Nước Việt Nam
Dân Tộc Việt - Tên Nước



Nước Việt Nam

Nước Việt Nam h́nh cong chữ S, bề dài 1,650 Km (khoảng 1,025 miles) và diện tich khoảng 329.600 km2 (127,226 Sq. miles).
Phía Bắc giáp nước Trung Hoa, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển Đông.

Dân Tộc Việt

Theo truyền thuyết, dân tộc Việt thuộc ḍng giống Lạc Việt là bộ tộc hùng mạnh nhất trong nhóm Bách Việt, khởi đầu lập quốc năm 2879 trước Tây Lịch tại vùng đất Lĩnh Nam, tức đất Hồ Quảng (bao gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây), Bắc Việt và một phần phía bắc Trung Việt Nam ngày nay do Kinh Dương Vương làm thủ lănh.

Dân tộc Việt gồm đa số là người Kinh (87%), thống nhất về chủng tộc, tiếng nói, phong tục, tập quán... và 53 sắc tộc thiểu số (13%), dựa theo ngôn ngữ chia thành 8 nhóm (*): 1- Việt - Mường (gồm Việt - Mường, Chút...); 2- Tày – Thái (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố Y, Cao Lan, Sán Chỉ, Lào...); 3- H’mông – Dao (gồm H’mông, Dao, Pà Thẻn); 4- Tạng - Miến (gồm Hà Nh́, Lô Lô, Xá...); 5- Hán (gồm Hoa, Sán D́u...); 6- Môn - Khờ me (Khơmú, Kháng, Xinh Mun, Hơrê, Xơ đăng, Bana, K’ho, Mạ, Rơmăm, Khơme...). 7- Mă Lai – Đa đảo (gồm Chăm, Giơrai, Êđê, Raglai...); 8- Hỗn hợp Nam Á (gồm La chỉ, Laha, pu péo...)

Dân số Việt Nam theo kiểm kê năm 1999, có trên 76 triệu người.

* Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, Sách đă dẫn, trang 8, 9.

Tên Nước

Thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân (2879 – ?) gọi là Xích Quỷ (1).
Thời Hùng Vương (? – 258) là Văn Lang (2),
Thời Thục An Dương Vương (257 – 207) là Âu Lạc.

Thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt (214 trước Tây Lịch), chia đất Lĩnh Nam thành 3 quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc Việt) (3).

Thời Tần Hán, Triệu Đà đánh chiếm Tượng Quận (Âu Lạc), sát nhập Âu Lạc với quận Nam Hải, lập ra nước Nam Việt (207-111) độc lập với nhà Hán. (3)
Thời Bắc thuộc, nhà Hán xâm lăng, đánh lấy Nam Việt, rồi cải là Giao Chỉ Bộ, chia ra 9 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố (Quảng Đông), Giao Chỉ , Cửu Chân, Nhật Nam (Bắc Việt và mấy tỉnh phía bắc Trung Việt), Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) (4)

Thời Hai Bà Trưng (40-43) đất đai gồm thâu 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, và Nhật Nam. Không rơ quốc hiệu. Người Hán vẫn gọi là Giao Chỉ. “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” gọi lănh thổ mới dưới thời Hai Bà Trưng là Lĩnh Nam (“Lĩnh Nam riêng một triều đ́nh nước ta” – và ghi chú: Lĩnh Nam ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh, tức phía Bắc tỉnh Quảng Tây). Lê Tắc (An Nam Chí Lược) cũng viết: “...đất Lĩnh Nam đều được b́nh định”.

Cuối thời Đông Hán (203) Thứ sử Trương Tân và Thái Thú Sĩ Nhiếp xin cải Giao Chỉ thành Giao Châu.

Thời Đông Ngô chia đất Giao Châu thành Quảng Châu (từ Hợp Phố về Bắc), và Giao Châu (từ Hợp Phố về Nam). (Sau Ngô chủ lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và giao cho Lữ Đại làm Giao Châu mục). Năm 264, nhà Ngô lại chia thành Quảng Châu (gồm Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, châu trị ở Phiên Ngung) và Giao Châu (gồm Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, châu trị ở Long Biên) (5).

Thời Lư Bôn (544) nhà Tiền Lư gọi tên nước là Vạn Xuân. Thời nhà Tùy (589-617) lại gọi là Giao Châu. (6)

Thời nhà Đường (618-907) lập An Nam đô hộ phủ (7). Sau khi Cao Biền đánh tan quân Nam Chiếu (866), vua Đường lại đổi An Nam thành Tĩnh Hải (Cao Biền làm Tiết Độ Sứ Tĩnh Hải.).

Thời độc lập, vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Nhà Lư (Lư Thánh Tông) đổi là Đại Việt (1054) (8). Thời nhà Hồ đổi là Đại Ngu (1400) (9). Lê Thái Tổ Thời nhà Lê lấy lại quốc hiệu là Đại Việt (1428), nhà Nguyễn, vua Gia Long đặt quốc hiệu là Việt Nam (1804). Vua Minh Mệnh đổi thành Đại Nam (1838). Các phong trào chống Pháp và dân chúng đều gọi tên nước là Việt Nam (1945).

