Vịnh Sử Thời Nhà Nguyễn Tây Sơn

Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử

Quân Tây Sơn Nổi Dậy:

· Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương ở phương Nam (Đàng Trong), tức Vũ Vương, đóng đô tại Phú Xuân. Năm 1765 Vũ Vương mất, quyền thần Trương Phúc Loan đổi di chúc, lập Định Vương mới 12 tuổi để dễ khống chế và làm nhiều điều tham lam, tàn ác.

· Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ (1) cùng dấy quân nổi dậy tại ấp Tây Sơn (Qui Nhơn) nên sử gọi là quân Tây Sơn, đánh chiếm thành Qui Nhơn và vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngăi vào đến B́nh Thuận.

· Năm 1774 quân chúa Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy vượt sông Gianh đánh chiếm kinh thành Phú Xuân. Chúa Nguyễn cùng Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Gia Định, để lại Đông Cung lo đánh giặc.

· Nguyễn Nhạc một mặt cho người rước Đông Cung về và dâng con gái là Thọ Hương để lập mưu đánh lấy đất chúa Nguyễn, mặt khác xin theo Hoàng Ngũ Phúc của chúa Trịnh để giữ yên mặt Bắc.


Đánh Chúa Nguyễn Trong Nam

· Năm 1776 Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, sai Nguyễn Lữ vào đánh Gia Định, lấy được thành Sài Côn (Sài G̣n), nhưng sau đó bị tướng chúa Nguyễn là Đỗ Thanh Nhơn đánh lấy lại.

· Năm 1777 Nguyễn Nhạc được Trịnh Sâm phong cho làm trấn thủ Quảng Nam, bèn sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đem quân thủy bộ vào đánh lấy Gia Định, Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương đều bị giết, chỉ có người cháu Thái Thượng Vương là Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát. Nguyễn Nhạc xưng đế, niên hiệu Thái Đức, phong Nguyễn Lữ làm Tiết Chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhượng tướng quân.

· Năm 1780, sau khi Nguyễn Phúc Ánh lấy lại được Gia Định, bèn xưng Vương.

· Năm 1782, vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ vào đánh Gia Định, Nguyễn Vương thua chạy ra Phú Quốc. Nhưng sau khi quân Nguyễn Huệ bỏ về, tướng chúa Nguyễn là Châu Văn Tiếp đánh lấy lại thành Sài Côn và rước Nguyễn Vương trở về.

· Năm 1783 Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại đem binh vào đánh Gia Định, Nguyễn Vương phải rước Vương Mẫu và cung quyến chạy ra Phú Quốc. Nguyễn Huệ ra đánh Phú Quốc, Nguyễn Vương chạy về Côn Nôn (đảo Côn Lôn). Chiến thuyền Nguyễn Huệ vây Côn Nôn, nhưng nhờ có băo đánh đắm thuyền Tây Sơn nên Nguyễn Ánh chạy thoát về lại Phú Quốc.

· Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) lúc đó thế lực cùng kiệt, bèn nhờ Giám Mục Bá Đa Lộc đưa Hoàng Tử Cảnh sang nước Pháp cầu viện, và cầu cứu Tiêm La đem 2 vạn quân và 300 chiến thuyền sang giúp (1784) đánh lấy lại các tỉnh Rạch Giá, Sa Đéc... Quân Tiêm quấy nhiễu dân, làm nhiều điều tàn bạo, nên ai cũng oán hận. Vua Tây sơn được tin, sai Nguyễn Huệ vào Nam đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm và Soài Mút (gần Mỹ Tho) (2). Nguyễn Vương chạy qua Vọng Các (Thái Lan) chờ viện binh từ nước Pháp. Quân Tây Sơn tạm thời làm chủ toàn cơi đất miền Nam.

Đánh Chúa Trịnh Ngoài Bắc:

· Năm 1786, Nguyễn Huệ được vua Tây Sơn phong làm Tiết Chế, cùng với Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân đánh chiếm Thuận Hoá do quân Chúa Trịnh trấn giữ. Lấy xong Thuận Hóa, quân Nguyễn Huệ thừa thắng ra Bắc đánh lấy Thăng Long, với nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”. Thời gian này ở kinh thành đang có loạn kiêu binh, quân chúa Trịnh không địch nổi đoàn quân bách chiến bách thắng của Nguyễn Huệ, nên chỉ trong một thời gian ngắn quân Tây Sơn đă lấy được Thăng Long, Trịnh Khải bị bắt và tự tử, chấm dứt nghiệp chúa của họ Trịnh sau 216 năm giữ uy quyền (1570-1786), truyền được 10 đời.

· Nguyễn Huệ dẹp xong họ Trịnh, vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, được vua Lê phong làm Nguyên Soái Uy Quốc Công và gả con gái là công chúa Ngọc Hân. Đưọc ít lâu, vua Hiển Tông mất, Hoàng Tôn Duy Kỳ lên nối ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống. Nguyễn Nhạc được tin em đă chiếm Thăng Long, vội đem quân ra Bắc nói là để yểm trơ quân Tây Sơn.

· Nguyễn Nhạc về Quy Nhơn xưng là Trung Ương Hoàng Đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, Nguyễn Huệ làm Bắc B́nh Vương.

· Vua Lê Chiêu Thống gọi Nguyễn Hữu Chỉnh về giúp v́ bị nhóm Trịnh Bồng nổi lên áp chế. Sau khi dẹp yên nhóm Trịnh Bồng, Nguyễn Hữu Chỉnh lại chuyên quyền ở đất Bắc, dựa vào thế vua Lê mưu toan đối đầu với nhà Tây Sơn, nên bị Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm (3) ra Bắc bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống thấy vậy đă bỏ chạy khỏi Thăng Long, chấm dứt sự nghiệp nhà Lê (Trung Hưng) từ đó.

· Vua Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, được vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang nước Nam, lấy cớ giúp nhà Lê, nhưng sự thực là muốn xâm chiếm nước Nam. Các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Th́ Nhiệm rút quân về Tam Điệp giữ chỗ hiểm yếu và báo tin gấp về Phú Xuân.

· Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ bèn sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn, lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Quang Trung, rồi đem quân ra Bắc đánh giặc.

Đại Phá Quân Thanh

· Vua Quang Trung truyền cho tướng sĩ ăn Tết Nguyên Đán trước, rồi chia quân làm 5 đạo tiến ra Bắc, hẹn với binh tướng đến mồng bẩy th́ vào thành Thăng Long ăn mừng.

