Vịnh Sử Thời Nguyễn &
Các Cuộc Nổi Dậy Chống Pháp
Bối Cảnh Lịch Sử
Nguyễn Phúc Ánh khởi binh từ năm 1778 chống nhau với nhà Tây Sơn trong 24 năm,
đến năm 1802, dứt được nhà Tây Sơn, thống nhất Nam Bắc, lên làm vua, tức vua Thế
Tổ lấy niên hiệu Gia Long, lập ra nhà Nguyền, truyền được 12 đời vua trong 143
năm (1802-1945). Tuy nhiên chỉ có bốn đời vua từ Gia Long đến hết đời vua Tự Đức
là c̣n giữ được nền tự trị trong khoảng 81 năm.
Thời kỳ độc lập:
1- Vua Thế Tổ - Gia Long (1802-1819)
2- Vua Thánh Tổ - Minh Mạng (1820-1840)
3- Vua Hiến Tổ - Thiệu Trị (1841-1847)
4- Vua Dực Tông - Tự Đức (1847-1883)
Thời kỳ Pháp thuộc:
5- Vua Hiệp Hoà (Phế Đế) – (6/1883-11/1883)
6- Kiến Phúc (12/1883-8/1884)
7- Hàm Nghi (8/1884-8/1885
8- Đồng Khánh (10/1885-12/1888)
9- Thành Thái (1/1889-7/1907)
10- Khải Định (1916-1925)
11- Bảo Đại (1926-1945)
Giao Thiệp Với Nước Ngoài Và Cấm Đạo
· Đời Vua Gia Long: -
Giao thiệp với nước Tàu: Cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng vua
nhà Thanh không chịu v́ xưa nước Nam Việt bao gồm cả Lưỡng Quảng, phải đổi thành
Việt Nam. Chiếu lệ 3 năm sang Tàu triều cống một lần.
-
- Giao thiệp với Chân Lạp (Campuchia) và Tiêm La (Thái Lan): Nước Nam thay Tiêm
La bảo hộ Chân Lạp. Cứ 3 năm Chân Lạp phải cống nước Nam một lần.
-
- Giao thiệp với nước Hồng Mao (Anh) và Pháp Lan Tây (Pháp): Nước Anh mấy lần
qua Việt Nam xin giao thương, nhưng vua Gia Long không cho. Đối với nước Pháp,
v́ trước kia có giúp nhà vua đánh Tây Sơn nên được biệt đăi hơn, có vài người
Pháp làm quan trong triều. Năm 1817 tàu buôn La Paix đem hàng tới bán và năm
1819 có tàu buôn Rose và Le Henri đến.
· Đời vua Minh Mệnh:
- Giao thiệp với Tiêm La: Không được tốt đẹp v́ Tiêm La mất quyền bảo hộ Chân
Lạp. Năm 1833, quân Tiêm lấy cớ Lê Văn Khôi cầu cứu, chia 5 đao quân sang đánh
Việt Nam, nhưng đều bị quân Việt đánh bại.
- Giao thiệp với Ai Lao: Nhiều Tù Trưởng ở Ai Lao xin đem đất lệ thuộc Việt Nam,
như Trấn Ninh, Tam Động, Lạc Phàn, Xa Hổ, Sầm Tộ, Mường Soạn, Tŕnh Cố, Sầm Nứa,
Mường Duy, Ngọc Ma, cam Cát, Cam Môn, Cam Linh ...(những đất này là Savannakhet).
Vua chia những nơi đó thành 3 phủ là Trấn Biên, Trấn Định và Trấn Man. Do đó,
thời Minh Mệnh bản đồ Việt Nam rộng lớn hơn cả.
- Giao thiệp với Chân Lạp: Nước Việt Nam vẫn bảo hộ Chân Lạp. Năm 1835, tướng
Trương Minh Giảng lập người con gái của Nặc Ông Chân lên làm vua, đặt tên Việt
là Ngọc Vân công chúa, và đổi nước Chân Lạp thành Trấn Tây Thành, chia ra 32 phủ
và 2 huyện để cai trị. Sau v́ quan Việt Nam hay nhũng nhiễu, Nặc Ông Đôn nổi dậy
nhờ Tiêm la giúp đờ lấy lại nước.
- Giao thiệp với các nước ngoại dương: Gặp khó khăn v́ việc cấm đạo mỗi ngày một
gắt. Năm 1822 tàu Pháp tên Cléopâtre và tàu Anh vào Đà Nẵng không được nhà vua
tiếp. Năm 1826 nước Pháp lại sai cháu ông Chaigneau sang làm Lănh sự, cũng không
được tiếp.
- Cấm Đạo: Năm 1825 vua Minh Mệnh ra dụ cấm Đạo. Từ 1834-1838 có nhiều giáo sĩ
và con chiên bị giết.
· Đời vua Thiệu Trị:
- Đối với Chân Lạp: Truyền tướng Trương Minh Giảng bỏ Chân Lạp rút quân về.
- Đối với Tiêm La: Sau khi quân Nam rút khỏi Chân Lạp, quân Tiêm La rất tàn bạo,
nên người Chân Lạp lại sang cầu cứu Việt Nam. Vua sai Vơ Văn Giải và Nguyễn Tri
Phương sang Chân Lạp, đánh quân Tiêm La. Tướng Tiêm La xin ḥa. Ta lập Nặc Ông
Đôn làm vua nên từ đó phía nam được tạm yên.
