Vịnh Sử
Thời Nhà Lê
Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử
B́nh Định Vương Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428 tức Lê Thái Tổ, lấy lại tên nước là
Đại Việt và mở ra Nhà Lê, thống nhất được 100 năm (1428-1527), truyền 10 đời vua:
- Lê Thái Tổ (1428-1433)
- Lê Thái Tông (1434-1442)
- Lê Nhân Tông (1443-1459)
- Lê Thánh Tông (1460-1497)
- Lê Hiển Tông (1497-1504)
- Lê Túc Tông (1504) và Lê Uy Mục (1505-1509)
- Lê Tương Dực (1510-1516)
- Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng (1516-1527)
Chiến Thắng Quân Minh
Anh hùng Lê Lợi người làng Lam Sơn (Thanh Hóa) có chí lớn, làm nghề nông giàu có,
hay giup kẻ nghèo, gia nhân giúp việc có cả ngàn người.
Năm 1418, Lê Lợi cùng với các tướng Lê Thạch, Lê Liễu, Lê Vấn, Lê Lư, Lê Xa Lôi,
Lê Văn Linh, Lê Văn An, Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Lai, Lê Sát, Lư Triện, Trịnh
Lỗi, Đinh Lễ, Đinh Liệt, Trần Khải, Phạm Lung, Trương Lôi, Bùi Quốc Hưng, Vũ Oai,
Đỗ Bí...(hơn 17 vị tướng tại hội thề Lũng Nhai; sau có thêm Nguyễn Trăi, Trần
Nguyên Hăn và nhiều tướng sĩ khác...), khởi binh ở núi Lam Sơn, tự xưng là B́nh
Định Vương, rồi truyền hịch kể tội nhà Minh.
Suốt 10 năm (1418-1427) chiến đấu gian khổ, B́nh Định Vương Lê Lợi và đoàn binh
tướng nghĩa quân đă đánh đuổi giặc Minh xâm lăng ra ngoài bờ cơi.
Phép dùng binh của B́nh Định Vương là lấy mềm đánh cứng, lấy ít thắng nhiều, lấy
quân nghỉ ngơi đánh quân mệt mỏi (dĩ dật đăi lao)...nên các trận phục kích và du
kích rất quan trọng, đă quyết định phần chiến thắng cho quân Nam.
Những Trận Phục Kích Lẫy Lừng Quân Sử Việt:
1- Ngày 13 tháng giêng năm Mậu Tuất (1418), quân Nam phục kích tại núi Lạc Thủy
(Thanh Hóa), đánh đuổi quân Mă Kỳ, chém 3000 thủ cấp giặc và thu hàng ngàn quân
tư khí giới (1). Sau trận nầy, quân Nam bị nội phản, giặc đánh úp bắt rất nhiều
vợ con của B́nh Định Vương và quân sĩ. B́nh Định Vương rút về Chí Linh (lần 1).
2- Tháng 9, Vương phục kích tại Mường Một dùng tên thuốc độc bắn hạ quá nửa quân
của tổng binh nhà Minh là Lư Bân.
3- Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1419) B́nh Định Vương đem quân đánh đồn Nga Lạc (Thanh
Hóa), chém được tướng Minh là Nguyễn Sao. Nhưng v́ quân ít, lại rút về Chí Linh
(lần 2). Quân Minh bao vây Chí Linh rất ngặt, Lê Lai phải “liều ḿnh cứu chúa”
và quân tướng kháng chiến bằng cách mặc áo ngự bào của B́nh Định Vương, đánh lừa
quân Minh và để chúng bắt giết. Nhờ Lê Lai, B́nh Định Vương thoát nạn đem quân
về đóng tại Lư Sơn.
4- Tháng 5 (1419) Vương phục kích tại Mường Chánh (huyện Lang Chánh), phá tan
quân giặc.
5- Tháng 10 năm Canh Tí (1420) Vương phục kích tại bến Bồng (thượng lưu sông Chu?)
“chém giết quân giặc nhiều vô kể,” bắt được 100 con ngựa. Vương đóng quân tại
Mường Thôi.
6- Năm 1420 Lư Bân và Phương Chính đem quân theo đường Quư Châu đánh thẳng vào
Mường Thôi, bị quân Nam phục kích tại Thi Lang. Bân và Chính chỉ chạy thoát thân.
Vương đem quân đóng ở Lỗi Giang, được ông Nguyễn Trăi vào yết kiến và dâng bài
sách b́nh Ngô
7- Ngày 20 tháng 11 năm Tân Sửu (1421), tướng Trần Trí nhà Minh đem quân đóng
gần Ba Lẫm, Vương đánh úp trại giặc và phục kích ở đường núi, đánh bại quân giặc.
Thời gian nầy, có 3 vạn quân Lào cùng 100 thớt voi đánh úp trại ta. Quân Nam đẩy
lui được, nhưng tướng Lê Thạch bị hy sinh. Năm 1422, Vương rút quân về Chí Linh
lần thứ 3. Đến năm 1423 đem quân về Lam Sơn, hết lương phải hoà với địch.
8- Năm 1424 B́nh Định Vương đem binh về đánh đất Nghệ An, lấy được đồn Đa Căng,
chém các tướng Minh là Trần Trung, Hoàng Thành, bắt sống Chu Kiệt. Cầm Bành xin
hàng. Qua đến tháng giêng Ất Tị ( 1425), Vương được nhiều phủ huyện và dân chúng
theo về, bèn cho binh sĩ vây thành Nghệ An và dùng phục binh phá tan quân tiếp
viện Lư An. Thừa thắng, quân Nam tiến tới vây thành Tây Đô.
9- Tháng 4 năm Ất Tỵ (1425) ta mai phục ở bờ sông huyện Đỗ Gia, đánh quân Minh
Trần Trí từ thành Nghệ An ra, chém 1000 thủ cấp giặc
10- Tháng 5 Ất Tỵ (1425) Đinh Lể phục kích chém tướng Minh là Trương Hùng và
cướp hết 300 thuyền lương tiếp tế thành Tây Đô.
11- Tháng 7 năm Ất Tỵ (1425) Tướng Nam là Trần Hân, Lê Nỗ phục kích ở Hà Khương,
phá tan quân giặc. Quân Nam đến tiếp viện chiếm luôn 2 thành Tân B́nh và Thuận
Hóa. Lê Lợi được tôn là “Đại Thiên Hành Hóa” (thay trời làm mọi việc).
12- Ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), phục binh của Phạm Văn Xảo, Lê Khả, tại
cầu Xa Lộc, Lộ Tam Giang đánh tan hơn 1 vạn viện binh từ Vân Nam sang, bắt được
tướng Minh là Vi Lượng.
13- Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) vua nhà Minh sai Vương Thông, Mă Anh đem 5 vạn
quân sang cứu Đông Đô, bị phục kích ở đồng Cổ Lâm và cầu Tam La, thiệt hại người
ngựa rất nhiều. Sau đó, quân Nam mai phục ở Tốt Động và Chúc Động (Trần Trọng
Kim viết là Tụy Động) (2) đánh tan quân Minh, chém quan Thượng Thư nhà Minh là
Trần Hiệp, và tướng Minh là Lư Lượng, giết được 5 vạn (?) quân Minh và bắt được
đồ tiếp liệu nhiều vô kể.