· Nửa đêm mồng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung lấy thành Hà Hồi. Mờ sáng mồng 5 đánh lấy thành Ngọc Hồi (4). Thừa thắng , quân Tây Sơn “đánh tràn đi lấy được các đồn, giết quân nhà Thanh thây nằm ngổn ngang khắp đồng, máu chảy như tháo nước. Quân các đạo khác cũng được toàn thắng” (5). Các tướng nhà Thanh Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Thượng Duy Thanh... đều tử trận. Sầm Nghi Đống đóng quân ở đồn Đống Đa bị vây khốn phải thắt cổ tự tử.

· Tôn sĩ Nghị được tin sợ hết hồn, không kịp mặc áo giáp, bỏ cả ấn tín mà chạy qua sông. Quân Tàu hoảng loạn chạy theo, xô đẩy nhau khiến cầu phao bắc qua sông Nhị Hà bị sập, rớt xuống nước chết thây nghẹt cả ḍng sông. Vua Lê Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu cùng mấy cận thần cũng chạy thoát sang Tàu.

· Ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, “vua Quang Trung đốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa th́ vào thành Thăng Long, sai tướng đem binh đuổi đánh quân nhà Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy tiếng một người nào?” (6)

Đức độ Vua Quang Trung

Bàn về đức độ vua Quang Trung, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Vua Quang Trung nhà Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy vơ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài có độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra lấy Bắc Hà, những người như Ngô Th́ Nhiệm, Phan Huy Ích, đều được trọng dụng và nhất là đối với một người xử sĩ (7) như Nguyễn Thiệp th́ thật là khác thường”.

Những Việc Làm Quan Trọng

· Đời vua Quang Trung (1788-1792) tuy ngắn ngủi, nhưng đă có công lớn đánh đuổi ngoại xâm và làm được một số việc quan trọng:

· Chính trị và quan chế: Lập công chúa Ngọc Hân làm Bắc cung Hoàng Hậu và lập Quang Toản (con bà Thái hâu chính cung họ Bùi) làm Thái tử, xây cung điện ở Nghệ An gọi là Phượng Hoàng Trung Đô, đổi tên thành Thăng Long là Bắc Thành, chia đất Sơn Nam làm hai trấn, và đặt quan Trấn thủ, Hiệp trấn. Về quan chế, theo dă sử có tam công, tam chế.

· Việc đinh điền (8): Chia đinh làm 3 hạng tuổi để tùy theo số tuổi mà làm nghĩa vụ. Ruộng cũng chia ra 3 hạng để đánh thuế cho công b́nh.

· Việc học hành: Để nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, không lệ thuộc vào văn hóa Tàu, vua Quang Trung bắt các quan dùng chử Nôm (chữ Quốc Ngữ) trong việc cai trị và việc thi cử.

· Việc làm chùa chiền: Cho làm chùa lớn ở phủ huyện, những nhà tu hành phải có học thức và đạo đức trông coi chùa, thờ Phật. Những người không xứng đáng phải về làm ăn, và những ngôi chùa nhỏ ở làng có ư buôn thần bán thánh đều bị dẹp bỏ.

· Việc định đánh Tàu: Vua quang Trung có hoài băo đ̣i lại đất Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) của Tổ Tiên, nên cùng đ́nh thần bàn việc đánh Tàu. Nhà vua ra lệnh cho các trấn làm lại sổ đinh, cấp cho mỗi người một cái tín bài, đễ dễ kiểm soát việc kén lính đánh giặc. Vua Quang Trung cũng có ư định cầu hôn với công chúa con vua Càn Long để xin trả lại cho Đại Việt đất Lưỡng Quảng.

· Vua Quang Trung mất năm Nhâm tí (1792), làm vua được 4 năm, thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vơ Hoàng Đế, truyền được 2 đời vua kéo dài 14 năm (8).

- Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1792).
- Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản (1792-1802).

Chú thích:

(1) Ông tổ bốn đời anh em Nguyễn Nhạc nguyên họ Hồ, cùng một tổ với Hồ Quư Ly, người đất Nghệ An vào lập nghiêp tại Quy Nhơn, cha là Hồ Phi Phúc. Anh em ông Nguyễn Nhạc lấy họ mẹ là họ Nguyễn để chiêu mộ quân nổi dậy, v́ đất miền Nam thuộc chúa Nguyễn.
(2) Vua Tiêm La (Thái Lan) sai 2 tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 20 ngàn quân cùng 300 chiến thuyền sang giúp Nguyễn Vương, nhưng bị quân Tây Sơn Nguyễn Huệ phục kích giết chết gần hết, chỉ c̣n chừng vài ngàn tên sống sót chạy về nước.
(3) Về sau Vũ Văn Nhậm bị Ngô Văn Sở mật báo với Bắc B́nh Vương là có ư làm phản, nên bị giết chết.
(4) Trận đánh thành Ngọc Hồi, quân Thanh bắn ra như mưa. Vua Quang Trung sai lấy ván ghép lại, bọc rơm xấp nước thành mộc chắn đạn thật lớn, 20 dũng sĩ mang dao nhọn khiêng ván, 20 dũng sĩ khác mang khí giới núp sau mộc chắn cùng tiến vào phá thành.
(5) Trần Trọng Kim. sách đă dẫn, quyển II trang 133
(6) Trần Trọng Kim, sách đă dẫn, quyển II trang 134.
(7) Xử sĩ:Kẻ học giả không ra làm việc đời. Đào Duy anh, sách đă dẫn trang 587.
(8) Đinh điền: Người và ruộng-Thuế đầu người và thuế ruộng đất.


Thơ Nhạc Ca Vịnh:

Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ

Một ngọn cờ đào một áo nâu
Tây Sơn sắc núi vẫn tươi mầu
Anh hùng một thuở vung tay kiếm
Bạo chúa hai phương gục cổ đầu
Bắc diệt Măn quân thây thả nổi
Nam trừ Xiêm tặc xác vùi sâu
Xót v́ vận nưóc c̣n truân kiển
Nên Bắc B́nh Vương chẳng sống lâu
Chính Hà

VUA QUANG TRUNG

1/2- Quang Trung Hoàng Đế diệt quân Thanh,
Đem lại cho dân mọi phúc lành.
Xây đắp giang sơn bằng máu đỏ,
Vun bồi xă tắc bởi đầu xanh.
Mở mang bờ cơi thêm nhiều mặt,
Phát triển quê hương đủ mọi ngành.
Lừng lẫy năm Châu tài lănh đạo,
Sử vàng muôn thủa rạng uy danh.