- Giao thiệp với nước Pháp: Việc cấm đạo đă nguôi bớt, các giáo sĩ bị giam ở Huế
được thả hết và một giáo sĩ bị kết án tử h́nh cũng được tha. Năm 1847 nước Pháp
sai một Đại Tá và một Trung Tá đem 2 chiến hạm vào Đà Nẵng. Mọi việc đang thương
nghị, tàu Pháp thấy quân ta pḥng ngự trên bờ và có nhiều thuyền ra đóng gần tàu
Pháp, nên nổ súng bắn đắm 2 thuyền của ta rồi bỏ đi. vua Thiệu Trị rất tức giận,
nên lại ra dụ cấm đạo gắt gao hơn.
· Đời vua Tự Đức:
- Vua không nghe những lời tâu của kẻ thức thời, cải cách đất nước, trong khi
đ́nh thần u mê, chỉ biết có nước Tàu, ngoài ra chẳng hiểu biết ǵ vế thế giới
bên ngoài đang phát triển.
- Năm 1848: Dụ cấm đạo nghiêm khắc, người ngoại quốc giảng đạo bị tội chết. Đến
1851, lại có du cấm đạo nghiệt hơn, có mấy giáo sĩ ngoại quốc bị giết.
- Tháng 8 năm bính thin (1856), chiến thuyền Pháp “Catinat” vào cửa Đà Nẵng bắn
phá, rồi bỏ đi.
- Tháng 7 năm mậu ngọ (1858), 14 chiến thuyền liên quân Pháp Y Pha Nho vơi 3000
quân đánh Đà Nẵng, hạ thành An Hải và Tôn Hải. Ông Nguyễn Tri Phương được lệnh
lập đồn chống giữ.
- Tháng giêng kỷ mùi (1859) Pháp đánh lấy cửa Cần Giờ. Tướng Nam là Vũ Duy Ninh
tử tiết. Quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng để tăng cường cho cuộc chíến giữa Anh Pháp
và Trung
Hoa. Nguyễn Tri Phương được lệnh vào giữ miền Nam, đắp thành Kỳ Ḥa để chống giữ.
- Tháng giêng tân dậu (1861), quân Pháp trở lại Gia Định sau khi Anh Pháp kư hoà
ước chấm dứt chiến tranh với Tàu, đem 3500 quân và 70 tàu chiến tiến đánh đồn Kỳ
Ḥa. Sau hai ngày kịch chiến, quân Pháp chết 300 người, ta cũng thiệt hại nặng,
phải bỏ thành. Nguyễn Tri Phương bị thương. Chiếm xong đồn Kỳ Ḥa, quân Pháp
đánh chiếm thành Mỹ Tho. Đến tháng 11, quân Pháp đánh lấy Biên Ḥa và Bà Rịa.
Tới tháng ba năm nhâm tuất (1862) Pháp chiếm Vĩnh Long.
- Ngày 9 tháng 5 nhâm tuất (1862) ta kư Hoà Ước Nhâm Tuất, phải nhường dứt cho
Pháp 3 tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường. Ông Phan Thanh Giản được lệnh dẫn
phái đoàn Việt Nam sang Pháp điều đ́nh xin chuộc lại 3 tỉnh Miền Đông đă mất,
nhưng không kết quả, lạị trở về giữ thành Vĩnh Long.
- Tháng 6 năm đinh măo (1867), Pháp đem hơn 1000 quân đi đánh Vĩnh Long, An
Giang và Hà Tiên. Cụ Phan Thanh Giản biết thế quân ta quá yếu, bèn uống thuốc
độc tự tử, giao lại thành cho Pháp để quân dân ta đỡ bị tổn hại.
- Ngày 15 tháng 10 quí dậu (1873) quân Pháp do Đại Úy Francis Garnier chỉ huy
đánh lấy thành Hà Nội (lần 1), ông Nguyễn Tri Phương bị thương phải bắt xuống
tàu, không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết. Các tỉnh Ninh B́nh, Nam Định và
Hải Dương cũng bị mất dễ dàng sau đó.
- Quân Cờ Đen do Lưu Vĩnh Phúc thuộc lưc lượng của Thái B́nh Thiên Quốc bên Tàu,
chạy qua Việt Nam làm loạn một thời gian rồi xin đầu hàng. Vua ta phong chức đề
đốc để cùng chống giữ quân Pháp. Lưu vĩnh Phúc đem quân về đánh Hà Nội, phục
kích tại Cầu Giấy giết chết Đại úy Francis Garnier.
- Ngày 27 tháng giêng năm giáp tuất (1874) Nguyễn Văn Tường và thiếu tướng Dupré
kư Ḥa Ước Giáp Tuất, có mấy điều quan trọng: Việt Nam không phải thần
phục nước nào (ám chỉ nước Tàu); nhường dứt cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ (Việt Nam mất
đất); tự do giảng đạo và theo đạo; mở cửa Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải
Pḥng) và sông Hồng Hà cho ngoại quốc vào buôn bàn; người Pháp hay ngoại quốc có
giấy thông hành của Pháp và phê nhận của Việt Nam được đi xem các nơi ở trong
nước; người Pháp và người ngoại quốc kiện tụng trên đất Việt Nam do lĩnh sự Pháp
phân xử (việt Nam mất chủ quyền).
- Trong thời gian kư Hoà Ước Giáp Tuất, Văn Thân nổi dậy ở Nghệ An, truyền hịch
“B́nh tây sát tả” gây ra cảnh nội chiến về tôn giáo (Lương và Giáo).
- 8 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm nhâm ngọ (1882) quân Pháp do đại tá Henri
Rivière chỉ huy đánh lấy thành Hà Nội (lần 2). Tổng Đốc Hoàng Diệu tử tiết.
- Vua Tự Đức cầu cứu Tàu, tổng đốc Lưỡng Quảng mật tâu với vua nhà Thanh đại ư
nói “thế lực nước Nam thật là suy hèn, không thể tự chủ được, vậy nên đem quân
mượn tiếng sang đánh giặc mà chiếm giữ các tỉnh ở Thượng du, đợi khi có biến th́
chiếm giữ các tỉnh phía bắc sông Hồng”
- Ngày 28 tháng 2 năm quí mùi (1883) Đại tá Henri Rivière đánh lấy Nam Định.