Ghi chú

(1) Người Hán thấy nhóm dân Lạc Việt có tập tục vẽ ḿnh nên gọi như thế chăng(?) Đất Xích Quỉ theo truyền thuyết rất rộng lớn, phía bắc giáp Động Đ́nh Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
(2) Lănh thổ Xích Quỷ chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Riêng đất Văn Lang được chia ra làm 15 bộ: 1- Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên); 2- Châu Diên (Sơn Tây); 3- Phúc Lộc (Sơn Tây); 4- Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang); 5- Vũ Định (Thái Nguyên – Cao Bằng); 6- Vũ Ninh (Bắc Ninh); 7- Lục Hải (Lạng Sơn); 8- Ninh Hải (Quảng Yên); 9- Dương Tuyền (Hải Dương); 10- Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh B́nh); 11- Cửu Chân (Thanh Hóa); 12- Hoài Hoan (Nghệ An); 13- Cửu Đức (Hà Tĩnh); 14- Việt Thường (Quảng B́nh, Quảng Trị); B́nh Văn (?) (Trần Trọng Kim, sách đă dẫn trang 12)
(3) Chính sử như “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” của Lê Văn Hưu & Ngô Sỹ Liên hoặc “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim đều coi nhà Triệu là một nhà chính thống, và Nam Việt là tên nước Việt thời nhà Triệu.
(4) Sau này nhà Đông Ngô hợp bốn quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thành Giao Châu. Kể từ đây, vùng đất Xích Quỷ (đất Lĩnh Nam Bách Việt) của Kinh Dương Vương coi như bị người Hán đồng hóa gần hết. Chỉ c̣n sót lại các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc về Bắc Việt và phía nam Trung Việt ngày nay. Riêng Quận Hợp Phố thuộc về tỉnh Quảng Đông gần với Bắc Việt đă được Hai Bà Trưng giành lại trong cuộc khởi nghĩa năm 40 và được sát nhập vào nước Nam độc lập thời Hai Bà Trưng (40-43).
(5) Theo Trần Trọng Kim, “đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đấy”.
(6) Từ đây, sử không nhắc tới phần đất Quảng Châu nữa, coi như vùng đất này đă hoàn toàn bị đồng hóa và thuộc về người Trung Hoa.
(7) Nhà Đường chia nhiều tỉnh bên Tàu thành Đô Hộ phủ. Vậy “Đô Hộ” là một chức quan.Theo Trần Trọng Kim, nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
(8) Từ nhà Đinh, nước Nam độc lập có tên riêng là Đại Cồ Việt, rồi Đại Việt, nhưng Tàu vẫn phong cho vua ta là Giao Chỉ quận vương. Năm 1164 vua Tống đổi Giao Chỉ quận thành An Nam quốc và phong cho Lư Anh Tông làm An Nam quốc vương (Trần Trọng Kim, sách đă dẫn, trang 111)
(9) Hồ Quư Ly ḍng dơi nhà Ngu bên Tàu, nên đặt tên nước là Đại Ngu để nhớ về nguồn gốc, ḍng tộc. Chữ Ngu tiếng Hán có nghĩa là “an vui”.



Tóm Lược Thế Thứ Các Triều Đại
Việt Nam


Triều Đại Hồng Bàng và nước Văn Lang
(2879-258 trước Tây Lịch)

Theo Hùng Triều Ngọc Phả*, họ Hồng Bàng truyền được 18 đời, gồm có:

· 1- Hùng Dương tức Kinh Dương Vương (2879-?): Tên là Lộc Tục, Cha: Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông. Mẹ: Một nàng Tiên. Đây là đời Hùng Vương Thứ Nhất, vua Hùng dạy dân Lạc Việt vẽ, xâm ḿnh để giao long dưới nước tưởng là đồng loại, khỏi làm hại.
· 2- Hùng Hiền tức Lạc Long Quân: Tên là Sùng Lăm. lấy bà Âu Cơ sinh được 100 người con. Người con Trưởng nối ngôi , cha truyền con nối gọi là phụ đạo. (Hùng Vương Thứ Hai)
· 3- Hùng Lân. (Hùng Vương Thứ Ba)
· 4- Hùng Việp. (Hùng Vương Thứ Tư)
· 5- Hùng Hy. (Hùng Vương Thứ Năm)
· 6- Hùng Huy. (Hùng Vương Thứ Sáu): Phù Đổng Thiên Vương dẹp yên giặc Ân. Hoàng tử thứ chín là Lang Liệu sáng chế ra cách làm bánh chưng bánh dày để cúng Tổ Tiên và được truyền ngôi.
· 7- Hùng Chiêu. (Hùng Vương Thứ Bẩy)
· 8- Hùng Vỹ. (Hùng Vương thứ Tám)
· 9- Hùng Định. (Hùng Vương Thứ Chín)
· 10- Hùng Hy. (Hùng Vương Thứ Mười) (chữ Hán viết khác nhau, đọc âm giống nhau).
· 11- Hùng Trinh. (Hùng Vương Thứ Mười Một)
· 12- Hùng Vơ. (Hùng Vương Thứ Mười Hai)
· 13- Hùng Việt. (Hùng Vương Thứ Mười Ba)
· 14- Hùng Anh. (Hùng Vương Thứ Mười Bốn)
· 15- Hùng Triều. (Hùng Vương Thứ Mười Lăm)
· 16- Hùng Tạo. (Hùng Vương Thứ Mười Sáu)
· 17- Hùng Nghị. (Hùng Vương Thứ Mười Bẩy)
· 18- Hùng Duệ. (Hùng Vương Thứ Mười Tám) (?-258)
(Chuyện Sơn tinh, Thủy tinh lưu truyền từ đởi nầy).

· Nguyễn Khắc Thuần, sách đă dẫn trang 14.


Triều Đại Nhà Thục và Nước Âu Lạc
(257-207 trước Tây Lịch)

- An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Chuyện t́nh Mỵ Châu Trọng Thủy.
- An Dương Vương làm vua 50 năm.