14- Ngày 20 tháng 12 năm Bính Ngọ (1427) quân Nam do Lê Sát,Trần Lựu phục kích ở
Ải Chi Lăng (núi Mă Yên Sơn), chém đầu tướng Liễu Thăng của nhà Minh và đánh tan
viện binh qua ngả Lạng Sơn. Các tướng giặc Lương Minh bi chém giữa trận, Lư
Khánh tự tử, Hoàng Phúc bị bắt, Thôi Tụ không hàng phải chém, 5 vạn quân giặc bị
giết tan hoang. Mộc Thạnh sợ mất vía phải bỏ chạy về Tàu.
Những Việc Làm Quan Trọng Thời Nhà Lê:
Đời vua Lê Thái Tổ:
· Mở mang việc học hành: Đời vua Lê Thái Tổ mở trường Quốc Tử Giám ở kinh đô (cho
con quan và con em thường dân học giỏi thông minh vào học tập). Mở nhà học ở phủ
và Lộ. Các quan từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh kinh khoa: quan văn thi
kinh sử, quan vơ thi vũ kinh. Những người ẩn dật cũng được vào thi để chọn nhân
tài. Tu sĩ đạo Phật, đạo Lăo cũng phải thi kinh điển của đạo đang theo. Ai không
đậu về làm ăn như dân thường.
· Sửa đổi h́nh luật:Rất nghiêm khắc đối với các tội du đăng, rượu chè, ăn cắp,
đánh bài, đánh cờ, tụ tập ăn chơi. Giảm nhẹ đối với người già 70 trở lên và 15
trở xuống hay tàn tật.
· Việc cai trị: Chia nước ra làm 5 đạo, mỗi đạo có quan Hành Khiển giữ sổ sách
việc quân dân. Xă có trên 100 người gọi là đại xă (có 3 xă quan), 50 người trở
xuống là trung xă (2 xă quan), và xă có 10 người trở lên là tiểu xă (1 xă quan).
· Phép công điền: chia ruộng đất công cho binh lính, tướng sĩ .
· Giảm quân số thời chiến từ 250 ngàn xuống c̣n 100 ngàn để pḥng vệ. Lại chia
quân ra làm 5 phiên lần lượt thay đổi: 1 phiên ở lại pḥng vệ, 4 phiên về làm
ruộng.
Đời vua Lê Thái Tông:
· Chỉnh đốn lại việc thi cử, 5 năm một lần thi hương, 6 năm một lần thi hội.
Phép thi cũng thay đổi. Năm 1442 mở khoa thi Tiến Sĩ, ai thi đậu được khắc tên
vào bia đá để tại Văn Miếu.
· Định lại cách tiêu dùng tiền và vải lụa: 1 tiền là 60 đồng (1 quan tiền là 10
tiền, bằng 600 đồng). Lụa dài 30 thước (thước ta), rộng 1 thước 5 tấc trở lên là
1 tấm. Vải dài 24 thước hoặc 22 thước lá 1 tấm. Giấy 100 tờ là 1 tập.
Đời Vua Lê Nhân Tông:
· Vua Nhân Tông lên làm vua mới có 2 tuổi, nên bà Hoàng Thái Hậu Tuyên Từ Nguyễn
Thị Anh ra “thính chính” (buông rèm nghe chính sự). quyết đoán mọi việc: đặt ra
14 điều hộ luật về tư điền, đổi cách thi lấy người làm lại (bỏ thi chính tả và
kinh nghĩa), chỉ thi viết và thi tính.
· Cho đào sông B́nh Lỗ ở Thái Nguyên cho tiện đường vận tải.
· Năm 1448, xứ Bồn Man xin nội thuộc nước ta, đặt làm châu Qui Hợp.
· Truy tặng các công thần bị giết oan như Lê Sát, Lê Ngân, và Lê Khắc Phục.
· Phan Phù Tiên làm bộ Quốc Sử từ vua Thái Tông nhà Trần đến khi thuộc Minh (10
quyển).
Đời Vua Lê Thánh Tông:
· Vua rất thông minh và có hiếu. Ngài đă truy tặng cho các vị công thần như
Nguyễn Trăi...bị giết oan thời trước (1), các quan được lấy lại tên họ cũ (phục
tính) và định tuổi về trí sĩ (2) cũng như lập nhà tế sinh coi sóc người già yếu,
tàn tật.
· Chia nước làm 13 xứ, định lại thuế khóa, khuyến khích nghề canh nông, sửa đổi
phong tục (không cho lập chùa mới để tiết kiệm), cấm hát xướng trong ngày có đám
ma. Việc hôn nhân cũng thay đổi: Lễ hỏi rồi, phải chọn ngày cưới. Hôm sau phải
đi chào cha mẹ, 3 ngày sau lễ từ đường.
· Cho vẽ bản đồ nước Nam và sai ông Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Kỳ . Vua
Thánh Tông chuộng văn thơ ngâm vịnh, đặt ra Quỳnh Uyển Cửu Ca, cùng với triều
thần như ông Đỗ Nhuận tất cả là 28 người làm thơ xướng họa với nhau.
· Việc Vơ Bị cũng được nhà vua hết sức quan tâm: Đổi 5 Vệ thành 5 Phủ, mỗi Phủ
có 6 Vệ, mỗi Vệ có 5 hay 6 Sở, mỗi Sở có 400 người, tổng cộng 5 Phủ có 6,7 vạn
người. Đặt ra Quân Lệnh (Thủy trận 31 điều, bộ trận có 42 điều), cho quân lính
tập luyện luôn luôn.
· Đánh Chiêm Thành: chia nước Chiêm ra 3 nước nhỏ làm cho yếu đi; Đánh Lăo Qua
và Bồn Man, tất cả đều được thắng lợi. Vua Thánh Tông thường nói: “Ta phải giữ
ǵn cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của vua Thái
Tổ để lại.”
Đời vua Lê Tương Dực:
· Đại Việt Thông Giám do Binh Bộ Thượng Thư Vũ Quỳnh làm xong được 26 quyển.
Chú thích:
(1) Vua Lê Thái Tổ tính hay nghi ngờ, đă giết hại các công thần Trần Nguyên Hăn,
Phạm Văn Xảo. Vua Lê Thái Tông trẻ tuổi, “không có người phù tá, cho nên sau
thành ra say đắm tửu sắc làm lắm điều không được chính đính”, cũng v́ thế, đă
gây ra biến cố “vườn vải” (tháng 7 năm nhâm tuất - 1442) khiến ông Nguyễn Trăi
và ba họ đều bi giết. Bà Thái Hậu Tuyên Từ cầm quyền khi vua Nhân Tông c̣n nhỏ,
đă giết hại các công thần Lê Khả, Lê Khắc Phục. Vơ chồng ông Nguyễn Trăi và
Nguyễn Thị Lộ bị xử tội giết vua do bà Thái Hậu Tuyên Từ Nguyễn Thị Anh thính
chính, nên "vụ án vườn vải" là một nghi án có nhiều oan khuất, có thể do chính
bà Thái Hậu Nguyễn Thi Anh gây ra. Vua Nhân Tông bị người anh là Lạng Sơn Vương
Nghi Dân sát hại (1459)cùng với bà Hoàng Thái Hậu Tuyên Từ. Nghi Dân lên làm vua
được 8 tháng, chém giết cựu thần, nên bị Nguyễn Xí, Đinh Liệt giết chết, tôn
B́nh Nguyên Vương Tư Thành lên làm vua tức vua Lê Thánh Tông.