2/2- Uy danh muôn thủa Nguyễn Quang Trung,
Dẹp Bắc, b́nh Nam thật lẫy lừng.
Diệt Trịnh rơ ràng phô chí lớn,
Phù Lê đích thực tỏ ḷng trung.
Tan thây giặc Măn đầy Sông Nhị,
Nát xác quân Thanh phủ Núi Nùng.
Tiếng trống Hạ Hồi như sấm động,
Kinh hồn, táng đởm giống tàn hung.
TRƯỜNG GIANG

Quang Trung Đại Đế

Nước Nam xưa có một Quang Trung
Công đức, uy danh thật lẫy lừng
Dẹp Trịnh, pḥ Lê, công tựa biển
B́nh Nam, đánh Bắc, chí không cùng
Tây Sơn, vang tiếng ngườI trai trẻ
Nguyễn Huệ, mất hồn bọn dế giun
Sách sử muôn năm ghi chiến tích
Đống Đa c̣n khắc dấu anh hùng
Nhân Sâm

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Áo vải, cờ đào lập chiến công
"Phù Lê, diệt Trịnh", tấc ḷng son
Đánh nam, Xiêm chạy thây lầm đất
B́nh Bắc , Tàu lui máu đỏ sông
Nước nhỏ, tính đ̣i về Lưỡng Quảng
Dân nghèo , toan mở mặt phương Đông
Trời xanh cay nghiệt, anh hùng tận
Để măi ngh́n năm mối hận ḷng!
Vương Sinh


Vua Quang Trung (Bài Họa)

Hoàng đế Quang Trung sáng chói công
Tạo nên sự nghiệp quá vàng son
Đẩy lui Trịnh -Nguyễn tranh Vương Bá
Đại phá Thanh - Xiêm giữ núi sông
Nêu rơ hùng tâm vang đất Bắc
Đề cao dũng chí dội trời Đông
Mưu toan Lưỡng Quảng đi đ̣i lại
Rất tiếc trời không thoả măn ḷng
Sơn Khê

Bài Xướng:

“Chú Thơm” vơ nghệ dáng hiên ngang
Sang sảng oai nghiêm tướng dũng toàn
Hai sáu tuổi đời vang chiến trận
Bốn hai từ giă buồn giang san
Pḥ Lê chẳng thẹn ḷng danh tướng
Diệt Trịnh đâu nề vua với quan
Nam Bắc tung hoành yên một cơi
Thanh bang run sợ phải quy hàng
Ngọc Lăng

Bài Họa:

Nguyễn Huệ tung hoành khắp dọc ngang,
Mưu sâu, trí đảm, vơ kiêm toàn
Chiêu binh măi mă, thề hưng quốc
Áo vải cờ đào, quyết hạ san.
Diệt Trịnh pḥ Lê, ǵn Bắc ải
Đuổi Xiêm phá Măn, giữ Nam quan.
Phải chi số thọ thêm mươi tuổi
Trọn dải Hoa Nam đă tách hàng!
Vương Sinh

Nhà Tây Sơn (Bài Xướng)

Áo vải cờ đào rạng sử xanh
Tây Sơn Nguyễn Huệ. đấng hùng anh
Từng phen khiếp đảm quân Xiêm tặc
Cũng lúc kinh hồn lũ Măn Thanh
Nam Bắc xa thu gồm một mối
Đông Tây non nước thảy an lành
Bạc đầu ví phỏng nhân gian thấy
Xă tắc lâu rồi thoát khúc quanh
Đặng Đức Bích

Vua Quang Trung (Bài Họa)

Quy Nhơn núi đỏ tiếp rừng xanh
Linh địa sinh người trí, dũng, anh
Xuất trận, kinh hồn quân nghịch Bắc
Bày binh, khiếp vía lũ Xiêm Thanh
Pḥ Lê, giữ nước ḷng trung trực
Diệt Trịnh, an dân dạ tốt lành
Ví thử Quang Trung thêm tuổi thọ
Việt Nam hùng sử chẳng đi quanh!
Vương Sinh

Vua Quang Trung

Đệ nhất anh hùng giữa thế gian
Dẹp tan xâm lược cứu giang san
Đống Đa giặc Măn thây chồng chất
Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang
Kim cổ vĩ nhân so xứng bậc
Đông tây danh tướng sánh cùng hàng
Quang Trung thế hệ tài năng trẻ
Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang.
Đặng Đức Bích (San Diego, Calỉonia)

Áo Vải Cớ Đào

Tụ nghĩa, v́ dân, phải chiến chinh,
Cồn Trung hùng khí đất anh linh.
Cờ đào - màu bạc theo mưa gió
Áo vải - vai sờn mặc tử sinh.
Diệt Trịnh - đánh tan quân bạc ác,
Phù Lê - dẹp sạch loạn kiêu binh.
Chiêu Tăng - Sĩ Nghị tiêu gan mật, *
Quét sạch xâm lăng cứu nước ḿnh.
ThucDiem

* Chiêu Tăng và Chiêu Sương là 2 tướng nước Tiêm La (Xiêm La - nay là Thái Lan) mang 2 vạn quân và 300 chiến thuyền sang nước ta do Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) cầu cứu, bị Nguyễn Huệ đánh phá tan tành



NGŨ QUAN

Đại Phá Quân Thanh
Hồng Quang (Tí Trễ)

1-Khi quê hương (xg) bị dày xéo (xảng)
Bởi giặc thù (ḥ) bạo ngược hung tàn (ḥ)
2-Cháu con (oan) gịng giống Tiên Rồng (xề)
Cùng đứng lên (liu) tiếp bước cha ông (liu)
3-Đất Tây Sơn (xê) người dũng sĩ (xể).----
Giương cao cờ nghĩa (xê) ra gánh vác (xể).----
4-Trọng trách (xể) gian nan (xg).----
Cứu muôn dân (xê) lầm than (xg).----
5-Nhà Lê (xê) đến lúc suy tàn (xừ)
Để giang san (xê) khói lửa ngập tràn (ḥ)
6-Ḷng son trung liệt (cộng) Nguyễn Huệ tiến quân (xg)
Ra Bắc Hà (ḥ).---- đánh đuổi giặc Thanh (xg)
7-G̣ Đống Đa (xg) xác thù chồng chất (xảng)
Đồn Ngọc Hồi (ḥ) tan tác dưới cuồng phong (xg)
8-Bêu đầu (ḥ) giặc Hứa Thế Hanh (xg)
Khiến họ Sầm (ḥ) kinh khiếp quyên sinh (xg)
9-Trên lưng voi (xê) người anh hùng (ḥ).----
Chiến bào (ḥ) nhuộm đen (xg).----
10-Thuốc súng, oai hùng (xề) thúc quân (liu)
Tiến về Thăng Long (xê) trong trống trận dập dồn (ḥ)
11-*Khiến Tôn Sĩ Nghị (cộng) phách lạc xiêu hồn (xàng)
Lên ngựa t́m đường (xề) thoát thân (liu).----
12-Để nước sông Hồng (ḥ) nghẹn cuốn lũ tàn binh (xg)
Bài học xâm lăng (liu) nhớ măi muôn đời (xàng)
13-Chiến thắng (xể).---- vẻ vang (xang).----
Nguyễn Huệ lên ngôi trời (xề) xưng hiệu Quang Trung (liu)
14-Viết trang sử vàng (xàng) lưu dấu ngàn thu (xê)
*Nước Nam thạnh trị (cộng) thạnh trị hùng cường (xàng) .[/i]

* câu nầy hát như Xuân Nữ .
bản Ngũ Quan thường được hát cặp với bản Liêu Giang, mỗi câu 4 nhịp 32 .