Triều Đại Nhà Triệu và Nước Nam Việt
(207-111 trước Tây Lịch)

- Nhà Triệu truyền được 5 đời vua, kéo dài 96 năm.

· Triệu Vũ Vương (207-137 trước Tây Lịch): Triệu Đà, nguyên là tướng nhà Tần, nổi dậy giết các tướng lại nhà Tần và chiếm cứ đất đai của nhà Tần ở vùng Lĩnh Nam như quận Nam Hải (Quảng Đông), và Tượng Quận (Bắc Việt và một phần Trung Việt ngày nay) để lập ra nước Nam Việt độc lập với nhà Hán.
· Triệu Văn Vương (137-125 trước Tây Lịch): Cháu đích tôn của Triệu Vũ Vương tên là Hồ, con Trọng Thủy và Mỵ Châu nối ngôi, làm vua được 12 năm.
· Triệu Minh Vương (125-113 trước Tây Lịch): Anh Tề con Triệu Văn Vương phải sang nhà Hán ở 10 năm làm con tin, lấy vợ Tàu là Cù Thị, về nối ngôi, trị v́ được 12 năm, lập Cù Thị làm Hoàng Hậu, con là Hưng làm Thái Tử.
· Triệu Ai Vương (113-112 trước Tây Lịch): Theo mẹ mưu toan dâng nước Nam Việt cho nhà Hán, bị tướng Lữ Gia giết chết, làm vua được 1 năm.
· Triệu Dương Vương (112-111 trước Tây Lịch): Mẹ là người Nam Việt, làm vua được 1 năm.

Triều Đại Trưng Nữ Vương
(40-43)

- Đánh đuổi thái thú Tô Định và quân Đông Hán, giải phóng 4 quận và 65 thành tŕ khỏi chế độ nô lệ nhà Hán.
- Mở đường độc lập quốc gia, tấm gương đấu tranh sáng ngời của phụ nữ Việt.

Bà Triệu Khởi Nghĩa (248)

- Bà Triệu Thị Trinh Khởi nghĩa tại quận Cửu Chân (Thanh Hóa), chống quân Đông Ngô, tiếp nối phong trào dành độc lập thời Hai Bà Trưng.

Triều Đại Nhà Tiền Lư và
nước Vạn Xuân (544-602)


· Lư Nam Đế (544-548)* – Tên là Lư Bôn hoặc Lư Bí, ḍng dơi người Tàu (7 đời, thành người bản xứ), tự xưng là Nam Việt Đế.
· Triệu Việt Vương (549-571): - Nổi tiếng là Dạ Trạch Vương.
· Hậu Lư Nam Đế (571-602): Tên là Lư Phật Tử.

- Nhà Tiền Lư giữ được nền tự chủ 58 năm, với 3 đời vua.
* Lư Bôn nổi dậy năm 541, chiếm thành Long Biên và đánh đuổi Thứ sử Giao Châu của nhà Lương, một người rất tàn bạo, tên là Tiêu Tư. Năm 544 Lư Bôn mới xưng Đế. (Trần Trọng Kim, sách đă dẫn trang 51 & 53).

Lư Tự Tiên và Đinh Kiến Khởi Nghĩa (687)

- Lư Tự Tiên nổi dậy chống lại sự đô hộ tàn ác của nhà Đường ( 618-907). Lư Tự Tiên bị giết chết, Đinh Kiến lên thay, giết viên đô hộ Lưu Diên Hựu, chiếm thành Tống B́nh (Hà Nội).

Triều Đ́nh Mai Hắc Đế (722)

- Mai Thúc Loan nổi dậy, chiếm vùng đất Hoan châu (Nghệ An), xưng Đế hiệu, xây thành đắp lũy, lập chính quyền riêng chống nhau với quân nhà Đường. (V́ nhà vua có nước da đen nên tục gọi là Mai Hắc Đế).
- Dân Việt nhớ ơn ông lập đền thờ và đề thơ ca tụng:
“Hùng cứ Hoan Châu đất một vùng
Vạn An thành lũy khói hương xông
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức
Trăm trận Lư Đường* phục vơ công
...
Đường đi cống vải từ đây dứt
Dân nước đời đời hưởng phúc chung”.
* (Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng – sách đă dẫn trang 55)


Phùng Hưng Khởi Nghĩa
(791)

- Năm 791, An Nam đô hộ phủ là Cao Chính B́nh bắt dân đóng thuế quá nặng. Phùng Hưng người đất Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Tây), dấy binh vây thành Tống B́nh (Hà Nội). Cao Chính B́nh lo sợ quá, ốm chết. Được mấy tháng, Phùng Hưng mất, dân chúng thương tiếc tôn là Bố Cái Đại Vương và lập đền thờ. Con là Phùng An lên nối nghiệp, nhưng sau đó phải đầu hàng nhà Đường.



Thời kỳ giành Độc Lập
Họ Khúc Dấy Nghiệp


· Khúc Thừa Dụ (906-907): Năm 906, Khúc Thừa Dụ được vua Đường (sắp mất ngôi) phong cho làm Tĩnh Hải Tiết Độ sứ, gia phong Đồng B́nh Chương Sự cai trị Tĩnh Hải (Giao Châu).
· Khúc Hạo (907-917): Lập ra Lộ, Phủ, Châu, mỗi nơi đặt quan cai trị. Sửa sang việc thuế má, sưu dịch.
· Khúc Thừa Mỹ (917-923)*: Nhận chức của nhà Lương nên bị vua Nam Hán là Lưu Cung sai các tướng Lư Khắc Chính và Lư Tiến mang quân đánh.
· Dương Diên Nghệ (931-937): C̣n gọi là Dương Đ́nh Nghệ, người tỉnh Thanh Hóa là tướng của Khúc Hạo. Năm 931 nổi lên đánh đuổi Lư Khắc Chính và Lư Tiến đi rồi tự xưng là Tiết Độ Sứ.