(2) Làm quan đến 65 tuổi hoặc làm nha lại đến 60 tuổi.
THƠ CA VỊNH
B́nh Định Vương
Thuở ấy giặc Minh cai trị ta
Dưới quyền cai trị của Trung Hoa
Văn minh Hồng Lạc toan bôi nhọ
Lịch sử Rồng Tiên muốn xoá nḥa
Xuống bể ṃ trai thu lấy ngọc
Lên non săn tượng kiếm t́m ngà
Phất cờ khởi nghĩa mười năm khổ
B́nh Định thành công cứu nước nhà.
Chính Hà
Sơ thu Đinh Măo
Lam Sơn khởi Nghĩa
Kháng chiến Lam Sơn dũng sĩ đầy
Chi Lăng chặn viện quyết bao vây
Nghĩa quân Lê tướng hào hùng tiến
Xâm lược nhà Minh đại bại đây
Trên núi Mă Yên thù tan xác
Thành quách Xương Giang giặc nát thây
Liễu Thăng thủ cấp ghim đầu giáo
B́nh Định Vương kỳ phất phới bay!
Bác Từ
Vịnh : LAM SƠN KHỞI NGHĨA
Khi ấy nhà Hồ vừa thất thế
Giặc Minh phương bắc vội xâm lăng
Nhằm cướp nước xoá tan Quốc Việt
Đem hung tàn trải khắp Non Sông.
Lúc ấy có nhiều người trẻ tuổi
V́ Quê Hương khởi nghĩa dấy binh
Đất Lam Sơn khởi nghiệp Anh Hùng
Mang trí lớn trên đường phục Quốc.
Đêm hôm ấy Lũng Nhai Thề Hội
Mang quyết tâm chiến thắng quân Minh
Ra tối thượng v́ dân giết giặc
Gọi Nghĩa Sĩ tôi luyện thao trường.
Và như thế mười năm ṛng ră
Chí khí quân dâng ngút trời xanh
Tây Đông Quan diệt quân Mộc Thạnh
Trận Chi Lăng Liễu Thăng bỏ ḿnh.
Bọn Lương Minh , Thôi Tụ , Hoàng Phúc
Bị thúc vây tứ hướng tan quân
Hăm Đồng Quan Vương Thông thân hàng
Thế lực Minh nhanh chóng suy tan.
Thảm thay ! mười vạn Quân Minh
Trong một lúc tan tành Đế chế
Thành hàng binh chờ về cố quốc
Thanh b́nh nay thuộc nước Nam ta.
Bao danh tiếng sử xanh ghi tạ
Nào Trịnh Khả đến Phạm Văn Sào
Lê Chất , Lê Lai , Trần Nguyên Hăn
Nguyễn Xí ,Cầm Quư , Xa Khả Tham.
Nguyễn Trăi , Nguyễn Chích , Đào Công Soạn
Đinh Lễ , Lư Triện , Lê Văn An
Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng
Lê Ngân , Lê Sát , Lưu Nhân Chú.
Những Công Thần Vị Quốc Vong Thân
Buổi Lập Quốc Nước tên Đại Việt
Điện Kính Thiên Lập Tự xưng Vương
Danh xưng “ Duệ Anh Vũ Đại Vương"(*)
Lấy Quốc Bảo “ B́nh Ngô Đại Cáo”
Làm Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Nam
Vậy :” sau hai mươi năm chinh chiến”
Đất Nước ta có cảnh Thanh B́nh .
Chấp hai tay dưới Điện Uy Phong
Thập Nhị Hương bái tương tứ hướng
Khấu nghinh lễ Tiền Quy Chính Ngọ
Cầu Linh Hồn Tướng Sĩ , Tử Sĩ.
Lam Sơn khởi nghĩa Tụ Hưng Kỳ
Trên Linh Vật dưới Thập Nhị Khí
Ngang hai hàng đôi Trụ Giáp Tề
Kính Vong Hồn các ngă lộ về
An hưởng lạc đồng thân kính cáo !
Đông Ḥa
(*) Lê Lợi
(Bài viết 12.1974 sủa chữa 12.2005)
Vua Lê Lợi
Nằm gai nếm mật thập niên trường
Thề đuổi quân Minh quyết chẳng nương
Ba bận Chí Linh thù vấy máu
Một lần Tụy Động giặc phơi xương
Nam hoà Đại Việt nêu nhân ái
Bắc tiến giệt Minh tỏ thánh vương
Xứ sở an b́nh muôn vạn phước
“B́nh Ngô Đại Cáo” quốc dân tường
Bác Từ
VUA LÊ LỢI
1/2- Hoàn Kiếm ngh́n xưa vẫn chốn này,
Lưu truyền tích cũ đến ngày nay.
Linh Quy pḥ Chúa lên ngôi báu,
Bảo kiếm ǵm Minh xuống vũng lầy.
Dũng khí muôn đời vang Bể Bắc,
Uy danh vạn đại dội Trời Tây.
B́nh Ngô Đại Cáo c̣n văng vẳng,
Công đức Lê Vương tựa đất dày.
2/2- Dày công rèn luyện để làm gương
Khởi nghĩa Lam Sơn chí quật cường
Gian khổ diệt thù khôn kẻ sánh
Kiên tŕ dẹp giặc khó ai đương
Thương dân quyết chí xây khuôn phép
Yêu nước chuyên tâm dựng mối rường
Lịch sử muôn sau c̣n rạng rỡ
Toàn dân noi dấu đấng Quân Vương
TRƯỜNG GIANG
B́nh Định Vương Lê-Lợi
(Tiếng trống trận, tiếng quân reo ...)
Lê Lợi : Nầy Nguyễn khanh (dạ), tiếng quân reo khắp bốn bề vang dội, chắc là
quân ta lại chạm trán với địch quân .
Nguyễn Trải : Tâu Chúa Công ...
(Nguyễn Trải chưa kịp nói ǵ th́ 1 nghĩa quân chạy vào ...)
Nghĩa quân : Tâu Chúa Công ...
Ca Sơn Đông Hướng Mă :
(I) ... Khắp bốn phía
Giặc trùng vây
Quyết bắt .---
Chúa Công .---
Xin Chúa Công
Hăy kíp liệu toan
Thu quân chủ lực
Để bảo tồn lực lượng
Kẻo chẳng .---
Kịp rồi .---
Giặc đă tràn vào
(II) Nguyễn Trải : ... Nghe ngươi nói
Mặt Tây Nam
Thế trận .---
Đă vở tan .---
Dù Quân Minh
Có kéo đến đây
Chúng ta cũng quyết
Liều ḿnh giết giặc
Giữ vững .---
Lời thề .---
Lúc khởi nghĩa phất cờ ...
Lê Lợi : Ca Vọng Cổ :
1- Nguyễn khanh ơi, ḷng ta đă quyết hy sinh cho tiền đồ Tổ quốc th́ những giờ
phút nguy nan càng sục sôi thêm gịng máu căm ... thù . Tiếng giáo gươm âm vang
trong lửa khói mịt mù , hoà trong tiếng reo ḥ quyết chiến của đoàn quân nghĩa
dũng Lam Sơn, ta thấy trách nhiệm ḿnh càng nặng nề hơn với tướng sĩ ba quân, và
với mấy triệu sanh linh đang lầm than trong xích xiềng quân cướp nước .