- Quân nam đổi thế hoà ra thế công. Ngày 13 tháng 4 đại tá Henri Rivière đem 500
quân ra đánh ở Cầu Giấy, bị quân Cờ Đen phục kích giết chết, đại úy Berthe de
Villers bị thương nặng.
- Ngày 18 tháng 7 năm quí mùi (1883) Pháp hạ thành Trấn Hải (Thuận An), nhiều
quan tướng nước Nam tử tiết. Triều đ́nh phải kư Ḥa Ước năm Quí Mùi (23 tháng
7 - 1883), chịu nhận nước Pháp bảo hộ. Vua Hiệp Hoà bị Nguyễn Văn Tường và
Tôn Thất Thuyết chuyên quyền giết, và lập vua Kiến Phúc mới 15 tuổi lên thay.
Pháp lập ra lính khố xanh (lính tuần cảnh); đánh lấy Sơn Tây (25 tháng 9 –
1883); lấy Bắc Ninh (16 tháng hai giáp thân – 1884); lấy Thái Nguyên (23 tháng
2); lất Hưng Hóa (17 tháng 3); lấy Tuyên Quang (3 tháng 5).
- Hoà ước Fournier (18 tháng 4 năm giáp thân – 1884) giữa Pháp và Tàu:
Tàu rút quân để Pháp bảo hộ Việt Nam.
- Ḥa Ước Patenôtre giữa triều đ́nh Việt Nam và ông Patenôtre kư tháng 5
giáp thân (1884) tương tự ḥa ước kư ngày 23 tháng 7 năm quí mùi (1883), giữa
ông Harmand và triều đ́nh Huế, chỉ khác điều khoản về tỉnh B́nh Thuận, và các
tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa vẫn thuộc về Trung Kỳ. Sau khi kư xong, hủy cái
ấn vua Tàu phong, để từ đó nước Nam thuộc về nước Pháp bảo hộ. (Từ thời Ngô
Vương Quyền, tuy nước Nam phải triều cống và chịu sự thụ phong của Tàu, nhưng
trên thực tế, được hoàn toàn độc lập. Nay dưới sự bảo hộ và cai trị trực tiếp
của Pháp, nước Nam hoàn toàn bị lệ thuộc. Vua và triều đ́nh Huế chỉ c̣n cái hư
vị mà thôi.
Những Cuộc Nổi Dậy Chống Pháp
· Phong trào Cần Vương: Tướng Pháp De Courcy khinh mạn triều đ́nh Huế,
đ̣i cho quan quân Pháp đi cửa giữa vào yết kiến vua Hàm Nghi, khiến Tôn Thất
Thuyết và các quan nổi giận, nửa đêm 22 tháng 5 ất dậu (1885) đánh trại lính
Pháp ở Mang Cá. Đến sáng 23 tháng 5, quân Pháp phản công, vua và triều đ́nh được
Tôn Thất Thuyết bảo vệ chạy về Quảng B́nh, Nguyễn Văn Tường ở lại ra đầu thú
Pháp.
· Vua Hàm Nghi phất cờ khởi nghĩa, truyền hịch cần vương chống nhau với
Pháp, được các quan và dân chúng hưởng ứng đông đảo:Tại Quảng Nam các quan lập
ra Nghĩa Hội, do Trần Văn Dự đứng đầu, , Phú Yên, B́nh Định, B́nh Thuận, Hà Tĩnh,
Nghệ An đều nổi dậy chống Pháp và nhiều tổ chức chống luôn cả giáo dân:Ở Quảng
Trị có ông Trương Đ́nh Hội , Nguyễn Tự Như, ở Quảng B́nh có quan tri phủ Nguyễn
Phạm Tuân, Hà Tĩnh có cậu ấm Lê Ninh, Nghệ An có ông Nghè Nguyễn Xuân Ôn, và ông
Lê Doăn Nhạ, Các ông Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận nổi dậy ở Phú
Yên, B́nh Định. Ông Lê Trung Đỉnh nổi dậy ở Quảng Nghĩa. Đề Đốc Lê Trực nổi dậy
ở Sông Gianh (Quảng B́nh). Ông Phan Đ́nh Phùng (1) nổi dậy ở Nghệ Tĩnh. Các ông
Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước, Hà Văn Mao nổi dậy ở Thanh Hóa. Ông Đinh Công Tráng
nổi dậy ở Ba Đ́nh. Ông Hoàng Hoa Thám hoạt động vùng Yên Thế. Ngoài Bắc, Đề đốc
Tạ Hiện và quan tán dương Nguyễn Thiện Thuật lập chiến khu tại Băi Sậy....
· Những ông vua chống Pháp: Vua Hàm Nghi bị bắt ngày 26 tháng 9 năm mậu
tí (1888), đầy đi Algérie, đến lượt vua Thành Thái (tức Bửu Lân, con vua Dục Đức)
cũng bị bắt ngày 12 tháng 9 năm 1907, đầy ra đảo Réunion, và vua Duy Tân (con
vua Thành Thái) bị bắt ngày 6 tháng 5 năm 1916, đầy ra đảo Réunion.