* Theo Trần Trọng Kim sách đă dẫn trang 67, vua Nam Hán sai Lư Khắc Chính sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ vào năm 923, rồi sai Lư Tiến sang làm Thứ Sử cùng với Lư Khắc Chính giữ Giao Châu.

Triều Đại Nhà Ngô(939-965)

· Tiền Ngô Vương (939- 944): - Ngô Quyền sinh 898, xưng vương 939, cầm quyền 6 năm kể từ chiến thắng trận Bạch Đằng (938), mất năm 944, thọ 46 tuổi.
· Dương Tam Kha (945-950): Là em Dương Hậu, được Ngô Quyền ủy thác phù tá Ngô Xương Ngập, nhưng cướp quyền của cháu.

· Hậu Ngô Vương (950-965): Gồm Ngô Xương Văn tức Nam Tấn Vương và Ngô Xương Ngập tức Thiên Sách Vương.

- Nhà Ngô làm vua trong 26 năm, với 4 ông vua (kể cả Dương Tam Kha).
- Loạn 12 Sứ Quân (945-967) bắt đầu từ năm 945 Dương Tam Kha cướp quyền. 12 Sứ quân là: 1- Ngô Xương Xí, giữ B́nh Kiều (Hưng Yên). 2- Đỗ Cảnh Thạc, giữ Đỗ Động Giang (Huyện Thanh Oai, Hà Tây). 3- Trần Lăm (Trần Minh Công), giữ Bố Hải Khẩu (Thái B́nh). 4- Kiểu Công Hăn (Kiểu Tam Chế), giữ Phong Châu (Huyện Bạch Hạc, Phú Thọ). 5- Nguyễn Khoan (Nguyễn Thái B́nh) giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). 6- Ngô Nhật Khánh (Ngô Lăm Công), giữ Đường Lâm (Sơn Tây). 7- Lư Khuê (Lư Lang Công), giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh). 8- Nguyễn Thủ Tiệp (Nguyễn Lịnh công), giữ Tiên Du (Bắc Ninh). 9- Lữ Đường (Lữ Tá công), giữ Tế giang (Bắc Ninh). 10- Nguyễn Siêu (Nguyễn Hữu Công), giữ Tây Phù Liệt (Hà Đông). 11- Kiểu Thuận (Kiểu Lịnh Công), giữ Hồi Hổ (Sơn Tây). 12- Phạm Bạch Hổ (Phạm Pḥng Át), giữ Đằng Châu (Hưng Yên).

Triều Đại Nhà Đinh
(968-980)

· Đinh Tiên Hoàng (968-979): Đinh Bộ Lĩnh sinh 924, lên ngôi 968, làm vua 12 năm, bị ám sát tháng 10 năm Kỷ Măo (979), thọ 55 tuổi.
· Đinh Phế Đế (980): Đinh Tuệ (Đinh Toàn), sinh 971, lên ngôi 980, làm vua 8 tháng, bị giáng làm vệ vương, tử trận năm 991, thọ 17 tuổi.

Triều Đại Nhà Tiền Lê
(980-1009)

· Lê Đại Hành (980-1005): Lê Hoàn sinh 941, triều đ́nh cử lên ngôi 980, làm vua 25 năm, mất tháng 3 Ất Tỵ (1005), thọ 64 tuổi.
· Lê Trung Tông (1005): Lê Long Việt sinh 983, lên ngôi 3 ngày, bị giết thọ 22 tuổi.
· Lê Ngọa Triều (1005-1009): Lê Long Đĩnh, sinh 986, giết anh giành ngôi 1005, làm vua 4 năm, mất 1009, thọ 23 tuổi.

Triều Đại Nhà Lư(1010-1225)

- Tổng cộng 9 đời vua trong 215 năm (Theo âm lịch là 216 năm)

· Lư Thái Tổ (1010-1028):
Lư Công Uẩn sinh 974, tôn lên ngôi và đặt niên hiệu Thuận Thiên 1010, làm vua 18 năm, mất 3 tháng 3 năm Mậu Th́n (1028), thọ 54 tuổi
· Lư Thái Tông (1028-1054): Lư Phật Mă sinh 1000. Vua Thái Tổ vừa mất, các hoàng tử tranh ngôi, phải nhờ tướng Lê Phụng Hiểu dẹp loạn. Lên ngôi 1028, làm vua 26 năm, mất 01 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), thọ 54 tuổi.
· Lư Thánh Tông (1054-1072): Lư Nhật Tôn sinh 25 tháng 2 Quư Hợi (1023), lên ngôi 1054, làm vua 18 năm, mất tháng 1 năm Nhâm Tư (1072), thọ 49 tuổi.
· Lư Nhân Tông (1072-1127): Lư Càn Đức sinh 1066 (là con bà Linh Nhân Thái Hậu tức Ỷ Lan Thái Phi, lên ngôi 1072, (7 tuổi, được Thái sư Lư Đạo Thành làm phụ chính), lên ngôi 1072, làm vua 55 năm, mất 1127, thọ 61 tuổi.
· Lư Thần Tông (1128-1138): Lư Dương Hoan (Con hoàng đệ) sinh 1116, lên ngố 1127, làm vua 10 năm, mất 1138, thọ 22 tuôi
· Lư Anh Tông (1138-1175): Lư Thiên Tộ sinh 1136, lên ngôi 1138, làm vua 37 năm, mất 1175, thọ 39 tuổi.
· Lư Cao Tông (1176-1210): Lư Long Cán (Lư Long Trát) sinh 1173, lên ngôi 1175, làm vua 34 năm, mất 1210, thọ 37 tuổi.
· Lư Huệ Tông (1211-1225): Lư Hạo Sảm sinh 1194, lên ngôi 1210, làm vua 14 năm, bị Trần Thủ Độ bức tử 1226, thọ 32 tuổi,
· Lư Chiêu Hoàng (1224-1225): Lư Phật Kim sinh tháng 9 Mậu Dần (1218), (Chiêu Thánh công chúa), lên ngôi 1224 được 1 năm, nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Đến 19 tuổi, chưa có con, bị phế thành công chúa và đến 40 tuổi gả cho Lê Phụ Trần, sinh được một trai, 1 gái. Mất năm 1278, thọ 60 tuổi.