2)Ng.Trải : Tâu Chúa Công, thần trộm nghĩ tự ngàn xưa bao giờ chính nghĩa cũng
thắng hung tàn . Dẫu ngày nay quân Minh ỷ mạnh kéo đến đây mấy chục vạn binh
hùng, th́ sức cô thế yếu ta đành nhường bước giặc ngoại xâm, nhưng quân dân ta
sẽ được dịp trui rèn hun đúc chí hờn căm, đoàn kết thành một lực lượng kiên
cường vững mạnh, đợi thời cơ cùng đứng lên quét sạch xâm loàn giải phóng quê
hương .
(Mười năm sau, khi đă chiến thắng đánh đuổi giặc Minh)
Lê Lợi : Nầy Nguyễn khanh, ngày nay đất nước ta quân thù sạch bóng, nh́n dân ta
đang hát khải hoàn ca, sao ḷng ta bỗng nhiên xúc ...
Ca Nặng T́nh Xưa : ... động (fạn), không cầm giọt châu (liu)
2- Khi ta nhớ lại ngày nào nơi Chí Linh (liu)
3- Lê Lai đă anh dũng quên ḿnh (xàng)
4- Đem máu xương tô điểm sơn hà (xàng)
5- Làm vẻ vang cho giống ṇi Hồng Lạc (fạn)
6- Viết trang sử hùng đậm nét vàng son (liu)
7-Ng.Trải : Nay quê hương đă qua hồi tao loạn (fạn)
8- Muôn dân đều lạc nghiệp âu ca (liu)
9- Trên khoảng trời xanh rộng bao la (liu)
10- Người anh hùng đă hy sinh cứu Chúa (cống)
11- Sẽ ngậm cười nh́n quốc thái dân an (xê)
12- Và chúng ta sẽ quyết tâm hợp lực (xự)
13- Dựng xây nước nhà luôn vững mạnh (xự)
14- Cho rạng ... danh hào kiệt ... (xự)
15- Gương dũng liệt rạng ngời năm châu (liu)
16- Cho nhân loại đời đời soi chung (liu)
17- Nước Nam thạnh trị hùng cường (xàng)
18- Dân ta no ấm thanh b́nh (xàng) ...
Lê Lợi : Ca Vọng Cổ :
4- Nguyễn khanh ơi, suốt mười năm đấu tranh trường kỳ gian khổ, hôm nay ta mới
thấy ḷng rộn ră niềm vui khi nh́n dân tộc ta đang tiến bước trên con đường
tương lai đầy vinh quang xán lạn huy ... hoàng . Khanh hăy nh́n từng đoàn thanh
niên nhựa sống căn ... tràn , ngày hôm qua họ c̣n là những chiến binh kiêu dũng
mà nay đă tay cuốc tay cày đi xây dựng quê hương . Ôi giang sơn đất tổ Hùng
Vương, bao thế hệ quyết ḷng ǵn giữ, giặc ngoại xâm dẫu hung tàn bạo ngược, rồi
cũng tan thây trước ṇi giống Tiên Rồng .
5-Ng.Trải :Tâu Chúa công, Chúa công dạy chí phải, nước ta trải 4000 năm từ thời
dựng nước vua Hùng . Một tấc đất cũng quyết ḷng ǵn giữ dù phải hy sinh đến
giọt máu sau cùng . "Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư ... Tiệt nhiên định phận tại
thiên thư ... Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ... Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư "
...Lời tiền
nhân vẫn c̣n lồng lộng, bọn giặc Bắc phương phải tỉnh mộng xâm loàn .
6-Lê Lợi : Bọn giặc Minh cùng đường bôn tẩu, ta cũng lấy đức hiếu sinh của
truyền thống Tiên Rồng cho chúng một đường sanh, vậy khanh hăy truyền cho tướng
sĩ ba quân, cấp cho chúng thuyền bè lương thực, để khi về nước chúng phải hiểu
rằng dân tộc ta không hề hiếu chiến, nhưng khi cần phải đấu tranh giữ nước th́
tất cả đồng một quyết tâm tiêu diệt quân thù .
Ng. Trải : Chúa công ḷng dạ nhân từ ... Quân thù cảm đức đời đời ghi ơn ... Từ
nay một dăy giang sơn ... Thanh b́nh độc lập sáng gương anh hùng .
Ca Miên Hậu Hồi Cung :
Rền vang khắp nước khúc khải hoàn ca
Trời Nam khoe sắc ngát hương ngàn hoa
Tự Do no ấm muôn dân thái hoà
Chúa tôi chung sức dựng xây nước nhà
Tiến bước ... một ḷng
Cùng nhau ta tiến lên ... (lập lại)
Rền vang khắp nước khúc khải hoàn ca
Trời Nam khoe sắc ngát hương ngàn hoa
Tự Do no ấm muôn dân thái hoà
Chúa tôi chung sức vững trị sơn hà
Hoà ca ....
Hồng Quang (Tư Trễ)
Lê Lai
(Danh tướng, quê huyện Thụy Nguyên Thanh Hóa)
Chí Linh trận địa xiết ṿng vây
Không cánh ngh́n quân khó thể bay
Lê Lợi kêu Trời đành bỏ mạng
Lê Lai cứu Chúa chịu phơi thây
Hoàng Bào khoác lấy, hy sinh đánh
Bạch Tượng ngồi lên, quyết tử thay
Một sớm anh hùng da ngựa bọc
Ngh́n thu gương sáng vẫn c̣n đây
Chính Hà
Lê Lai
Giúp nước đâu nề chuyện tử sinh
Liều thân cứu chúa, cứu dân ḿnh.
Khoác bào, quyết giải ṿng vây địch,(1)
Chích máu, thề theo cuộc kháng Minh (2)
Kỷ Tín, lừng danh trang nghĩa dũng (3)
Lê Lai, vang tiếng đấng anh linh
B́nh Ngô, đại thắng ghi công trạng
Ngày giỗ trên vua, rơ hậu t́nh!(4)
Vương Sinh
Ghi chú: (1) Lê Lợi cùng với toàn bộ tham mưu bị giặc Minh vây khốn, đă nhờ có
Lê Lai khoác áo bào, xông ra đánh giải vây, khiến quân Minh tưởng đó là Lê Lợi,
bèn xông đến bắt giết đi rồi lui quân. Nhờ đó đă cứu được vua Lê Lợi và quê
hương.
(2) Lê Lai có tên đứng thứ 2 sau Lê Lợi trong danh sách 19 người chích máu ăn
thề ở Hội Thề Lũng Nhai.
(3) Kỷ Tín mặc áo bào của Lưu Bang, đánh lừa Hạng Vơ tưởng là Lưu Bang thật, nên
đă bắt giết đi và rút lui, cứu sống Lưu Bang.
