảng năm 228 tr. TL, đến ở Tỉnh Thái B́nh, rồi 1 hoặc 2 năm sau tức năm 227 - 226 tr. TL mới quen biết và cưới Tŕnh Thị, và 1 hoặc 2 năm sau 225-224 tr. TL mới sanh ra Trọng Thủy. Như vậy, theo truyền thuyết khi Trọng Thủy cưới Mỵ Châu vào khoảng năm 206 tr. TL đă khoảng 18 tuổi, phù hợp với tuổi lập gia đ́nh của người con trai?).

Triệu Đà gia nhập quân đội nhà Tần sớm lắm cũng vào năm 214 tr. TL là năm quân nhà Tần xâm lăng Bách Việt. Tại sao Triệu Đà gia nhập vào quân đội nhà Tần? Có thể lúc đó nước Âu Lạc đă "thần phục" nhà Tần bằng đường lối ngoại giao, (nghĩa là vẫn giữ nguyên t́nh trạng tự trị trong nước), và bị nước Tần đổi tên thành Tượng Quận. Triệu Đà nhân lúc thiên hạ biến loạn đă đầu quân với tướng Nhâm Ngao, được tin dùng để mưu toan chiếm giữ vùng đất Tượng Quận để sát nhập với quận Nam Hải lập thành một nước lớn, đối đầu với nhà Hán sau này), v́ Triệu Đà đă sống ở Tượng Quận (Âu Lạc) lâu năm, thấm nhuần văn hóa Lạc Việt, quen thuộc thủy thổ địa phương và rành về đường đi nước bước tại vùng đất cực Nam đối với Bắc phương này.

Bà Tŕnh Thị quê làng Đường Sâm (sau này thuộc tỉnh Thái B́nh) đă ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của Triệu Đà, một người nước Triệu (?) (Đinh Xuân Vịnh - Sổ Tay Địa Danh Việt Nam, trang 113) di cư qua Tượng Quận vào khoảng năm 228 tr. T.L.

Cũng nên biết thêm, nước Tần là một trong “thất hùng” thời chiến quốc, gồm có: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở, và Tần. Nước Tần rộng lớn, lại có địa thế hiểm trở, nên hùng mạnh lên, thôn tính 6 nước trong thất hùng để trở thành một nước Tần thống nhất Trung nguyên, do Tần Thủy Hoàng lănh đạo, lên ngôi Hoàng Đế năm 221 tr. T.L.

Vào năm 228 tr. T.L nước Triệu bị diệt (Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, trang 112). Có lẽ đây là nguyên nhân Triệu Đà phải bỏ nước ra đi, mang tâm trạng của một kẻ vong quốc, nợ nưốc thù nhà, sang vùng đất mới ở vùng cực nam Trung quốc, nương náu tại huyện Chân Lợi và gặp người con gái Việt làng Đường Sâm tên là Tŕnh Thị. Điều này cũng giải thích tại sao Triệu Đà đă mạnh tay giết hết trưởng lại nhà Tần khi lập quốc.

Ảnh hưởng đầu tiên và sâu đậm nhất của bà Tŕnh Thị là biến đổi Triệu Đà từ một người gốc phương Bắc (ta gọi chung là người Tàu) thành một người Việt phương Nam: “Triệu Đà mặc dầu gốc miền Bắc, nhưng v́ xuống ở miền Nam lâu ngày đă bị đồng hóa bởi người Nam Việt, chấp nhận các phong tục tập quán của người Nam Việt đến độ quên hết quá khứ của ḿnh, đúng như Lê Thành Khôi đă nhận xét.” (Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, quyển 1, trang 70).

Thứ đến, Triệu Đà lên ngôi báu, quyền lực ngang ngửa với vua Hán bên Tàu, nhưng vẫn chiều chuộng người vợ Viêt, đối xử với họ hàng bên ngoại rất hậu: “ ...:(Triệu) Đà chỉ chia Âu Lạc ra thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Có lẽ quận Giao Chỉ gồm hết địa phận Bắc Việt và một phần đất phía Nam tỉnh Quảng Tây nữa. Ở mỗi quận, Đà đặt một quan Điển Sứ để coi việc chính trị, hành chính, một quanTả tướng (?) coi việc quân sự, c̣n các quí tộc bản sứ vẫn giữ được thái ấp và trị dân như cũ. Con cháu Thục Phán ở đất Tây Vu, trung tâm điểm Loa thành vẫn được xưng vương (Tây Vu vương) và được biệt đăi hơn cả (Phạm Văn Sơn - Việt Sử Toàn Thư – trang 86, 87).

Như vậy, đem so sánh với những cuộc thay đổi triều đại trong lịch sử Việt Nam, như nhà Trần diệt nhà Lư, Nhà Nguyễn (Gia Long) diệt nhà Tây Sơn hay chế độ Cộng Sản miền Bắc diệt chế độ Tự Do miền Nam gần đây, chính sách nhà Triệu đă tỏ ra nhân đạo hơn cả: Không trả thù, không truy bức, tận diệt, không tàn sát, không đối sử phân biệt, tù đầy đối với kẻ bại trận, thử hỏi ai hơn Triệu Vũ Vương? Không những thế, họ Triệu c̣n anh em, họ hàng ở Chân Định, và có những kẻ thuộc hạ là người đồng hương phương Bắc, nhưng Triệu Vũ Vương chỉ truyền ngôi cho con cháu mang ḍng máu Việt, dùng người Nam Việt sung vào các chức vụ quan trọng (Thừa tướng Lữ Gia và nhiều quan Đại thần đều là người Nam Việt). Tại sao vậy? Có phải đó là nhờ ảnh hưởng của bà Tŕnh Thị, một phụ nữ Việt đă khôn khéo biết bàn bạc với chồng, cộng với chính sách ngoại giao mềm dẻo và tài trị nước của Triệu Đà? Nên nhớ rằng, nước Nam Việt là một nước tân lập, bao gồm vùng đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây sau này) là nơi sinh sống của các dân tộc Việt như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt... (2) và vùng đất của người Âu Lạc (Bắc Việt sau này). Người dân Nam Việt là những người Việt trong nhiều ḍng tộc mà người Hán gọi là Bách Việt: “người Việt Nam bây giờ tức là người Lạc Việt thuở xưa sinh tụ ở miền Nam bộ Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây), sau này trôi dạt xuống lưu vực sông Nhị Hà” (Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, trang 31).

Theo tam đoạn luận, nước Nam Việt là nước của các dân tộc Việt. Người Lạc Việt thuộc về dân tộc Việt. Vậy nước Nam Việt là nước của người Lạc Việt