Triều Đại Nhà Trần(1225-1400)

Tổng cộng 13 đời vua (kể cả Dương Nhật Lễ), trong 175 năm.

· Trần Thái Tông (1225-1258): Trần Cảnh sinh 1218, lên ngôi 1225, làm vua 33 năm, nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng 19 năm), mất 1277, thọ 59 tuổi.
· Trần Thánh Tông (1258-1278): Trần Hoảng sinh 1240, lên ngôi 1258, làm vua 20 năm, làm Thái Thượng Hoàng 12 năm, mất 1290, thọ 50 tuổi.
· Trần Nhân Tông (1278-1293): Trần Khâm sinh 1258, lên ngôi 1278, trị v́ 15 năm, nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng 6 năm, đi tu trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mất năm 1308, thọ 50 tuổi.
· Trần Anh Tông (1293- 1314): Trần Thuyên sinh 1276, lên ngôi 1293, làm vua 21 năm, nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng 6 năm, mất 1320, thọ 44 tuổi.
· Trần Minh Tông (1314-1329): Trần Mạnh sinh 1300, lên ngôi 1314, làm vua 15 năm, làm Thái Thượng Hoàng 28 năm, mất 1357, thọ 57 tuổi.
· Trần Hiến Tông (1329-1341): Trần Vượng sinh 1319, lên ngôi 1329, làm vua 12 năm, mất 1341 (chưa kịp nhường ngôi), thọ 22 tuổi.
· Trần Dụ Tông (1341-1369): Trần Hạo sinh 1336, lên ngôi 1341, làm vua 28 năm, mất 1369 (chưa làm Thượng Hoàng), thọ 33 tuổi.
· Dương Nhật Lễ (1369-1370): Con nuôi Cung Túc Vương. Dụ Tông mất, bà Thái Hậu Hiến Từ Tuyên Thánh nắm quyền, đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nhật Lễ giết Bà Thái Hậu Hiến Từ và Cung Định Vương, toan tính dứt nhà Trần, đổi sang họ Dương, nhưng bị Triều thần bắt giết.
· Trần Nghệ Tông (1370-1372): Trần Phủ sinh 1321, lên ngôi 1370, làm vua 2 năm, làm Thái Thượng Hoàng 22 năm, mất 1394, thọ 73 tuổi.
· Trần Duệ Tông (1372-1377): Trần Kính sinh 1337, lên ngôi 1372, làm vua 5 năm, tử trận (đánh Chiêm Thành) 1377, thọ 40 tuổi.
· Trần Phế Đế (1377-1388): Trần Hiện sinh 1361, lên ngôi 1377, làm vua 11 năm, bị Thượng Hoàng Nghệ Tông bức hại chết năm 1388, thọ 27 tuổi.
· Trần Thuận Tông (1388-1398): Trần Ngung sinh 1378, lên ngôi 1388, làm vua 10 năm, đi tu 1 năm, bị Hồ Quí Ly giết chết năm 1399, thọ 21 tuổi.
· Trần Thiếu Đế (1398-1400): Trần An, sinh 1396, lên ngôi 1398, làm vua 2 năm, đến 1400 bị Hồ Quí Ly cướp ngôi.

Triều Đại Nhà Hồ
(1400-1407)

· Hồ Quư Ly (1400): Làm vua 1 năm, truyền ngôi cho con là Hồ Hán Thương lên làm Thượng Hoàng.
· Hồ Hán Thương (1401-1407)



Chính Quyền Kháng Minh Nhà Hậu Trần (1407-1413)

· Giản Định Đế (1407-1409):Trần Ngỗi (Trần Quỹ) không rơ năm sinh, lên ngôi 1407, làm vua 2 năm, kháng chiến chống Minh bị bắt và bị hại 1409.
· Trùng Quang Đế (1409- 1413): Trần Quí Khoách (Khoáng), lên ngôi 1409, kháng chiến chống Minh bị bắt, tự vẫn.

Triều Đại Nhà Lê(1428-1788)

Tổng cộng 27 đời vua trong 360 năm.