(4)Giỗ Lê Lai vào ngày 21 tháng 8 âm lịch, trưóc giỗ Lê Lợi 1 ngày, nên có câu
“hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”
Lê Lai
Lê Lai cứu chúa quyết hy sinh
Đổi lấy Hoàng bào khoác lấy ḿnh
Thét ngựa lao ra banh thế địch
Vung gươm nhào tới nát quân Minh
Lời thề quyết tử c̣n vang vọng
Chí nguyện không lùi đă hiển linh
Đại Nghĩa phá tan ṿng địch xiết
Anh hùng cứu quốc ,thật chung t́nh
Sơn Khê
LÊ LAI CỨU CHÚA
1/2- Lê Lai cứu Chúa sử c̣n ghi,
Kim cổ Đông Tây mấy kẻ b́.
Giả dạng Quân Vương nêu Thánh Đức,
Thay h́nh Chủ Xoái tỏ Thần Uy
Thù giam, anh dũng không thèm lạy,
Giặc bắt, hiên ngang chẳng chịu qùy.
Một trận Chí Linh toàn thắng lợi,
Ngh́n sau danh tiếng vượt biên thùy.
2/2- Biên thùy giữ vững đến ngh́n thu,
Hào kiệt quên thân diệt giặc thù.
Nghĩa khí trượng phu luôn sáng chói,
Hào hùng tuấn kiệt chẳng mờ lu.
Cứu nguy đất nước thôi ḱm kẹp,
Giải thoát quê hương khỏi ngục tù.
Ư chí ngút trời v́ quốc nạn,
Ngh́n sau giữ vẹn giải biên khu.
TRƯỜNG GIANG
PHÚ LỤC Bắc Hạ Nam Oán
Lê Lai Cứu Chúa
I- Điệu Bắc
Lê Lợi : 1- (------) Nầy Nguyễn khanh (u)
Tiếng quân reo khắp bốn bề vang dội (cộng)
2- Hoà trong trống chiêng lồng lộng (cộng).-----
Chắc giặc Minh lại mở cuộc tấn công (u)
N. Trăi : 3- (------) Tâu Chúa Công (u)
Binh đến th́ đă có tướng ngăn (u)
4- Rồi đây lũ giặc xâm lăng (u).-----
Phải tan tành trên đất tổ Hùng Vương (liu)
L. Lợi : 5- (------) Căm giận (cộng)
Thay cho lũ giặc Minh (xê)
6- Cậy đông chúng kéo đến đây (xê).-----
Gieo điêu tàn cho bá tánh sanh linh (liu)
7- (------) Ta là Lê Lợi (cộng)
Nối chí quật cường anh dũng của tiền nhân (u)
8- Nguyện cùng sông núi cỏ cây (u).-----
Thề tử chiến với địch quân (liu).-----
II- Điệu Hạ
L. Lai : 9- (------) Xin khẩn báo (cống)
T́nh h́nh mặt trận phía Tây Nam (liu)
L. Lợi : 10- Ô ḱa, Lê Lai tướng quân (Liu).-----
Khanh nói đi trận địa như thế nào? (xề)
L. Lai : 11- (------) Chúa Công ơi (xg)
Thế giặc MInh như biển nổi ba đào (xừ)
12- Quân ḿnh đă quá tiêu hao (xê)
Chúa Công hăy thu quân để lực lượng bảo tồn (xàng)
13- (------) Nhưng thần e (xê)
Địch quân vây điệp điệp trùng trùng (xừ)
14- Nếu Chúa tôi đồng tử chiến (cống).-----
Không thể nào lường hết hiểm nguy (xê)
15- Thần nguyện hy sinh liều ḿnh cứu Chúa (cống)
Xinh Chúa Công hăy cổi long bào (xàng)
16- Cho thần tạm mặc vào (xàng).-----
Cùng xông phá ṿng vây (xê).-----
III- Điệu Nam
L. Lợi : (Hơi Xuân)17- Ta (xg) đă biết (xể).-----
Giặc Minh (xê) đă quyết truy t́m (ḥ)
18- Bắt ta để diệt mầm (ḥ).-----
Đấu tranh (liu) đang sôi sụt căm hờn (xề)
(Hơi Đảo) 19- (------) Tướng quân ơi (xg)
Ḷng ta bao nỡ đành (lịu)
20- Nh́n trang nghĩa sĩ hùng anh (xê).-----
Sa vào tay lũ giặc hung hăng (xg)
L. Lai 21- (------) Là nam nhi (xê)
Chết vinh là chết tại chiến trường (lịu)
22- Chết cho non sông gấm vóc (xể).-----
Của giống ṇi anh dũng Rồng Tiên (xê)
23- Để danh thơm truyền lưu muôn thuở (xể)
Th́ thần đây cũng hă dạ cam ḷng (xàng)
24- Chúa công chớ ngại ngùng (xàng).-----
Kíp lên đường cùng Nguyễn tiên sinh (xê).-----
IV-Điệu Oán
(mở ra nhịp 8 Oán dây Tố Loan)
L. Lợi : 25- (------) (------)
(------) Cổi long bào (ḥ)
Trao người (xự) trung liệt (xự).-----
Ta nghe (xê).----- can trường đày đoạn (xự)
26- Ơn dân (xg) nợ nước (xể).-----
C̣n mang nặng (xự) (------)
Vang vang (xg) tiếng trống trận (xự)
nghe máu hận (xự).----- trào dâng (xê)
27- (------) (------)
(------) Hởi hồn thiêng (xê)
Đất tổ (lỉu) Hùng Vương (liu).-----
Lê Lợi (xự).----- một tấm ḷng son (xê)
28- Quyết mài gươm (liu) diệt loài hung bạo (xự)
Rèn luyện chí cao (xê) (------)
Cùng ba quân (liu) sát vai (liu)
Giết giặc Minh (xê) cứu nước non nhà (xàng)
L.Lai : 29- (------) (------)
(------) Giống ṇi (ḥ)
Lạc Hồng (xàng) anh hùng (xề).-----
Bao đời (ḥ).----- đánh đuổi ngoại xâm (xg)
30- Giặc Minh (xg) rồi sẽ (xể).-----
Như giặc Tống Nguyên (xg) (------)
Chúa Công (xê) bớt ưu phiền (xề)
V́ phía trước (lỉu) c̣n nhiều truân chuyên (liu)
31- Đây (liu) chiếc áo (lỉu).-----
Của ngày khởi binh (oan) (------)
Chúa Công (liu) hăy mặc vào đi (oan)
Để nhớ (lỉu) măi lời thề (xề)
32- V́ muôn dân (liu) lướt xông tên đạn (xự)
Cứu nước thành công (xê) (------)
Chúa thánh (lỉu) kíp lên đường (xề)
Thần giải phá (lỉu) ṿng vây (liu)
L. Lợi : 33- Trông (liu) theo (lỉu).-----
Chiếc áo cửu long (oan) (------)
Giữa đám giặc Minh (liu) hùng hổ như sói lang (oan)
mà tâm can (oan).----- từng hồi đứt đoạn (xự)
34- Từ đây (xg) theo ta (xể).-----
Hận thù sôi sụt (xự) (------)
Ta sẽ (lỉu) tiến quân về (xề)
Thành Đông Quan (liu) (------).
Hồng Quang
Nguyễn Trăi (1380-1442):
Hiệu Ức Trai, cháu ngoại Tư Đồ Trần Nguyên Đán (Tôn thất nhà Trần) là con ông
Bảng Nhăn Nguyễn Phi Khanh, người làng Nhị Khê, (Hà Đông).