Kỷ niệm chiến thắng Đống Đa

Ngày mồng 5 Tết kỷ dậu (1789), vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại thắng trận Đống Đa, đánh tan 200 ngàn quân Măn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy và giải phóng thành Thăng Long.
Tại trận địa Đống Đa (ấp Thái Hà, ngoại ô Hà Nội), xác quân Thanh chất cao thành g̣. Hàng năm dân Việt thường kỷ niệm ngày chiến thắng Đống Đa, nhưng do tấm ḷng từ bi hỷ xả sẵn có, dân Việt cũng thắp hương giỗ trận Đống Đa, cầu cho những vong hồn kẻ bại trận được siêu thoát.

Giỗ trận Đống Đa

Đống Đa hương khói giỗ quân thù
Tha thứ, t́nh người đẹp thế ru!
Đắp mả chiêu hồn, tâm sáng tỏ
Đào mồ bạt vía, trí thâm u
Ngh́n năm bia miệng khinh tà thuyết
Vạn thế sử xanh trọng thánh thư
Đại thắng mùa xuân năm kỷ dậu
Là tia nắng rọi cơi sa mù!
Vương Sinh

Nghĩa tử là nghĩa tận

Nh́n khói hương bay giữa bạn thù
Tưởng hồn tử sĩ nhẹ hơn ru ...
Bay vào vũ trụ luôn tươi sáng
Thoát khỏi trần gian măi tối u
Nghĩa tử quân Thanh ghi tận phép
Nhân sinh nước Việt chép tàng thư
Quang Trung đại đế nêu nhân nghĩa
Khai sáng bang giao, xoá hoả mù
Sơn Khê

Thăm G̣ Đống Đa

Đống Đa gió gợi buồn chiều
G̣ Đống Đa gợi thêm nhiều suy tư
Thời gian trôi chảy từ từ
Gió thời gian vẫn c̣n như thuở nào
Xuân xưa ai khoác chiến bào
Qua đêm trừ tịch tiến vào nơi đây
Đồn Khương Thượng bị bao vây
Tướng Sầm treo cổ cành cây trên đồi
Hai trăm năm sắp qua rồi
Sử phai nét chữ cây đồi c̣n reo
Giờ đây nắng giăi mưa chiều
Ḥang hôn cảnh vật cô liêu t́nh người
Trải bao vật đổi sao dời
Khiến ta lại nhớ cái thời xa xưa
Bấy chầy Bắc gió Nam mưa
C̣n chăng xót lại bài thơ giang hồ
Chính Hà



Dâng Bào

Chúa Tiên* tài sắc vẹn niềm tin,
Âu yếm dâng bào buổi xuất chinh.
Tiền tuyến, Quân vương vung kiếm trận,
Thâm cung, thần thiếp nguyện câu kinh.
Quang Trung Đại Đế phá xâm lược,
Hoàng Hậu Bắc Cung xây thái b́nh.
Hạnh phúc uyên ương vui chiến thắng,
Sử xanh truyền tụng mối duyên t́nh.
Vương Sinh

* Công Chúa Ngọc Hân tục gọi là Chúa Tiên, nổi tiếng Bắc Hà về sắc đẹp và tài thơ văn. Nàng là con gái yêu thứ 21 của vua Lê Hiển Tông. Năm 1786, vua Lê gả Ngọc Hân cho người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ, lúc đó nàng mới 16 tuổi. Năm 1788, quân Măn Thanh xâm phạm cơi bờ Đại Việt, chiếm trọn thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lên ngôi vua, phong Ngọc Hân làm Hữu Hoàng Hậu và cử đại binh ra Bắc đánh đuổi ngoại xâm. Trước khi xuất chinh, Vua Quang Trung đă ngự giá đến từ biệt Ngọc Hân tại Thư Pḥng của nàng. Nơi đây trang hoàng nhiều tranh vẽ và những bài thơ do chính tay Ngọc Hân họa. Trong thư pḥng c̣n trưng bầy nhiều pho sách quư, một cây nguyệt cầm treo trên vách, bút nghiên trên bàn và một bàn cờ bằng ngọc ở gần cửa sổ. Thư pḥng này chính là nơi nhà vua thường lui tới xướng họa và đàm đạo việc nước với Ngọc Hân. Như thường lệ, mỗi lần vua Quang Trung ra trận, Ngọc Hân lại dâng lên nhà vua tấm hoàng bào với niềm tin tưởng nhà vua sẽ được b́nh an và chiến thắng nơi chiến trường, đồng thời cũng để tỏ ḷng quyến luyến yêu thương. Ở lại cung cấm, Ngọc Hân sẽ ra sức chăm sóc các con của nhà vua và để ư giúp đỡ công việc hàng ngày trong tam cung lục viên, nên nàng rất được các cung tần thương mến.Nơi tiền tuyến, chỗ đối đầu với giặc, vị Đại Đế Quang Trung vung kiếm đánh tan quân xâm lược, trong khi Hoàng Hậu Bắc Cung Ngọc Hân ở hậu phương luôn cầu nguyện cho nhà vua, và lo việc ǵn giữ kiến tạo nếp sống an b́nh cho đời sống trong cung.Nhà vua âu yếm đỡ lấy tấm Hoàng Bào trên tay Ngọc Hân... Ngoài sân, con bạch mă đă thắng sẵn yên cương do một cận vệ cầm giữ bỗng co hai chân trước lên trời, hí vang ... như muốn dục dă nhà vua lên đường. ..Xa xa, đoàn đại binh cờ quạt chiêng trống ầm ĩ , cát bụi mịt mù đang tiến về phương Bắc...Sử xanh sẽ lưu truyền măi măi về mối duyên t́nh hạnh phúc của đôi Uyên Ương Nguyễn Huệ - Ngọc Hân trong niềm tin chiến thắng.