· Lê Thái Tổ (1428-1433): B́nh Định Vương Lê Lợi sinh 1385, lên ngôi 1428, làm vua 6 năm, mất 22 tháng 8 năm Quí Sửu (1433), thọ 48.
· Lê Thái Tông (1433-1442): Lê Nguyên Long sinh 1423, lên ngôi 1433, làm vua 9 năm, mất 4 tháng 8 Nhâm Tuất (1442), thọ 19 tuổi.
· Lê Nhân Tông (1442-1459): Lê Bang Cơ sinh 1441, lên ngố 1442, làm vua 17 năm, bị anh (Lê Nghi Dân) giết 1459, thọ 18 tuổi.
· Lê Nghi Dân (1459-1460): Giết vua Lê Nhân Tông lên làm vua 8 tháng, bị triều thần giết 1460, thọ 21 tuổi.
· Lê Thánh Tông (1460-1497): Lê Tư Thành sinh 1442, lên ngôi 1460, làm vua 37 năm, mất 30 tháng 1 năm Đinh Tị (1497), thọ 55 tuổi. Niên hiệu Hồng Đức (1470-1497).
· Lê Hiến Tông (1497-1504): Lê Tranh, sinh 1461, lên ngôi 1497, làm vua 7 năm, mất 1504, thọ 43 tuổi.
· Lê Túc Tông (1504): Lê Thuần sinh 1488, lên ngôi 1504, làm vua 6 tháng, mất 1504, thọ 16 tuổi.
· Lê Uy Mục (1505-1509): Lê Tuấn (Lê Huyên) sinh 1488, lên ngôi 1504. làm vua 5 năm, bị giết 1509, thọ 21 tuổi.
· Lê Tương Dực (1510-1516): Lê Oanh (Lê Trừ) sinh 1493, lên ngôi 1509, làm vua 6 năm, bị giết 1516, thọ 23 tuổi.
· Lê Chiêu Tông (1516-1522): Lê Y (Lê Huệ), sinh 1506, làm vua 6 năm, bị giết 1530, thọ 24 tuổi.
· Lê Cung Hoàng (1522-1527): Lê Xuân (Lê Khánh) sinh 1507, lên ngôi 1522, làm vua 5 năm, bị Mạc Đăng Dung giết cướp ngôi vào năm 1527, thọ 20 tuổi.

Thời kỳ Nam Triều Bắc Triều

· Lê Trang Tông (1533-1548): Lê Ninh (Lê Huyến), lên ngôi 1533, làm vua 15 năm, mất 1548, thọ 33 tuổi.
· Lê Trung Tông (1548-1556): Lê Huyên, lên ngôi 1548, làm vua 8 năm, mất năm 1556, thọ 22 tuổi (?)
· Lê Anh Tông (1556-1573): Lê Duy Bang sinh 1532, lên ngôi 1556, làm vua 17 năm, bị giết năm 1573, thọ 41 tuổi.
· Lê Thế Tông (1573-1599): Lê Duy Đàm sinh 1567, lên ngôi 1573, làm vua 26 năm mất năm 1599, thọ 32 tuổi.

Thời kỳ Trịnh Nguyễn Phân Tranh

· Lê Kính Tông (1599-1619): Lê Duy Tân sinh 1588, lên ngôi 1599, làm vua 20 năm, bị giết 1619, thọ 31 tuổi.
· Lê Thần Tông (1619-1643 & 1649-1662): Lê Duy Kỳ sinh 1607, lên ngôi 2 lần, mất 1662, thọ 55 tuổi. Khởi đầu nhường ngôi lên làm Thượng Hoàng.
· Lê Chân Tông (1643-1649): Lê Duy Hựu sinh 1630, lên ngôi 1643, làm vua 6 năm, mất 1649, thọ 19 tuổi.
· Lê Huyền Tông (1662-1671): Lê Duy Vũ sinh 1654, lên ngôi 1662, làm vua 9 năm, mất 1671, thọ 17 tuổi.
· Lê Gia Tông (1671-1675): Lê Duy Cối sinh 1661, lên ngôi 1671, làm vua 4 năm, mất 1675, thọ 14 tuổi.
· Lê Hy Tông (1675-1705): Lê Duy Hiệp sinh 1663, lên ngôí 1675, làm vua 30 năm. mất 1716, thọ 53 tuổi. (Có nhường ngôi.)
· Lê Dụ Tông (1705- 1729): Lê Duy Đường sinh 1680, lên ngôí 1705, làm vua 24 năm, mất 1731, thọ 51 tuổi. (có Nhường ngôi).
· Lê Đế Duy Phường (1729-1732): Lê Duy Phường sinh 1709, lên ngôí 1729, làm vua 3 năm, bị giết 1735, thọ 26 tuổi.
· Lê Thuần Tông (1732-1735): Lê Duy Tường sinh 1699, lên ngôi 1732, làm vua 3 năm, mất 1735, thọ 36 tuổi.
· Lê Ư Tông (1735-1740): Lê Duy Thận sinh 1719, lên ngôí 1735, làm vua 5 năm, mất 1759 thọ 40 tuổi. (Nhường ngôi làm Thượng Hoàng 19 năm).
· Lê Hiển Tông (1740-1786): Lê Duy Diêu sinh 1717, lên ngôi 1740, làm vua 46 năm, mất 1786, thọ 69 tuổi.
· Lê Chiêu Thống (1786-1788): Lê Duy Kỳ sinh 1765, lên ngôí 1786, làm vua 2 năm, phải lưu vong, mất 1793, thọ 28 tuổi.



Triều Đại Nhà Mạc(1527-1592)

Thời cường thịnh.

· Mạc Thái Tổ (1527-1529): Mạc Đăng Dung sinh 1483, cướp ngôi nhà Lế 1527, làm vua 2 năm, nhường ngôi làm Thái Thượng Hoàng 1529, mất 1541, thọ 58 tuổi.
· Mạc Thái Tông (1530-1540): Mạc Đăng Doanh, làm vua 10 năm.
· Mạc Hiến Tông (1540-1546): Mạc Phúc Hải, làm vua 6 năm.
· Mạc Tuyên Tông (1546-1561): Mạc Phúc Nguyên, làm vua 15 năm.
· Mạc Mậu Hợp (1562-1592): Làm vua 31 năm.