Ông Nguyễn Trăi thi đậu Thái Học Sinh (Tiến sĩ) đời nhà Hồ lúc 20 tuổi, giữ chức
Ngự Sử Đài. Năm 1407 giặc Minh xâm lăng, bắt giải ông Nguyễn Phi Khanh về Kim
Lăng. Ông Nguyễn Trăi theo cha đến ải Nam Quan. Ông Nguyễn Phi Khanh khuyên:
“Con hăy trở về lo trả thù cho cha, rửa hờn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà
làm ǵ?” Vâng lời cha, ông Nguyễn Trăi trở về bị quân Tàu giam lỏng ở phía Nam
thành Đông Đô (Thăng Long). Năm 1420, B́nh Định Vương về đóng ở Lỗi Giang,
Nguyễn Trăi dâng bài sách b́nh Ngô, và được tin dùng làm tham mưu, đă giúp B́nh
Định Vương đánh đuổi giặc Minh ra ngoài bờ cơi.
Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi, ông Nguyễn Trăi là đệ nhất công thần đứng đầu bên quan
văn, được mang họ vua tức Lê Trăi, và được phong tước Quan Phục Hầu. Sau khi vua
Lê Thái Tổ mất, ông bị gian thần gièm pha, nên xin về trí sĩ ở Côn Sơn, Chí Linh
(Hải Dương).
Năm 1442 vua Lê Thái Tông đi duyệt binh, ghé qua Côn Sơn thăm ông, thấy người
thiếp (vợ thứ) là Nguyễn Thị Lộ có tài sắc, bèn bắt theo hầu. Đến huyện Gia Định
(Bắc Ninh) vua nghỉ đêm tại vườn vải (Lệ Chi Viên) th́ mất. Gian thần trong
triều khép tội Nguyễn Thị Lộ giết vua, bắt ông Nguyễn Trăi và cả ba họ hành
h́nh.
B́nh Ngô Đại Cáo
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt (1) trước lo trừ bạo.
Xét như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến.
Cơi bờ sông núi đă riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lư, Trần nối đời dựng nước, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều
chủ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt không bao giờ thiếu.
Cho nên:
Lưu Cung (2) tham công mà đại bại, Triệu Tiết (3) thích lớn phải tan tành.
Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mă (4).
Việc xưa xem xét, chứng cứ rành rành.
Vừa rồi:
V́ họ Hồ chính sự phiền hà, để đến nỗi ḷng người oán hận.
Quân cuồng Minh đă thừa cơ gây họa, Bọn gian tà lại bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen (5) trên lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.
Dối trời lừa người, kế quỷ quyệt đủ muôn ngàn khóe;
Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.
Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập,
Sưu cao thuế nặng, núi chầm hết thảy sạch không.
Kẻ t́m vàng phá núi đăi bùn, lặn lội nơi lam chướng,
Người ṃ ngọc gịng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long.
Nhiễu dân, đặt cạm bẫy hươu đen,
Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.
Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,
Người góa bụa khốn cùng không một ai yên ổn.
Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,
Dựng công tŕnh thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.
Chốn châu huyện, bao từng sưu dịch,
Nơi xóm làng, lặng lẽ cửi canh.
Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa sạch tanh nhơ,
Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.
Thần người đều căm giận, Trời đất chẳng dung tha.
Ta:
Phát tích chốn Lam Sơn, nương ḿnh nơi hoang dă.
Ngẫm thế thù há đội trời chung, thề nghịch tặc khó cùng tồn tại.
Đau ḷng nhức óc đă trải mười năm, nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.
Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,
Lấy xưa nghiệm nay, lo hưng phế đắn đo càng kỹ.
Chí phục thù đă quyết, dẫu thức ngủ không quên.
Vừa khi cờ khởi nghĩa mới dấy lên,
Chính lúc thế giặc đương rất mạnh.
Thế mà:
Nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt tựa sao buổi sớm.
Bôn tẩu trước sau đă ít kẻ đỡ đần,
Vạch mưu dưới trướng lại thiếu người bàn bạc.
Chỉ v́: Chỉ muốn cứu dân, những đăm đăm muốn tiến về đông, (6)
Nên: Cỗ xe đăi hiền, vẫn canh cánh để dành phía tả.(7)
Nhưng: Được người đâu dễ, mù mịt xa vời,
Mong tự đáy ḷng, gấp hơn cứu đuối.
Phần giận quân thù chưa bị diệt, phần lo vận nước c̣n lao đao.
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, lúc Khôi huyện quân không một lữ.
Bởi trời muốn thử thách ta, để trao mệnh lớn,
Nên ta càng mài ư chí, quyết vượt gian nguy.
Dựng gậy làm cờ (8), tụ hội bốn phương manh lệ, (9)
Ḥa rượu mời lính (10), dưới trên một dạ cha con.
Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.
Rốt cuộc: Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,
Lấy chí nhân thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí do đó càng tăng, quân thanh tử đây càng dậy.
Bọn Trần Trí, Sơn Thọ, nghe hơi mà mất vía,
Lũ Lư An, Phương Chính, nín thở mong thoát thân.
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại.
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm,
Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn năm.
Tâm phúc giặc, Trần Hiệp đă phải bêu đầu,
Mọt gian giặc, Lư Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ rối, đám cháy lại càng bùng,
Mă Anh cứu nguy, lửa thù càng thêm bốc.
Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay,
Ta mưu phạt tâm công (11), không chiến cũng thắng.
Tưởng chúng phải đổi nết thay ḷng, ngờ đâu vẫn làm càn chuốc tội.
Khăng khăng cố chấp, gieo vạ cho bao người,
Thiển cạn tham công, mua cười khắp thiên hạ.
Thế rồi thằng nhăi ranh Tuyên Đức (12) hiếu chiến hung hăng, (13)
Lại sai lũ hèn nhát Thạnh, Thăng (14) đem dầu chữa cháy.
Tháng chín năm Đinh Mùi, Liễu Thăng bèn đem quân từ Khâu Ôn tiến sang,
Tháng mười cùng năm ấy, Mộc thạnh cũng chia đường từ Vân Nam kéo đến.
Ta trước đă chọn quân chẹn hiểm, bẻ mũi tiên phong,
Rồi sau lại điều binh chận đường, cắt nguồn lương giặc.
Ngày 18 tháng ấy, Liễu Thăng bị quân ta đánh bại, núi Mă Yên tử trận phơi
thây,
Ngày 25, Bảo Định Bá Lương Minh trận hăm phải bỏ ḿnh,
Ngày 28, Thượng Thư Lư Khánh kế cùng phải thắt cổ.
Ta thuận đà, đưa dao tung phá, giặc bí nước quay giáo đánh nhau.
Kế đó , lại tăng quân vây bức bốn bên,
Hẹn đến giữa tháng 10 nhất tề diệt giặc.
Kén quân t́ hổ, chọn tướng vuốt nanh,
Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi.
Đánh một trận, sạch sanh ḱnh ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Nó như kiến tan đàn, dưới bờ đê vỡ
Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô.
Đô đóc Thôi Tụ lê gối xin đầu hàng,
Thượng Thư Hoàng Phúc trói ḿnh đành chiu bắt.
Lạng giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,
Xương Giang, B́nh Than máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,
Ảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.