Bài Ca B́nh Bắc

Kể từ đấy, đă sáu mươi ngàn lần
Mặt trời mọc ở phương Đông, ngùn ngụt lửa
Mặt trời lặn ở phương Đoài, máu chứa chan.

Kể từ đấy, cũng đă sáu mươi ngàn lân..
Trăng tỏ bóng nơi rừng thiêng đất Bắc
Trăng mờ gương nơi đồng lúa miền Nam.
Ruộng dâu kia bao độ sóng dâng tràn,
Hăy dừng lại, thời gian, trả lời ta có phải?
Dưới vầng nguyệt, lạnh lùng quan ải
Dưới vầng dương, thiêu đốt quan san.
Sóng hưng phế xô nghiêng từng triều đại,
Mà chí lớn dọc ngang
Mà mộng lớn huy hoàng
Vẫn ngh́n thu c̣n măi
Vẫn ngh́n thu người áo vải đất Quy Nhơn.

Ôi người xưa Bắc B́nh Vương
Đống Đa một trận năm đường giáp công.
Đạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng g̣ xương chất, đỏ sông máu màng!
Giờ đây lại đă Xuân sang
Giữa phố quận một muà Xuân nghịch lữ,
Ai kia ḷng có chợt mang mang..?

Đầy vơi sầu xứ
Hăy cùng ta ngẩng đầu lên, hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thép, từng trang..
Một phút oai thần dậy sóng
Tan vía cường bang.
Cho bóng kẻ ngồi trên lưng bạch tượng
Cao chót vót mây năm mầu chiêm ngưỡng
Dài mênh mông một dải tới Nam Quan.
Bóng ấy đă in sâu vào tâm tưởng
Khắc sâu vào trí nhớ của nhân gian.
Một bành voi che lấp mấy ngai vàng
Ôi! Diễm tuyệt người anh hùng áo vải.

Muôn chiến công, một chiến công dồn lại
Một tấm ḷng, muôn vạn tấm ḷng mang.
Ngọn kiếm trỏ bao cánh tay hăng hái
Ngọn cờ rung bao tính mệnh sẵn sàng!
Người cất bước, cả non sông một dải
Vươn ḿnh theo dẫy Hoành Sơn mê mải
Chạy dọc lên thông cảm ư ngang tàng
Cùng chồm dậy đáp lời hô vĩ đại.
Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang!

Người ra Bắc oai thanh mờ nhật nguyệt
Khí thế kia làm rung động càn khôn
Hịch mang xuống lời lời tâm huyết,
Lệnh truyền quân, ai dám bước chân dồn?
Gươm thiêng cựa vỏ, giặc không mồ chôn.
Nát lũy tan đồn,
ôi một khúc hành ca, hề!
Gào mây thét gió!
Mà ư tướng ḷng quân, hề!
Bền tóc tươi son!
Để một mai bông thắm cỏ xanh dờn
Ca trống trận khuê lay bóng nguyệt,
Mừng đất trời gió bụi tan cơn.

Chúng ta sẽ không hổ với người xưa
Một trận Đống Đa, ngàn thu oanh liệt
V́ ta sau trước ḷng kiên quyết,
Vàng chẳng hề phai, đá chẳng sờn!
Vũ Hoàng Chương

Quang Trung Đại Đế Ca

Trời đất mang mang khí thảm sầu
Phân chia đất nước đă dài lâu
Điêu linh thống khổ trùm dân Việt
Ai đấng anh hùng lấp biển dâu?

Ta trượng phu hề chân đạp đất
Ngửa mặt lên trời hề hớp sao Đẩu, sao Ngưu
Trịnh, Nguyễn bạo tàn, Lê khiếp nhược
Đại nghĩa ngang trời ta cứu nguy

Tiến quân đi hề trống thần vang động
Non Tây vời vợi hề nét uy nghi
Côn Giang một giăi xanh hy vọng
Áo vải, anh hùng thay chiến y

Qui Nhơn chước nhỏ đà thu phục
Phất phới cờ đào tiến Phú Xuân
Hùng quân oai khí sôi sùng sục
Nhân dân tung cửa thét vui mừng
Tham quan một bọn đành nuốt nhục
Phủ dụ muôn dân, giữ lễ thần

Ô hô! Phép nước loạn
Vua bất minh
Đă toan rút kiếm bất b́nh
Dẹp bầy lang sói dân t́nh yên vui

Thế Chiến quốc, thế Xuân Thu
Nhà Lê cầu Thanh là lẽ tất
Rước voi về dày mả tổ tiên
Ta anh hùng thề quyết tiến lên
Ra tay sấm sét uy linh
Cho hai mươi vạn quân Thanh tơi bời

Đô Đốc Tuyết, Đô Đốc Lộc:
Thủy quân thống lănh,
Dọc Trường sơn, Trần Quang Diệu điều binh
Hai người cáng một - thay phiên
Tiến quân thần tốc ngày đêm băng ngàn!

Họp nhau núi Tam Điệp
Bất thần đánh địch quân
Rồi ăn tết Thăng Long
Lời ta như sắt thép

A Ha ! Đây Hà Hồi !
Đây Ngọc Hồi !
Giặc thù tan vỡ
Quân ta reo như trời long đất lở
Lũ quân Thanh không trở kịp tay
Hứa Thế Hanh tan xác
Sầm Nghi Đống treo thây
G̣ Đống Đa mồ chôn quân cướp nước
Tôn Sĩ Nghị chạy xuôi chạy ngược
Ấn tín lệnh bài vứt bỏ, xa bay
Áo bào thuốc súng nhuộm đầy
Hiên ngang giục tượng, Ô đây kinh thành !

Tiếng trống trận cũng vừa chấm dứt
Này ba quân! Ăn tết Thăng Long
Riêng ta có một chút ḷng
Cành đào xin gửi Ngọc Hân đang chờ

Bút son ta thảo vần thơ:
�Ngọc Hân ơi nay ta đắc thắng
Quà đầu xuân thương tặng khanh yêu
Hoa đào một nhánh mỹ miều
Hăng hăng khói súng thắm điều tóc tơ�

Khắp đất nước tưng bừng mở hội
Hát ca xang cơi cơi thái b́nh
Riêng ta chừ chưa thỏa chí b́nh sinh
Lưỡng Quảng đó đất ḿnh không thể bỏ
Hỡi ba quân !
Hởi thần dân trăm họ !
Giặc Tàu kia có nợ ta đ̣i
Cho dù một tấc đất thôi
Quyết tâm giành lại đời đời chẳng phân

Cá Côn xé biển hóa chim Bằng (*)
Vỗ cánh chín tầng chuyển trăm năm
Than ôi thế sự lao xao mộng
Sinh Tử vô thường hận hậu sinh.
Đặng Phú Phong

Chú thích: (*) theo truyền thuyết cá Côn là loài cá lớn nhất dưới biển. Lớn hết cỡ th́ phóng ḿnh lên trời hóa thành chim Bằng khổng lồ, cánh dài hàng dặm bay một lần 6 tháng mới nghỉ.