Thời suy tàn
(Làm vua ở khu vực Cao Bằng)

· Mạc Toàn & Mạc Kính Chỉ (1592-1593): Làm vua 1 năm, cùng bị Trịnh Tùng bắt giết (Nhà Mạc có 2 vua).
· Mạc Kính Cung (1593-1625): Làm vua 32 năm, bị bắt giết 1625.
· Mạc Kính Khoan (1623-1638): Làm vua 15 năm.
· Mạc Kinh Vũ (1638-1677): Làm vua 39 năm.

Thế Thứ Các Đời Chúa Trịnh
· Trịnh Kiểm (1545-1569)
· Trịnh Cối (1569-1570)
· Trịnh Tùng (1570-1623)
· Trịnh Tráng (1623-1657)
· Trịnh Tạc (1657-1682)
· Trịnh Căn (1682-1709)
· Trịnh Bách (1684)
· Trịnh Bính (1688)
· Trịnh Cương (1709-1729)
· Trịnh Giang (1729-1740)
· Trịnh Doanh (1740-1767)
· Trịnh Sâm (1767-1782)
· Trịnh Cán (1782)
· Trịnh Khải (1782-1786)
· Trịnh Bồng (1786)

Thế Thứ các Đời
Chúa Nguyễn

· Nguyễn Hoàng (1558-1613): Chúa Tiên.
· Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635): Chúa Săi.
· Nguyễn Phúc Lan (1635-1648): Chúa Thượng.
· Nguyễn Phúc Tần (1648-1687): Chúa Hiền.
· Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691): Chúa Nghĩa.
· Nguyễn Phúc Chu (1691-1725): Quốc Chúa.
· Nguyễn Phúc Chú (1725-1738): Ninh vương.
· Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765): Vơ Vương.
· Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777): Định Vương.

Triều đ́nh Nguyễn Nhạc

Thái Đức Hoàng Đế (1778-1793): Nguyễn Nhạc lên ngôi 1778, xưng Trung Ương Hoàng Đế 1786, làm vua 15 năm, mất năm 1793.

Triều Đại Nhà Tây Sơn (1788-1802)

· Quang Trung Hoàng Đế (1788-1792): Nguyễn Huệ (Nguyễn Văn B́nh) sinh 1753, lên ngôi 1788, làm vua 4 năm, mất 16 tháng 9 năm 1792, thọ 39 tuổi.
· Cảnh Thịnh Hoàng Đế (1792-1802) : Nguyễn Quang Toản (ông hoàng Trác) sinh 1783, nối ngôi 1792, làm vua 10 năm, bị bắt & bị giết 1802.

Triều Đại Nhà Nguyễn (1802-1945)

Thời kỳ độc lập:

· Thế Tổ (1802-1819): Nguyễn Phúc Ánh, niên hiệu Gia Long, sinh 1762, lên ngôi 1802, làm vua 17 năm, mất 1819, thọ 57 tuổi.
· Thánh Tổ (1820-1840): Nguyễn Phước Hiệu, niên hiệu Minh Mạng, sinh 1791, lên ngôí 1819, làm vua 20 năm, mất 1840, thọ 49 tuổi.
· Hiến Tổ (1841-1847): Nguyễn Phúc Miên Tông, niên hiệu Thiệu Trị, sinh 1807, lên ngôi 1841, làm vua 7 năm, mất 1847, thọ 40 tuổi.
· Dực Tông (1848-1883): Nguyễn Phúc Thi, niên hiệu Tự Đức, sinh 1829, lên ngôi 1847, làm vua 35 năm, mất 1883, thọ 54 tuổi.

Thời kỳ Pháp thuộc:

· Dục Đức (1883): Nguyễn Phúc Ưng Châu, lên ngôi 3 ngày (20,21,22 tháng 7 năm 1883), bị phế & bị giết.
· Hiệp Ḥa (1883):
· Nguyễn Phúc Hồng Dật, niên hiệu Hiệp Ḥa, làm vua 4 tháng, bị giết 1883.
· Giản Tông (1884):
Nguyễn Phúc Ưng Đăng, sinh 1869, niên hiệu Kiến Phúc, làm vua 8 tháng th́ mất v́ bệnh, thọ 15 tuổi.
· Hàm Nghi (1884-1885): Nguyễn Phúc Ưng Lịch, sinh 1872, lên ngôi 1884, xuất cung kháng Pháp (1885-1888), phê chuẩn Chiếu Cần Vương, bị Pháp bắt đầy đi Algérie, mất tại đó 1943, thọ 71 tuổi.
· Đồng Khánh (1885-1888): Nguyễn Phúc Ứng Xuy, sinh 1863, lên ngôi 1885, làm vua 3 năm, mất v́ bệnh 1888, thọ 25 tuổi.
· Thành Thái (1889-1907): Nguyễn Phúc Bửu Lân sinh 1879, lên ngôi 1889, làm vua 8 năm, bị Pháp bắt đầy đi Réunion châu Phi thuộc Pháp 1907, mất 1954, thọ 65 tuổi.
· Duy Tân (1907-1916):
Nguyễn Phúc Vĩnh San sinh 1900, lên ngôi 1907, làm vua 9 năm, bị Pháp bắt 1916 đầy đi đảo Réunion, mất 1945, thọ 45 tuổi,
· Khải Định (1916-1925): Nguyễn Phúc Bửu Đảo sinh 1882, lên ngôi 1916, làm vua 9 năm, mất bệnh 1925, thọ 43 tuổi.
· Bảo Đại (1925-1945):
· Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, lên ngôi 1925, thoái vị 1945. Bảo Đại là vị vua cuối cùng triều Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng của nước Việt Nam trước khi đất nước mở ra trang sử mới đầy biến động.