Binh Vân Nam bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, nơm nớp hoảng kinh trước đà vỡ mật.
Bọn Mộc Thạnh nghe quân Thăng (Liễu Thăng) bại ở Cần Trạm, xéo nhau tháo chạy,
chỉ cốt thoát thân!
Suối Lănh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông rền rĩ,
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đỏ ḷm.
Hai cánh viện binh đă gót chẳng kịp quay, thẩy đều đại bại.
Mấy thành giặc khốn cùng nối nhau cởi giáp, lũ lượt ra hàng.
Tướng giặc bị tù, nó đă vẫy đuôi xin tha mạng sống,
Oai thần không giết, ta cũng thể ḷng trời mở đức hiếu sinh.
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mă Kỳ, được cấp trước năm trăm chiếc thuyền,
đă vượt biển, vẫn hồn bay phách lạc,
Tổng binh Vương Thông, tham chính mă Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa, về nước
rồi, c̣n tim thót chân run.
Nó đă tham sống sợ chết, thực bụng cầu ḥa,
ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế cực kỳ sâu xa, mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy.
Xă tắc do đó vững bền, non sông từ đây đổi mới.
Trời đất bĩ rồi lại thái (15). Nhật nguyệt mờ rồi lại trong.
Để mở nền thái b́nh muôn thuở, để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!
Âu cũng nhờ trời đất, tổ tông linh thiêng ngầm giúp mới được như vậy.
Ôi!
Một gươm đại định, nên công oanh liệt vô song,
Bốn biển thanh b́nh, ban chiếu duy tân khắp chốn,
Bố cáo gần xa,
Mọi người đều biết.
(B́nh Ngô Đại Cáo do văn thần Nguyễn Trăi soạn bằng chữ Hán, bản dịch trích từ
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư – Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội, trang 282-288).
Chú thích:
(1) Do câu “điếu dân phạt tội” ở Kinh Thư”, nghĩa là thương xót dân, đánh kẻ có
tội.
(2) Lưu Cung: vua Nam Hán, sai con là Hoằng Tháo mang quân sang xâm lược nước
Nam, bị ngô Quyền đánh bại.
(3) Triệu Tiết: viên tướng nhà Tống sang xâm lược nước Nam bị Lư Thường Kiệt
đánh bại.
(4) Theo nguyên bản chữ Hán, Toa Đô bị bắt, Ô Mă bị giết. Bản dịch đă điều chỉnh
lại cho đúng với lịch sử.
(5) Dân đen, con đỏ chỉ thường dân.
(6) Nguyên văn chữ Hán “dục đông”, câu trong Hán thư, ư nói muốn về lấy thành
Đông Đô (Hà Nội). Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ bắt vào Tây Thục, bực dọc nói: “Ta
cũng muốn tiến về đông, sao chịu ở măi chốn này”.
(7) Nguyên văn chữ Hán “hư tả” có nghĩa không bên trái, ư muốn nói để trống chỗ
ngồi bên trái cỗ xe đợi người hiền, theo tích “Tín Lăng Quân truyện”. Tín Lăng
Quân người nước Ngụy, nghe tiếng Hậu Doanh là một hiền sĩ, đem xe đến đón, ḿnh
ngồi phía bên phải, để dành phía bên trái trong đăi người hiền.
(8) Nguyên văn: “Yết can vi kỳ”, chữ trong Hán thư, ư nói cuộc khởi nghĩa có
tính chất quần chúng rộng răi.
(9) Manh lệ: manh chỉ dân thường, nông dân; lệ là những người bị lệ thuộc, như
nô tỳ. Manh lệ là những người có thân phận hèn kém trong xă hội cũ.
(10) Nguyên văn: “Đầu dao hưởng sĩ”. xưa có viên tướng giỏi, được biếu một b́nh
rượu ngon liền đem rượu đổ xuống ḍng sông bảo quân sĩ cùng uống để tỏ ḷng đồng
cam cộng khổ từ trên xuống dưới.
(11) Mưu phạt tâm công: đánh bằng mưu trí, đánh vào ḷng người.
(12) Tuyên Đức: là niên hiệu của vua Tuyên Tông nhà Minh.
(13) Nguyên văn là: “cùng binh độc vũ” (?). Bản Hán văn trong Việt Nam Sử Lược,
trang 279 viết là: “Toại lệnh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm”, và bản
dịch là: “Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên Đức, nhàm vơ không thôi”.
(14) Thạnh, Thăng: là Mộc Thạnh và Liễu Thăng .
(15) Bĩ rồi lại thái: qua thời kỳ gian khổ, đen tối, đến thời kỳ vui sướng, tươi
sáng.
Ức Trai Nguyễn Trăi
Trí dũng hơn đời cụ Ức Trai
Mười năm đại định tỏ hùng tài
Lê triều sáng lập nêu công trạng
Minh tặc tiễu trừ tỏ đức oai
Văn nghiệp khai thông toàn đất nước
Vơ công chấn động khắp trong ngoài
Chỉ v́ chút lụy nơi chăn gối
Bút sử ngh́n năm nhỏ lệ hoài
Chính Hà
Ngũ Khúc Long Phi
Lời Non Nước (Giọt Lệ Nam Quan)
Soạn Nhạc : NS Mười Phú
Soạn lời ca : Hồng Quang (Tí Trễ)
I.Điệu Bắc :
1- Ng. Phi Khanh (-----) Bên đường (ḥ)
Nguyễn Phi Khanh bỗng dừng chân lại (xự)
2- (-----) Nguyễn Trăi con ơi (u)
Hăy về đi theo cha nữa mà chi (liu)
3- Vào đất giặc thân cha quản ǵ (xàng)
Khi với nước non cha đă vẹn toàn (ḥ)
4- Chỉ thương dân chúng mỏi ṃn (ḥ).-----
Đói rách lầm than dưới gót lũ giặc Minh (xg)
5- Là nam nhi sao con lại sụt sùi (xề)
Học thói đàn bà gẫm có ích chi (liu)
6- Hăy về đi (u) (chuyển hơi xề xàng xê) đem tài thao lược (cộng)
Pḥ minh quân (liu) đuổi giặc hung tàn (xề)
-----
II. Điệu Oán (đờn dây Tố Loan) :
7- Ng. Trăi (-----) Con nghe (oan)
Bao lời (xề) giáo huấn của phụ thân (oan)
8- Con như (u) tỉnh giấc mơ dài (xề)
Con sẽ về (xề) rừng núi Chí Linh (liu)