Thăm G̣ Đống Đa

Đống Đa gió gợi buồn chiều
G̣ Đống Đa gợi thêm nhiều suy tư
Thời gian trôi chảy từ từ
Gió thời gian vẫn c̣n như thuở nào
Xuân xưa ai khoác chiến bào
Qua đêm trừ tịch tiến vào nơi đây
Đồn Khương Thượng bị bao vây
Tướng Sầm treo cổ cành cây trên đồi
Hai trăm năm sắp qua rồi
Sử phai nét chữ cây đồi c̣n reo
Giờ đây nắng giăi mưa chiều
Ḥang hôn cảnh vật cô liêu t́nh người
Trải bao vật đổi sao dời
Khiến ta lại nhớ cái thời xa xưa
Bấy chầy Bắc gió Nam mưa
C̣n chăng xót lại bài thơ giang hồ
Chính Hà

Ngọc Hân Công Chúa

Vâng lệnh vua cha vẹn chữ ṭng
Kết duyên loan phượng với Quang Trung
Ngoảnh về non Tản mây mờ mịt
Trông xuống thành Xuân nước lạnh lùng
Mây nước đôi bề hồn khắc khoải
Hiếu t́nh đ̣i đoạn mộng mung lung
Đào tơ liễu yếu đời ly loạn
Dâng trọn ḷng son gứi nghĩa chồng
Chính Hà

Ngọc Hân (Bài Xướng)

Thiên hương, quốc sắc lại đa tài,
Sánh với anh hùng dễ mấy ai?
Công chúa nhà Lê thời mạt vận,
Nữ Hoàng triều Nguyễn* thuở hùng oai.
Truân chuyên, nào biết đời hoa thắm,
Phiêu bạt, đâu ngờ kiếp lá bay.
Danh tiếng một thời trang tiết liệt,
Sử xanh truyền tụng mấy ai hay!
Vương Sinh

* Nhà Nguyễn Tây Sơn

Ngọc Hân (Bài Họa)

Chữ mệnh thường hay đố chữ tài
Trở về nguồn cội khó trần ai !
Thế gia đau bởi bao ghen ghét
Vọng tộc buồn v́ lắm tác oai
Nguyễn Huệ hoàng bào nhàu nước chẩy
Ngọc Hân vương miện nhạt hương bay
Lần trong sử sách bao niên kỷ
Khói bụi mịt mờ ,thật mới hay!
Sơn Khê




Ai Tư Văn
Lê Ngọc Hân(1770-1799)

Gió hiu hắt pḥng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan, hoa héo ron ron.
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàu.
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao...
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !

Từ cờ thắm trỏ vời cơi Bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước;
Chữ "nghi gia" mừng được phải duyên.
Sang yêu muôn đội ơn trên,
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể.
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng non nước biến dời,
Nguồn t́nh ắt chẳng chút vơi đâu là.
Ḷng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường c̣n dấu chưng thường,
Tùng thu c̣n rậm mấy hàng xanh xanh.
Nhờ hồng phúc, đôi cành ḥe quế
Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong.

Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
Nguyền trăm năm ngơ được vầy vui.
Nào hay sông cạn, bể vùi,
Ḷng trời giáo giở, vận người biệt ly.
Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết,
Xót ḿnh rồng mỏi mệt chẳng yên.
Xiết bao kinh sợ, lo phiền,
Miếu thần đă đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu t́m rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?
Ngán thay, máy Tạo bất bằng,
Bóng mây thoắt đă ngất chừng xe loan.
Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đă mấy năm nay ?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đă vậy, thân này nương đâu ?
Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
Biết cậy ai dập nỗi bi thương ?
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say.
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời băng băng c̣n đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng.
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ơi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa !
Tưởng phong thể xót xa đ̣i đoạn,
Mặt rồng sao cách gián lâu nay,
Có ai chốn ấy về đây,
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành ?
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả,
Nghĩ đ̣i phen, nồng nă đ̣i phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
Nghe trước có đấng vương Thang, Vơ,
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕnh !
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,
Công đức dày, ngự vận càng lâu;
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.
Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cơi thọ sao hẹp bấy hóa công ?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bơ ḷng tôi ngươi.
Buồn thay nhẽ, sương rơi gió lọt,
Cảnh đ́u hiu, thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ, xuân về hoa ở,
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong,
Quyết liều mong vẹn chữ ṭng,
Trên rường nào ngại giữa ḍng nào e.
Con trứng nước thương v́ đôi chút,
Chữ t́nh thâm chưa thoát được đi,
Vậy nên nấn ná đ̣i khi,
H́nh tuy c̣n ở, phách th́ đă theo;
Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo,
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân,
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao !
Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyệt đồng sinh sao đă kíp phai ?
Xưa sao sớm hỏi khuya bày,
Nặng ḷng vàng đá, cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ,
T́nh cô đơn, ai kẻ xét đâu ?
Xưa sao gang tấc gần chầu,
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sính ca.
Giờ sao bỗng cách xa đôi cơi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh.
Nửa cung gẫy phím cầm lành,
Nỗi con côi cút, nỗi ḿnh bơ vơ !
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đ̣i lúc,
Tiếng tử quy thêm giục ḷng thương.
Năo người thay, cảnh tiên hương,
Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây,
Đông rồi th́ lại trông tây:
Thấy non cao ngất, thấy cây rườm rà.
Trông Nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thời ngàn bạc màu sương.
Nọ trông trời đất bốn phương,
Cơi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi.
Cậy ai có phép ǵ tới đó,
Dâng vật thường xin ngỏ ḷng trung,
Này gương là của Hán cung
Ơn trên xưa đă soi chung đ̣i ngày.
Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ,
Bụng ai hoài vội ghẽ v́ đâu ?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngơ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn c̣n dấu,
Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đang tuổi ấu xung
Di mưu sao nỡ quên ḷng đoái thương ?
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm
Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai,
U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay ḷng này.
Trong sáu viện ố đào, ủ liễu
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê
Long đong xa cách hương quê,
Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên.
Dưới bệ ngọc hàng uyên ṿ vơ
Cất chân tay thương khó xiết chi.
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ c̣n thế, huống ǵ người thân.
Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi ?
Càng trông càng một xa vời,
Tấc ḷng thảm thiết, chín trời biết chăng ?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,
Gương Hằng Nga đă bụi màu trong.
Nh́n gương càng thẹn tấm ḷng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,
Cánh hải đường đă quyện giọt sương.
Trông chim càng dễ đoạn trường
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng c̣n thấy chi đâu ?
Phút giây băi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế biết hầu nài sao ?
Chữ t́nh nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường c̣n sống c̣n đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.
Lê Ngọc Hân