· Những anh hùng chống Pháp tử tiết:
Tôn Thất Thiệp (con Tôn Thất Thuyết bảo vệ vua Hàm Nghi), bị thủ hạ Trương Quang
Ngọc giết chết; Tôn Thất Đạm (con Tôn Thất Thuyết) tự tận trong rừng không để
quân Pháp bắt; Thái Phiên và Trần Cao Vân bị án chém đầu v́ tổ chức nổi dậy cùng
vua Duy Tân; Các ông Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền và Nguyễn Đức Nhuận khởi nghĩa ở
Trung Kỳ, bị Tây bắt giết chết. Hoàng Hoa Thám khởi nghĩa chống Pháp ở Yên Thế,
Bắc Giang, bị ám sát chết. Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân
Đảng bị Pháp đưa lên máy chém tại Yên Bái ngày 17-6-1930. Nguyễn Trung Trực
chống Pháp bị xử chém tại Kiên Giang. Trương Công Định chống Pháp, tự sát tại
mặt trận Tân Ḥa. Lương Ngọc Quyến nổi dậy chống Pháp ở Thái Nguyên, bị vây và
tự sát.
· Những tên làm tay sai đắc lực cho Pháp có thể kể là : Trần Bá Lộc (có
công với Pháp nhờ đem lính Tây và lính ở Nam Kỳ ra đánh dẹp quân Cần Vương và
Văn Thân, chém giết người đồng chủng rất tàn bạo), Trương Quang Ngọc (có công
với Pháp nhờ bắt được vua Hàm Nghi), Nguyễn Trọng Hợp (giữ chức quyền kinh lược
sứ, cử tổng đốc Hải Dương là Hoàng Cao Khải đánh dẹp Nguyễn Thiện Thuật ở Băi
Sậy), Nguyễn Thân (có công với Pháp nhờ săn đuổi quân nổi dậy của Phan Đ́nh
Phùng), Trương Như Cương (quan đầu triều đời vua Thành Thái).
· Những phong trào, đảng phái chống Pháp: Việt Nam Quang Phục Hội
(1904-1905) do cụ Sào Nam Phan Bội Châu sáng lập đưa thanh niên sang Nhật và Tàu
học về quân sự; Phong Trào Đông Du khuyến khích thanh niên xuất dương du học;
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-1908), mở trường dạy học với mục đích
chính là hoạt động chính trị chống Pháp với các ông Lương Ngọc Can, Đào Nguyên
Phổ, Duơng Bá Trạc...một năm sau bị Pháp đóng cửa; Việt Nam Quang Phục Hội; Việt
Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội; Đông Dương Cộng Sản đảng; Phục Việt Đảng;
Tân Việt Đảng; Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội
(Việt Minh) & Việt Nam Quốc Dân Đảng là 2 Đảng mạnh nhất. Về sau, Đảng Việt Minh
đă thanh toán Việt Nam Quốc Dân Đảng để giành quyền lănh đạo đất nước. (2)
Ghi chú:(1) Ông Phan Đ́nh Phùng người tỉnh Hà Tĩnh thi đỗ Đ́nh Nguyên đời
vua Tự Đức, làm quan đến chức Ngự sử, bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất
Thuyết cách chức. Ông đứng đầu đảng Văn Thân chống Pháp, có tài văn chương và có
tài về quân sự. dưới quyền có ông Cao Thắng đúc được súng kiểu 1874 (ṇng không
xẻ rănh nên không bắn được xa). Ông Phan Đ́nh Phùng bị bệnh chết ở trong rừng
khi kháng chiến.
(2) Đảng Việt Minh tức Đảng Cộng Sản sau này.
Thơ Ca Vịnh
Chính Sách Triều Vua Tự Đức
Quốc thị lờ mờ có thế thôi
Triều đ́nh cứ tưởng đă hơn người
Năm châu bốn bể đà ghi lại
Một chúa trăm quan vẫn đứng ngồi
Uống rượu ngâm thơ là giỏI đấy
Băi Tây cấm đạo đủ hay rồi
Có ai tŕnh tấu xin thay đổi
Các cụ thượng thơ vội bác lời
Chính Hà
Quư thu Đinh Măo 21-09-1987
TRUNG-LIỆT.
Xuân Đài nở một cành hoa Mai
Tổng Đốc Hoàng Diệu hiệu Tinh Trai
Phó bảng, thượng thư h́nh Bộ lại
Điện Bàn Tỉnh Quảng xứ sanh ngài
Đất c̣i trổ lộc mai hoa thắm
Ngũ-Phụng Tề Phi vang bóng hoài
Nhân Kiệt địa linh vùng xứ Quảng
Chu-Trinh, Thúc Kháng đại danh tài
Thu-Bồn chảy măi, Quế Tiên Phước
Ngát cánh hương rừng rạng núi sông
Tổng Đốc cụ Hoàng danh tiết liệt
Đền thờ nghĩa tiết quốc ghi công
Đống Đa lịch sử hồn vang bóng
Tiết tháo anh hùng tận hiếu trung
Thất thủ thành tŕ thân tuẫn tiết
Trung can nghĩa khí đại anh hùng
Tiền nhân khí phách gương anh dũng
Hậu thế noi theo tạc chữ đồng
Hoàng Diệu, Tinh Trai chí đại nghĩa
Thơm danh lưu sử cháu con Hồng .