Trăm Họ Trên Đất Việt

Có trên một trăm Họ hiện đang sinh sống trên đất nước Việt Nam.
V́ trải qua hơn một ngàn năm bị đô hộ cũng như sự thay đổi họ qua các triều đại vua chúa, qua sự di dân và qua sự tiếp cận với dân tộc các nước láng giềng, hoặc v́ thay đổi triều vua, sợ bị truy nă mà phải thay tên đổi họ, hoặc bị ép buộc đổi sang ḍng họ khác (thí dụ thời nhà Trần, họ Lư phải đổi sang họ Nguyễn), hoặc có công được mang quốc tính, đổi sang họ nhà vua, hoặc được phục tính, lấy lại họ cũ... họ của người Việt đă biến đổi từ họ này sang họ khác, hoặc tạo ra những ḍng họ mới.
Nhóm từ “trăm họ trên đất Việt” chỉ các ḍng họ sinh sống tại Việt Nam mà không phân biệt nguồn gốc những họ nầy.
Sau đây là danh sách tiêu biểu của trên 100 họ Việt Nam (Thực tế nhiều hơn, có thể trên 200 họ):
A-
1- Ái, 2- Âu,
B-
1- Bái, 2- Bạch, 3- Bế, 4- Bùi.
C-
1- Ca, 2- Cao, 3- Cái, 4- Cầm, 5- Châu, 6- Chu, 7- Chung, 8- Cống, 9- Cù, 10-Cung.
D-
1-Diệp, 2- Doăn, 3- Dư, 4- Dương.

Đ-
1- Đái, 2- Đàm, 3- Đặng, 4- Đào, 5- Đinh, 6- Đoàn, 7- Đỗ, 8- Đồng, 9- Đổng.
G-
1- Giang, 2- Giáp.
H-
1- Hà, 2- Hạ, 3- Hàn, 4- Hàng, 5- Hoa, 6- Hồ, 7- Hoàng, 8- Hồng, 9- Hứa, 10- Huỳnh.
K-
1- Khổng, 2- Khúc, 3- Khương, 4- Kiều, 5- Kim.
L-
1- La, 2- Lă, 3- Lai, 4- Lại, 5- Lâm, 6- Lê, 7- Liêu, 8- Linh, 9- Lô, 10- Lục, 11- Lữ, 12- Lương, 13- Lưu, 14- Lư.
M-
1- Mă, 2- Mạc, 3- Mạch, 4- Mai.
N-
1- Ninh, 2- Ngạc, 3- Nghiêm, 4- Nguyễn, 5- Ngô, 6- Nông, 7- Nùng
Ô-
1- Ôn, 2- Ông
P-
1- Pang, 2- Phạm, 3- Phan, 4- Phí, 5- Phó, 6- Phùng.
Q-
1- Quách, 2- Quản.
S-
1- Sầm, 2- Sơn, 3- Sử
T-
1- Tạ, 2- Tăng, 3- Thạch, 4- Thái, 5- Thẩm, 6- Thân, 7- Thế, 8- Thi, 9- Tiêu, 10- Tô, 11- Tôn, 12- Tống, 13- Trang, 14- Trầm, 15- Trần, 16- Triệu, 17- Trịnh, 18- Trưng, 19 Trương, 20- Từ.
U-
1- Ung, 2- Uông.
V-
1-Văn, 2- Vơ, 3- Vũ, 4- Vương.
 

 
Đây là những khó khăn trong việc soạn bài này:

- Sách của ông Trần Trọng Kim và sách của ông Nguyễn Khắc Thuần VS dùng để tham khảo có nhiều điểm khác nhau (chưa kể c̣n in sai nữa. Thí du Việt Nam sử Lược (Nhà Ngô) trang 81 đă in sai con số 950 thành 905...)
- Sách của ông Trần Trọng Kim tính tuổi theo âm lịch, nên thường dôi ra 1 tuổi, so với Nguyễn Khắc Toàn tính theo dương lịch. VS cũng thích tính theo Dương Lịch để các em SV ngày nay dễ hiểu hơn. (thí dụ biết ngày sinh ngày mất th́ t́nh ra tuổi thọ liền). Ban đầu VS dùng tài liệu của VNSL. nay phải đổi lại hết.
- Sách của NKT cũng có cái khác thường là đôi khi tính thời gian trị v́ của một ông vua, không tính từ ngày lên ngôi như TTK mà tính từ ngày khởi nghĩa. Về điểm này, VS đành phải theo TTK, nhưng không tăng thêm 1 năm (theo âm lịch) mà chỉ tính theo Dương Lịch như NKT (Thí dụ biết ngày lên ngôi và ngày chết th́ tính ra thời gian trị v́ tức là thời gian làm vua).
- Những con số 3 in lem nhem trong sách cũ rất dễ lầm với con số 8. VS đánh máy vào buổi tối khi cơn buồn ngủ đă kéo tới, đă đánh máy sai một lần (không biết c̣n lần nào nữa không? Hy vọng là không v́ ḍ đi ḍ lại rồi. Sự sai sót này rất quan trọng v́ đó là thời gian trong lịch sử. Từ số 3 đánh máy thành số 8 tức là 1 ly đi một dậm rồi đó!

VS