Cảm đề : AI TƯ VĂN

Trong trời đất muôn loài biến đổi
Vận thịnh suy khó nỗi suy lường
Huống chi theo luật vô thường
Suy rồi lại thịnh, thịnh rồi lại suy

Trong cảnh sắc có ǵ c̣n măi ?
Nếu có c̣n chính tại nghĩa t́nh
Ḷng riêng ḿnh biết lấy ḿnh
C̣n chờ xem ở thế t́nh đổi thay

Cùng non nước hẹn ngày tái ngộ
Vận rủi ro ở chỗ đất trời
Ngh́n xưa những bậc anh tài
Nhiều khi do ở thế thời dấy lên

Đời ly loạn tôi hiền khó kiếm
Bậc tài danh chẳng tiện xuất thân
Múa may cùng lũ gian thần
Đua nhau bán nước buôn dân th́ nhiều

Đă bao thu tiêu điều cách trở
Cách trở rồi ,biết thuở nào đây !
Dời xa Hoàng tộc đến nay
Tấm thân Vương giả tháng ngày truân chuyên

Tṛ nhân thế lắm phiền nhiều năo
Đường lợi danh điên đảo ,đảo điên
Bên sông lơ lửng con thuyền
Ḷng son biết ngỏ nỗi niềm cùng ai ?

Buồn một nỗi canh dài đôi ngả
Mái đầu xanh đă hóa mầu tang
Lênh đênh trong kiếp dở dang
Gịng đời sóng gió bẽ bàng xảy ra

Trước cảnh huống xót xa như vậy
Với thế cô biết cậy cùng ai
Triều đ́nh t́nh ấy, thế này
Riêng ḿnh càng nghĩ càng cay thế t́nh

Máy tạo hoá thay h́nh rơ khéo
Duyên phận ôi ! co kéo bất ngờ
Lan kia đâu ở bụi bờ
Mùi hương vương giả đợi chờ về đâu ?

Đường trước mặt vực sâu chờ sẵn
Nước non này thôi hẳn c̣n ǵ
Cánh hoa nay đă trôi đi
Mối sầu thiên cổ c̣n ghi lời thề
Sơn Khê

Ngọc Hân Công Chúa

Thương cảm thay! Công Chúa Ngọc Hân
Nửa đường găy gánh, xót duyên phần
Anh hùng “thọ tứ tuần”* trôi mộng
Thục nữ “ai tư văn”* tủi thân
Hậu thế câu ngâm lời thống thiết
Nhân gian nước mắt giọt tần ngần
Bắc Cung Hoàng Hậu người tài sắc
Nào biết Tây Sơn mất Phú Xuân !
Trần Việt Bắc (7/15/2004)

* Ngọc Hân Công Chúa viết biểu chúc mừng vua Quang Trung thọ tứ tuần năm 1792 và bài “Ai Tư Văn” khóc nhà vua sau khi ông qua đời .

Bất Khuất

Miễu

"Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông đông tịnh lên Đoài đoài tan "
Khi nguy cũng tựa khi an
Khi nguy chẳng khuất mới gan anh hùng

Nói

Quang Trung thứ tử
Bảo Hưng xưa Hoàng Đế Khang Công
Trấn sông Thương gấp khúc anh hùng
Gươm ba thước chỉ trời vạch đất
Thán ! Ḷng trời chẳng cho thống nhất
Trai anh hùng há ngại lúc tử sinh
Trước ba con, sau hai vợ bên ḿnh
Đồng sinh tử giữ đồng bia tạc
Xem chẳng khác Hạng Vương thuở trước
Lúc sa cơ ai há hàng ai !
Làm trai cho đáng nên trai !
Chính Hà Nguyễn Gia Cần
10-04-1985


Nữ Tướng Bùi Thị Xuân (?-1802)

Bà là nữ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, quê tỉnh B́nh Định. Trong các chiến trận của nhà Tây Sơn, vợ chồng bà đều lập được nhiều chiến công oanh liệt.
Năm 1802 vua Gia Long thắng trận, bà bị hành h́nh bằng voi giày. Theo giáo sĩ La Bissache`re có mặt tại hiện trường, bà Bùi Thị Xuân rất can đảm, đă lấy vải quấn chặt người cho khỏi lộ liễu và đứng thẳng người trước mặt voi khiến voi phải sợ hăi lùi lại.
Bà Bùi Thị Xuân đă đóng góp công lao với nhà Tây Sơn, thường giúp chồng trong cuộc chiến đấu, huấn luyện voi trận và một ḷng trung kiên với vua với nước. Trong các cuộc chinh chiến, nhờ nhà Tây Sơn mà dứt được họ Trịnh ở miền Bắc và dẹp tan các cuộc xâm lăng của Xiêm La và Măn Thanh, nên quân Tây Sơn chiếm được nhiều cảm t́nh của dân chúng Việt Nam. Bà Bùi Thị Xuân v́ thế cũng được tiếng thơm chung.




Bùi Thị Xuân

Triều vua Cảnh Thịnh lúc suy đồi
Để lại uy danh của một người
Trợ chúa Tây Sơn xây lại thế
Giúp chồng Quang Diệu dựng nên thời
Lê Chân so trí đâu hơn được
Triệu Thị sánh tài chẳng vượt rồi
Quốc vận vào thời đầy biến đổi
Tiếng thơm bà để măi muôn đời
Chính Hà

Vịnh Bà Bùi Thị Xuân

Pháp trường nữ tướng trổ thần oai!
Kim cổ anh hùng dễ mấy ai?
Quắc mắt, ngựa run quỳ bốn vó,
Cau mầy , voi sợ cúp hai tai.
Theo chồng tận tụy nơi binh lửa
Pḥ chúa trung kiên chốn vũ đài *
Vải trắng quấn ḿnh trang tiết liệt
Danh thơm c̣n măi chẳng hề phai!
Vương Sinh

* Chốn vũ đài: Trường chính trị, chính trường. Trái với nơi binh lửa là chỗ đánh nhau, chiến trường.