Nguyên-Dzuy
Mùa xuân ất Dậu 2005 (12-4-05)
Đặng Đề (1851-hy sinh 1887)
Quê quán Tây Sơn, B́nh Định
Nghĩa sĩ phong trào cần vương của Mai Xuân Thưởng
Cẩm Văn Thôn Kư
Cẩm Văn trận thượng sát Tây tù
Chiến tích lưu truyền chí vạn thu
Hào kiệt binh nhung tề phấn dũng
Quốc cừu thệ tuyết trảm di đầu
Đặng Đề
Ghi Ở Làng Cẩm Văn
Diệt giặc Tây trên trận Cẩm Văn
Chiến công này để lại muôn năm
Nghĩa quân thêm mạnh thêm mừng rỡ
Thù nước nguyền xong hả uất căm
Thị Nại Hà dịch
Ghi Ở làng Cẩm VănCẩm Văn xông trận giết Tây
Ngàn thu lưu dấu ân đầy núi sông
Quân ta chí dũng một ḷng
Phất cờ nghĩa sĩ tâm đồng cứu dân
Chu Hà cảm tác
Tăng Bạt Hổ (1858-1907)
Quê quán: An Thường, Hoài Ân, B́nh Định
Tham gia phong trào Cần Vương và phong trào Đông Du
Như Thời Đông Tác
Tứ phiên tầm chủ xuất dương quan
Can phế tương kỳ tại thử gian
Việt cảnh cáp đương xuân tiết hậu
Minh tiền dị quá bắc tùng san
Thê hàng vạn lư do vi dị
vân vũ trùng tiêu khởi thị nan
Thiên địa hữu tâm khai vận hội
Chinh xa tảo tảo phục Nam hoàn
Tăng Bạt Hổ
Làm Khi Sang Nhật
Vượt ải t́m vua đă bốn phen
Chốn này ước hẹn một gan bềnh
Trời xuân đất khách ra chân bước
Cơi Bắc rừng thông quất ngựa lên
Muôn dặm xông pha đành chẳng khó
Tầng trời mưa gió quyết làm nên
Vận may trời đất giành cơ hội
Xe khách về Nam trở bánh liền
Tăng Bạt Hổ
(Lê Thước dịch)
Mai Xuân Thưởng (1860-1887)
Quê quán Phú Lạc, Tây Sơn B́nh Định.
Đậu cử nhân năm 1884 tại trường thi B́nh Định. Năm 1885 ông cùng Đào Doăn Địch
mộ quân nổi dậy chống Pháp.
Chết Nào Có Sợ
Chết nào có sợ, chết như chơi
Chết bỡi v́ dân, chết bỡi thời
Chết hiếu chi nài xương thịt nát
Chết trung bao quản cổ đầu rơi
Chết nhân để tiếng vang ngh́n thuở
Chết nghĩa danh lưu rạng mấy đời
Thà chịu chết trung hơn sống nhục
Chết nào có sợ, chết như chơi
Mai Xuân Thưởng
Tuyệt bút (trước khi bị hành h́nh)
Không tính làm chi việc mất c̣n,
Nợ trai lo trả ấy là khôn.
Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước,
Đá tạc ḷng trung quí mấy ḥn.
Tái ngắt mặt gian xương tợ giá,
Đỏ ḷe b́a sách máu là son.
Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới,
Một nhánh MAI già trổ nụ non.
Mai Xuân Thưởng
Trương Công Định (1820-1864):
Là một anh hùng chống Pháp, người Gia Định. Năm 1850 hưởng ứng chính sách khẩn
hoang của Nguyễn Tri Phương, được phong chức Quản cơ, nên có tên là Quản Định.
Năm 1859 Pháp chiếm Gia định, ông tổ chức nghĩa binh chống Pháp và được Triều
Đ́nh Huế phong chức Phó Lănh binh.
Sau hoà ước Nhâm Tuất (5-6-1862) Việt Nam nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, 6ng
không theo lệnh triều đ́nh, tiếp tục lập chiến khu chống Pháp, được tôn là B́nh
Tây Đại Nguyên Soái, đánh nhiều trận gây thiệt hại cho giặc.
Ngày 19-8-1864, ông bị nội phản,mang thương và phải tự sát tại mặt trận Tân Ḥa.
Văn Tế Trương Công Định*
Trong Nam tên họ nổi như cồn,
Mấy trận G̣ công nức tiếng đồn,
Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ
Hơi gươm thêm rạng vẻ huỳnh môn.
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ,
Quả ấn “B́nh Tây” đất vội chôn.
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy,
Lâm râm ba chữ điếu linh hồn!
Nguyễn Đ́nh Chiểu
(Trích trong 12 bài thơ khóc người
anh hùng” đám lá tối trời” Trương Định)
Hoàng Hoa Thám (1858-1913)
Tên thật Trương Văn Thám, là một anh hùng chống Pháp, khởi nghĩa tại vùng Yên
Thế (Bắc Giang) trong phong trào Cần Vương, chức Đề Lĩnh nên c̣n gọi là Đề Thám,
hay “Hùm thiêng Yên Thế” Ông hoạt động rất mạnh, vợ con và gia đ́nh cùng sát
cánh đấu tranh. Đến năm 1894, Pháp phải điều đ́nh cắt nhượng đất để ông lập đồn
điền và tự trị để sẽ giải giới.
Năm 1905 ông tiếp súc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, tiếp tục kháng chiến,
gây tổn thất nặng nề cho Pháp và tay sai. Ngày 10 tháng 2 năm Quư Sửu
(18-3-1915) ông bị tên Lương Tam Kỳ phản bội ám sát chết, thọ 55 tuổi.
Thơ Điếu Hoàng Hoa Thám
Dị chủng sài lang măn địa tinh,
Độc tương chích thủ dữ cừu tranh.
Trấp niên thương kiếm sơn hà khí,
Bách chiến phong vân phụ tử binh.
Quốc thế dĩ trầm quân thượng phấn,
Tướng đầu vị đoạn tặc do kinh.
Anh hùng ban sắc chung nan kiện,
Vạn lư thời văn hổ khiếu thanh.
Phan Bội Châu
Bản dịch
Sài lang chật đất giống hôi tanh, (Khác giống sài lang chật đất lành)
Cùng địch ra tay quyết đấu tranh. (Đối địch ra tay quyết đấu tranh)
Non nước bao năm ngời bảo kiếm,
Cha con trăm trận nổi hùng binh.
Nước nhà dù đắm thân c̣n dấn,
Đầu tướng chưa ĺa giặc vẫn kinh.
Cuộc chót anh hùng càng tỏ nét,
Vẳng nghe hổ thét dội muôn tŕnh.
(Trích Tự Điển Nhân Vật Lịch sử VN)
Bà Ba Đề Thám (cuối thế kỷ 19):
Bà tên thật là Đặng Thị Nhu (c̣n có tên là Đặng Thị Nho tức Bà Ba Cẩn), vợ thứ
ba của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Bà là một nữ tướng rất can
trường, cùng sát cách với chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Yên Thế
cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ngày 1-2-1909, bà và con gái là Hoàng Thị Thế bị
Pháp bắt và đầy đi Guyanne thuộc Pháp ở Nam Mỹ. Tương truyền, trên đường lưu đầy
bà Ba Đề Thám đă nhẩy xuống biển tự tận, noi gương bất khuất của Bà Trưng Bà
Triệu.
Mẹ Dặn Con
Con hăy hiên ngang giữ nếp nhà
Ngẩng đầu nhận diện kẻ thù cha
Mẹ thân tù tội không nao núng
Con phận lưu đầy, chớ xót xa!
Hăy nhớ mối hờn quân Pháp đến
Đừng quên nỗi hận giặc Tàu qua
Tại sao ḿnh phải luôn tranh đấu?
Bởi lũ xâm lăng cướp nước ta!
Vương sinh
Nguyễn Thiện Thuật (1841-1926?):
Danh tướng phong trào Cần Vương, người làng Xuân Dục, tỉnh Hưng Yên, đậu cử nhân
năm 1871, làm tri phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1885 hưởng ứng hịch Cần vương
của vua Hàm Nghi do Tôn Thất Thuyết khởi xướng, Nguyễn Thiện Thuật cùng với Đề
Đốc Tạ Hiện lập chiến khu Băi Sậy tại Hưng Yên chống Pháp. Ngày 12 tháng 11 năm
1889 đánh chiếm được tỉnh Hải Dương và đánh phá các tỉnh lân cận. Sau bị Hoàng
Cao Khải và quân Pháp vây đánh, phải chạy sang Tàu và mất ở bên đó.
Nguyễn Thiện Thuật
Ức Trai hậu duệ ngọn cờ vàng
Khởi sự tung bay khắp xóm làng
Yên Mỹ, Văn Lâm dân náo động
Lê Hoan, Cao Khải ngụy rên than
Đồng lầy lau sậy ngăn bom đạn
Nước đọng chông gai cản ngơ đàng
Giặc Pháp tiến vào rồi lại thoái
Tán tương quân vụ nổi danh vang ./.
Chính Hà
Chống giặc ghi công lúc bấy giờ.
* Trích Nguyễn Quang Thắng, sách đă dẫn trang 779, 780.
Lương Ngọc Quyến (1890-1917)
Con trai nhà yêu nước Lương Văn Can, người Hà Đông là một trong 4 du sinh đầu
tiên tại Nhật được ông Phan Bội Châu đỡ đầu. Năm 1915, ông bị Pháp bắt giam tại
Thái Nguyên và bị tra tấn tàn phế 2 chân. Nửa đêm 30 rạng 31-8-1917, ông Lương
Ngọc Quyến cùng với Đội Cấn tuyên truyền binh sĩ Việt Nam nổi dậy chống Pháp,
đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên trong 7 ngày. Sau bị Pháp vây khốn, ông đă tự sát để
nghĩa quân dễ dàng rút chạy.
Lương ngọc Quyến
Nhà tù nuôi vững chí hùng anh
Giam ngục xà lim án cực h́nh
Đặt kế bày mưu khuyên đội gác
Phân công định hướng dậy quân canh
Nửa đêm súng nổ rung trời đất
Tảng sáng cờ bay rợp thị thành
Binh biến Thái Nguyên ai có nhớ
Anh hùng Ngọc Quyến quyết hy sinh
Chính Hà
Phan Đ́nh Phùng (1844-1895)
Hiệu Châu Phong, người Hà Tĩnh đậu Cử nhân năm 1876, đậu Tiến sĩ năm1877, làm
quan dưới thời Tự Dức tới Ngự sử Đô sát viện, v́ phản đối Tôn Thất thuyết chuyên
chế phế lập, nên bị cách chức đuổi về.
Năm 1885, ông kháng chiến chống Pháp bên cạnh Tôn Thất Thuyết tại vùng rừng núi
Hương Sơn (Nghệ Tĩnh). Phan Đ́nh Phùng có người tướng tài tên là Cao Thắng dưới
quyền lập xưởng đúc được súng. Sau 10 năm kháng chiến, ông lâm bệnh mất tại
chiến khu.
Lúc sắp mất ông có bài thơ Thuật Hoài*:
Nhung trường phụng mạng thập canh đông,
Vơ lược y nhiên vị tấu công.
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn,
Phỉ đồ biến địa thượng đồn phong.
Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại,
Tứ hải nhân dân thủy hỏa trung.
Trách vọng dũ long ưu dũ đại,
Tướng môn thâm tự quí anh hùng.
Bản dịch*
Nhung trường vâng mạng đă mười đông,
Việc vơ lôi thôi vẫn chẳng xong.
Dân đói vang trời kêu ổ nhạn,
Quân gian dậy đất rộn đàn ong.
Chín trùng lận đận miền quan tái,
Trăm họ phôi pha đám lửa nồng.
Trách vọng càng to càng nặng nhọc,
Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng.
Thơ điếu của chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền*
Vạn lí ai già bất khả văn,
Lục long thiên ngoại cách yên phân.
Binh qua chấp nghĩa phù tông quốc,
Bèo hốt lâm nguy bái thánh quân.