Nguyễn Bá Huân(1853-1915)

Quê quán Vân Sơn, An Nhơn, B́nh Định
Nghĩa sĩ phong trào cần vương của Mai Xuân Thưởng

Vịnh Bùi Phu Nhân Thị Xuân

Cân quắc do hư báo quốc cừu
Khả liên di hận phó đông lưu
Dạ lan mỗi độc Tây Sơn sử
Phảng phất dung nhan hiện án đầu
Nguyễn Bá Huân

Vịnh Bà Bùi Thị Xuân

Yếm khăn lo báo thù non sông
Mối hận đáng thương gửi biển đông
Lịch sử Tây Sơn từng tối đọc
Thấy dung nhan phảng phất thư pḥng
Hà Giao dịch

Vịnh Bà Bùi Thị Xuân

Trọn nghĩa vua tôi trọn đạo đồng
Hận ḷng thôi trả lại non sông
Yếm khăn buộc chặt cho tṛn tiết
Cười bấy Gia Long thẹn má hồng
Chu Hà cảm tảc

Vịnh Bà Bùi Thị Xuân

Vận nước đang xoay chuyển,
Quần thoa cũng vẫy vùng.
Liều thân lo cứu chúa,
Công trận quyết thay chồng.
Khảng khái khi lâm nạn!
Kiên trinh lúc khốn cùng.
Ngàn thu gương nữ kiệt,
Gương sáng hăy soi chung.
Khuyết Danh .

Lưu Thủy Bắc Oán Ai

Gương Anh Thư

Soạn lời ca : Hồng Quang (Tí Trễ)

I

Hơi Bắc

Nữ: 1- (------) Nhi nữ anh hùng (ḥ)
Lúc nước non lâm cảnh khốn cùng (ḥ)
2- Nguyện phất ngọn cờ hồng (ḥ).-----
Thay lược trâm bằng vỏ nghệ kiếm cung (xg)
3- (------) Bùi Thị Xuân (xg)
Chẳng hổ danh cháu Lạc con Hồng (ḥ)
4- Đă lập nên những chiến tích lẫy lừng (ḥ).-----
Dưới bóng cờ quân nghĩa dũng Tây Sơn (xg)
5- Nhưng thanh b́nh chẳng được bao lâu (xê)
Khi vua Quang Trung băng hà đột ngột (xự)
6- Quang Toản c̣n ngây thơ khờ dại (xự).-----
Đă tạo thời cho Nguyễn Ánh khởi binh (xg)
Nam: 7- Sau những trận chiến đất lỡ trời long (xê)
Nhưng há núng nao trang nữ kiệt (xự)
8- Trước đối phương hùng cường binh lực (xự).-----
Thân dũng tướng sa trường da ngực bọc (cộng)

II


9- (------) Đến khi (u)
Thế binh đă cùng lực đă tận (cộng)
10- Trước mặt quân thù cuồng ngạo (cô,ng).-----
Bà mĩm cười cùng phu quân Quang Diệu (xự)
Nữ: 11- (------) Một tấm ḷng (xừ)
Thiếp nguyện có trời đất chứng tri (xê)
12- V́ dân v́ nước đục pháo xông tên (xê).-----
Làm rạng rỡ giống ṇi anh dũng Rồng Tiên (liu)
13- (------) Nhưng với phu quân (u)
Thiếp nghĩ đă không tṛn bổn phận (cộng)
14- Hẹn kiếp lai sinh tương hội (cộng).-----
Chớ thiếp chẳng cúi đầu trước bả vinh hoa (u)
Nam : 15- (------) Phu nhân ơi (u)
Là anh hùng ta thị tử như quy (u)
16- Phu nhân, phu nhân c̣n nói chi (u).-----
Lời nhi nữ thường t́nh cho nhục chí nam nhi (liu)

III

Chuyển hơi xề Xàng Xê : 17- (------) Hôm nay (u)
Dù vợ chồng ta có vùi thây nơi chiến địa (cộng)
18- Cũng đă tṛn ơn nước nợ dân (u)
Chỉ giận ai kia cỏng rắn về nhà (xề)
Nữ : Chuyển hơi Oán : 19- (------) (------)
(------) Thiếp nghe (liu)
Bao (liu).----- lời sắc son (liu)
Như b́nh minh (xê) ửng nắng mai hồng (ḥ)
20- Xoá tan (xg) đêm tối (xể).-----
Cô tịch lạnh lùng (ḥ) (------)
Nhưng hồi (xư) chiêng lạnh (xự)
Đă báo (xể) giờ biệt ly (xg)
21- (------) Bùi Thị Xuân (xg)
Đứng giữa trời (ḥ) đầu vẫn ngẩng cao (xê)
Nh́n non sông (liu) gấm vóc Tiên Long (xê)
Mà không (xê) hề hổ thẹn (xự)
22- Chỉ tiếc cho (xg) chí cao (xê).-----
nửa đường đứt đoan (xự) (------)
Và nước nhà (xề) cam cảnh (ú)
chiến hoạ ngoại xâm (liu) (------)
Nam : 23- (------) (------)
(------) Đất trời (ḥ)
Bi ai (xư) nhỏ lệ (xự).-----
Tiếc thương (xê).----- nhi nữ hùng anh (xg)
24- Nêu gương (xg) anh thư (xể).-----
Ngời sáng sử xanh (xg) (------)
Đành cam (xg) chịu hy sinh (xê)
Giữa pháp trường (ḥ) (------)

IV

Trở về hơi Bắc : 25- (------) Sau khi (u)
Giết Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu (cộng)
26- Diệt xong vua Cảnh Thịnh (cộng).-----
Nguyễn Ánh lên ngai vàng xưng hiệu là Gia Long (xg)
27- (------) Nhưng về sau (xg)
V́ giáo gươm không chống nổi súng đồng (ḥ)
28- Vua Tự Đức nhu nhược cầu hoà (ḥ).-----
Chuyển hơi Ai : Nên nước nhà bị đô hộ giặc Tây (xg)
29- Ḍng lịch sử c̣n ghi (xê)
Ai kẻ có công ai người có tội (xự)
30- Trước sau phân minh rành mạch (xự).-----
Để lưu truyền hậu thế xét suy (xê)
31- Người anh kiệt dù đă thác (cống)
Vẫn ngàn năm lăng miếu tôn thờ (xàng)
32- Kẻ vô luân dẫu không c̣n (xề).-----
Nhưng măi bia truyền tiếng xấu vạn niên (liu).
Hồng Quang