Lang miếu cựu truyền chân ngự sử,
Giang hồ kim khấp cố tướng quân.
Tha niên tái kiến trung nguyên định.
Hăn tặc Thường sơn hữu đại luân.
Bản dịch*
Muôn dặm kèn buồn tiếng vẳng đưa,
Ngoài trời xe ngựa khói mây mờ.
Binh qua vị nghĩa lo pḥ nước,
Bào hốt lâm nguy ngoảnh lạy vua.
Lang miếu trước khen đài gián giỏi,
Giang hồ nay khóc tướng quân xưa.
Trung nguyên sẽ thấy ngày b́nh định,
Chống giặc ghi công lúc bấy giờ.
* Trích Nguyễn Quang Thắng, sách đă dẫn trang 779, 780.
Phan Đ́nh Phùng - Hoàng Cao Khải
Đ́nh Phùng -Cao Khải gốc cùng làng
Một Cụ chống Tây, một Cụ hàng
Cụ chống vào bưng đành khổ sở
Cụ hàng ra phố đặng giàu sang
Ngàn Trươi xương máu lo t́m nước
Thái Ấp ngựa xe tính kiếm vàng
Hai Cụ giờ đây về chín suối
Hỏi ai ô nhục, ai vinh quang
***
Tài ba hai Cụ khỏi bàn
Ngh́n thu bút sử sẽ can thiệp vào
Đời người như giấc chiêm bao
Ḥan lương tỉnh mộng nghĩ sao bây giờ ?
Chính Hà
Quư Thu Đinh Măo 1987
Phan Bội Châu (1867-1940)
Tên thật Phan Văn San tức Phan Bội Châu, hiệu Sào Nam, người làng Đan Nhiễm
(Nghệ An), sinh ngày 1 tháng 12 đinh măo (26 tháng 12 năm 1867), thông minh từ
nhỏ, đậu Giải Nguyên trường thi Nghệ An. Năm 17 tuổi đă hưởng ứng phong trào Cần
Vương. Năm 1904 vận động lập hội Duy Tân, sau đó cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung
Quốc và Nhật Bản lập phong trào Đông Du. Năm 1908 bị Nhật trục xuất, ông sang
Thái Lan và sang Tàu lập Hội Việt Nam Quang Phục. Năm 1925 ông bị tay sai Pháp
bắt tại Thượng Hải, bị an trí tại Bến Ngự (Huế), và mất tại đó ngày 29 tháng 10
năm 1940, thọ 73 tuổi.
Phan Bội Châu
Danh lợi không hề vướng gót chân
Nêu cao chính nghĩa, tỏ tinh thần
Duy Tân hội lập chiêu hồn nước
Cầu học Đông du cảnh ư dân
Hải Ngoại Huyết Thư lời khí phách
Ngục Trung Kư Sự tiếng chân thân
Anh hùng há kể chi thành bại
Bồi đắp non sông đă dự phần
Chính Hà
Vịnh Đại Úy Francis Garnier
Đại Úy ở đâu mà tới đây?
Có hay Cầu Giấy địa danh nầy..!
Mắt xanh, ngó quẩn không cùng loại
Mũi lơ, nh́n quanh chẳng giống ai.
Đai trắng, quan phơ dăm phát súng (1)
Cờ đen, nó phạng mấy dao phay
Ô hô, quan chết, hồn lang bạt...
Oán lũ thực dân, chúng đọa đầy...!
Vương Sinh
(1) Đại Úy Francis Garnier thuộc binh chủng Hải quân nên mang sắc phục cân đai
mầu trắng. Phơ (feu), tiếng Pháp nghĩa là bắn
Bà Sương Nguyệt Anh (1863-1921)
Bà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê, sinh ngày 24 tháng 12 năm Quí
Hợi (1863) tại Gia Định, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu tức Đồ Chiểu.
Bà có nhan sắc xinh đẹp, lại có tài văn chương, đoan trang, tiết hạnh, nhưng lập
gia đ́nh trễ. Trên 25 tuổi bà mới kết hôn, sinh được một gái th́ chồng chết. Bà
ở vậy nuôi con, vui với thơ văn, lấy bút hiệu là Sương Nguyệt Anh (nghĩa là
người sương phụ, thủ tiết thờ chồng). Bà viết:”Gương tỏ đời nay trong tiết
phụ””Lâu dài tiếng tốt tạc tạc non sông” Bà rất hay chữ, giỏi thơ, nổi danh ở
miền Nam, và làm chủ bút tuần báo "Nữ Giới Chung" ở Sài G̣n, là tuần báo đầu
tiên ở nước ta. Bà Sương Nguyệt Anh mất ngày 12 tháng 11 âm lịch (4 tháng 1 năm
1921), hưởng dương 58 tuổi..(Theo tài liệu của Lăng Nhân trong “Hương Sắc Quê
Ḿnh”, và tài liệu của Hồ Trường An – Giai Phẩm Sương Nguyệt Anh – 2002)
Thơ Vinh Danh Bà Sương Nguyệt Anh
Hương sắc như hoa, dáng nết na
Vốn ḍng vọng tộc, chốn danh gia
Trời làm đơn lẻ, mờ duyên tục
Đất tạo ḥa thân, sáng đạo nhà
Sương phụ một đời gương tiết liệt
Văn nhân muôn thuở tiếng hưng ca
Mở đầu tuần báo, đây khuê tú
Ánh nguyệt hằng soi mấy chẳng nḥa!
Vương Sinh
Nguyễn Thái Học (1901-1930)
Liệt sĩ, lănh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Yên Bái năm 1930,
người làng Phổ Tang (Vĩnh Yên tức Vĩnh Phú). Ông theo học trường Cao đẳng Sư
Phạm và Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương ở Hà Nội, viết thư đ̣i Pháp cải cách xă
hội, chính trị và đ̣i tự do ngôn luận (1926). Năm 1927, ông lập đảng Quốc Dân
Việt Nam tức Quốc Dân Đảng, phỏng theo cương lĩnh Quốc Dân Đảng Trung Quốc, và
được bầu làm Đảng Trưởng. Ngày 10 tháng 2 năm 1939, ông tổ chức tổng khởi nghĩa
tại Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Hải Dương, nhưng thất bại và bị bắt tại làng Cổ
Vịt (Hải Dương) và bị đưa lên máy chém cùng với 12 đảng viên trung kiên vào ngày
17 tháng 6 năm 1930. Nhà Cách Mạng Nguyễn Thái Học là tấm gương tranh đấu sáng
ngời chống quân xâm lược, đă để lại những lời tâm huyết bất hủ: “Hoa Tự Do phải
tưới bằng máu”, “ Không thành công cũng thành nhân”...Khi lên máy chém ông hiên
ngang ngâm mấy câu thơ bằng tiếng Pháp, được dịch nghĩa như sau:
“Chết v́ Tổ Quốc,
Cái chết vinh quang,
Ḷng ta sung sướng,
Trí ta nhẹ nhàng”.*
* Theo Nguyễn Quốc Thắng, sách đă dẫn trang 632.
13 Liệt sĩ Yên Bái là: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Bùi Tư Toàn, Đào Văn
Nhật, Nguyễn Văn Tiềm, Hà Văn Lao, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Văn
A, Bùi Văn Cửu, Nguyễn Như Liên, Ngô Văn Du, và Đỗ Văn Tài.
Ngày Yên Bái
Không thành công cũng sẽ thành danh (1)
Bất khuất, anh hùng quyết đấu tranh
Xâm lược một phường toan cướp nước
Việt gian mấy bọn tính dâng thành
Pháp trường, ngưỡng mộ trang anh liệt
Chiến tuyến, hoài thương vị soái doanh (2)
Yên Bái một ngày tang ảm đạm
Sử xanh trỗi dậy khúc quân hành!
Vương Sinh
(1) Phỏng theo lời nói của Nguyễn Thái Học
(2)Nguyễn Thái Học là đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, chỉ huy các cuộc chiến
đấu chống thực dân Pháp.
Mai Xuân Thưởng (Bài Họa 1)
Khoa giáp màng chi chút hảo danh
Bỏ trường xây lũy quyết phân tranh
Bày binh mấy bận kinh hồn giặc
Bố trận bao phen dậy cả thành
Sĩ tử theo về đầy hậu sảnh
Quan binh sắp lớp chật tiền doanh
Giáo gươm một thuở mờ sông núi
Giúp nước b́nh Tây khỏi Pháp hành.
Thị Mốc
Chiến Sĩ Vô Danh (Bài Họa 2)
Non sông nghiêng ngả đợi chi danh
Gạt cả t́nh riêng v́ chiến tranh
Đất mẹ hiên ngang thân lập cơi
Quê nhà yêu dấu xác xây thành
Bao năm dân Việt làm nên sử
Lắm bận giặc Ngoài mất bản doanh
Tàu vỡ mặt thua Tây hốt hoảng
Vô danh chiến sĩ măi thi hành.
Phú Điềm
Nguyễn Trung Trực (1837-1868)
Lănh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp tại Tân An (Long An) và Rạch Giá (Kiên
Giang). Trưa ngày 10 tháng 12 năm 1861, ông cùng một số chiến hữu tổ chức phục
kích đốt tàu L’Espérance của Pháp trên sông Vàm Nhật Tảo. Ông tiếp tục chiến đấu
chống Pháp tại Gia Định, Biên Ḥa. Năm 1862 ông được phong chức Lănh Binh. Năm
1867 ông được phong chức Hà Tiên Thành Thủ Ủy giữ đất Hà Tiên. Khi Hà Tiên thất
thủ, ông ra Phú Quốc lập căn cứ chống Pháp. Ông bị bắt tháng 10 năm 1868, nhưng
cương quyết không đầu hàng giặc.
Ngày 27 tháng 10 năm 1868 (28-8 Nhâm Tuất) quân Pháp đem ông ra chém tại Kiên
Giang, hưởng dương 31 tuổi.
"Trước giờ bị hành quyết , Ngài có làm một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt như sau :
Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên
Yêu gian đảm khí hữu long tuyền
Anh hùng nhược ngộ vô dụng địa
Báo hận thâm cừu bất đái thiên
Theo việc binh nhung tự thuở trai
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài
Anh hùng gặp phải hồi không đất
Thù hận chan chan chẳng đội trời
Thế rồi lưỡi đao đao thủ phủ chém xuống đầu Ngài rơi nhưng hai tay cúa ngài đưa
lên hứng lấy đặt ngay chỗ cũ ,hai mắt của ngài vẫn trừng trừng sáng quắc làm cho
ai nấy cũng phải kinh ḥang thán phục ."
Ghi chú : Tài liệu này theo Nguyễn Thành Nhuận ở Long Xuyên đă đăng trên nhật
báo Tiền Tuyến
Trích : Hội hè đ́nh đám , Toan Ánh , Nam chi Tùng Thư , 1969, tr. 159)
Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt điếu ông bài thơ nổi tiếng như sau:
Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỉ thần
Anh hùng cường cánh phương danh thọ
Tu sát đê đầu úy tử nhân
Bản dịch:
Lửa hồng Nhựt Tảo vang trời đất
Gươm lóe Kiên Giang rúng quỉ thần
Ngẩng cổ anh hùng danh thọ măi,
Cúi đầu thẹn chết lũ phi nhân.