9- Theo người anh hùng (ḥ) áo vải Lam Sơn (xg)
Quyết đuổi giặc Minh (xê) cứu lấy sơn hà (ḥ)
10- Chỉ thương cha (xg) tuổi già sức yếu (cống)
Trong tay quân thù (xề) nơi diệu vợi quan san (liu)
11- Ôi đau ḷng (xàng) thảm cảnh ly tan (ú)
Cha ơi (liu) dạ trẻ bàng hoàng (xàng)
12- Cốt nhục rẻ chia (liu) đôi đàng (xề).-----
(Chuyển hơi Xuân) Khói sương mờ (fạn) phủ kín Nam Quan (liu)
III. Điệu Xuân :
13- Ng. Phi Khanh : Ha ha ha (------) Con của cha (liu)
Vậy mới là (xàng) anh hùng hào kiệt (xệ)
14- Cha đă trung liệt (xệ) một đời (xàng).-----
Th́ sá ǵ (xề) tử sanh (liu).-----
15- Khi giặc Minh (xang) c̣n trên quê hương (xê)
Nợ nước thù nhà (xề) con ghi nhớ (tích)
16- Về đi con trẻ (cống) hăy về đi (xg).-----
Bịn rịn làm ǵ (xàng) phút phân ly (xg).-----
17- Về nuôi lửa hận (xệ) trui rèn chí cao (liu)
Đoàn kết (ú) sát cánh bên nhau (fạn)
18- (Chuyển hơi Song Cước) Quét sạch xâm loàn (xàng) giữ an bờ cỏi (ú)
Mới xứng đáng là (xề) con cháu Rồng Tiên (liu)
IV. Điệu Song Cước :
19- Ng. Trăi : (------) Trông theo (liu)
Bước chân cha (liu) mà lệ đôi hàng (xàng)
20- Con sẽ trở lại (xệ) gia đàng (xàng).-----
Nợ nước thù nhà (xàng) nặng mang (liu).-----
21- Khắc ghi (liu).----- một quyết tâm (liu).-----
Giết giặc Minh (liu).----- rửa hờn sông núi (ú)
22- Đem hạnh phúc (liu) ấm no muôn nhà (xàng)
Trong cảnh thanh b́nh (xàng) lạc nghiệp âu ca (liu)
23- (------) Vĩnh biệt cha (liu)
Gương hy sinh (liu) anh dũng sáng ngời (xàng)
24- Cha sẽ muôn đời (ḥ) sống với nước non (xg)
(Chuyển hơi Hạ) Của giống Rồng Tiên (xê) bất khuất kiên cường (xừ)
V. Điệu Hạ :
25- (------) Đến khi (u)
Đoàn quân chiến thắng (cống) tiến vào thành Đông Quan (u)
26- Lê Lợi vi quân (ủ) Nguyễn Trăi vi thần (ĺu)
Như ước nguyện (cộng) của bá tánh lê dân (liu)
27- Sau bao năm tháng (cống) nếm mật nằm gai (xê)
Đạp lửa vùi tro (xê) dạn dày tên đạn (xự)
28- Nhà Lê (liu) chiến công oanh liệt (cộng)
Viết nên (liu) trang sử oai hùng (xàng)
29- Nhớ Nguyễn Trăi (cống) với Đại Cáo B́nh Ngô (xg)
Đă đưa nước nhà (xề) đến thắng lợi vẻ vang (u)
30- Và nơi Côn Sơn (liu) khi tuổi đă về chiều (xề)
Người vẫn nhớ hoài (xề) giọt lệ Nam Quan (liu).
... bài Ngũ Khúc Long Phi, mỗi câu 2 nhịp 32 .[/i]
CHIỀU QUAN ẢI (Bài Xướng)
Quan ải chiều buông cánh nhạn sa
Hắt hiu gió lạnh khóc t́nh nhà
Trời Ngô dơi mắt đau ḷng trẻ
Đất Việt dời chân nát dạ cha
Lệ nén lưng tṛng, thù quyết trả
Gan căm dằn bụng, hận khôn tha
Núi cao trùng điệp, thân cô lẻ
Nỗi nước, t́nh riêng ... ruột xót xa!
Chu Hà
NGUYỄN TRĂI (Bài Họa 1)
Mưu Vương Tướng Lược hạt châu sa (1)
Ưu Quốc Thần Tâm giúp nước nhà
"Từ Mệnh Quân Trung" phù giá chúa
"B́nh Ngô Đại Cáo "giữ quê cha
Hội thề Lũng Nhai trung không phản (2)
Vụ án Lệ Chi giết chẳng tha (3)
Tam tộc tru di bao khủng khiếp
Cho đời con cháu phải chia xa.
sonkhe
Chú thích :
(1) : Tại đền thờ Nguyễn Trăi tại làng Nhị Khê có hai câu đối :
Mưu Vương Tướng Lược ,Tranh Thiên Hạ
Ưu Quốc Thần Tâm ,Chiếu Đẩu Khuê
(Mưu lược của vị danh tướng giúp Vua sánh với trời đất .Tấm ḷng bầy tôi lo cho
đất nước trong sáng như sao Đẩu sao Khuê
(2) Hội thề Lũng Nhai : Nơi huyện Lỗi Giang , Lam Sơn . Nguyễn Trăi theo pḥ Lê
Lợi cùng cắt máu ăn thề với 30 vị tướng vơ phất cờ khởi nghĩa
(3) Vụ nghi án Nguyễn thị Lộ là thứ thiếp xinh đẹp cúa Nguyễn Trăi bị Vua Lê
Thái Tông vốn ham mê tửu sắc vời vào cung tại vườn Lệ Chi (xưa kia là chốn ly
cung đời Lư, Trần ) .Vua thấy Thị Lộ đẹp quá bỗng lăn đùng ra ...chết ! nên
Nguyễn Trăi bị Tru di tam tộc.
Ức Trai Tiên Sinh (Bài Họa 2)
Nam Quan tiễn biệt, bóng chiều sa,
Thương nước điêu linh, xót phận nhà!
Nuốt lệ, quay về lo nợ nước,
Ngậm hờn, ngoảnh lại nhớ thù cha.
Quyết đem đại nghĩa: hung tàn, diệt!
Thề lấy ḷng nhân: bại tặc, tha!
Công đức b́nh Ngô, trung với chúa
Ức Trai danh vọng khắp gần xa.
Vương Sinh
NGUYỄN TRĂI ANH HÙNG DÂN TỘC
Lam Sơn rực rỡ ngọn cờ vàng
Nguyễn Trăi pḥ Vua lảnh chức Quan
Khởi nghĩa tế cờ Vương B́nh Định
Nằm gai nếm mật chẳn mười năm
Ngói tan trúc chẻ Ải Chi Lăng
Xử trí, dụng mưu khiến giặc* hàng
Nguyễn Trăi v́ dân khuyên lợi thế
Binh đao chấm đứt để b́nh an
Việt Nam lịch sử lại huy hoàng
Núi Tản, Sông Lô thắm giang san
Ḥa thuận vang danh nề nếp mới
B́nh Ngô Đại Cáo khắp nơi ban
Nước ta Đại Việt văn minh cũ
Gấm vóc non sông lại phú cường
Bốn bể thanh b́nh ơn Thái Tổ
Nhà nhà no ấm khắp quê hương
Hàn Lâm Thừa Chỉ lộc Vua ban
Quốc Tính Hoàng Lê*** dựng nghiệp phần
Lễ nghĩa miếu đường an trí cả
Huấn Ca Gia đạo dạy b́nh nhân
Chí tâm, nguyện đạt, nay vừa đủ
Nguyễn Trăi từ quan để ẩn cư
Phú quí công danh là ảo mộng
Phù vân bất trắc thực như hư
Côn Sơn Nguyễn Trăi sống an thân
Vui thú điền viên dạy học hành
Lấy đức tu thân cho cháu chắt
Nhưng Vua ban tước khó từ nan
Hồi cung, Nguyễn Trăi thi Khoa Hội
Đỗ Trạng Quan Hành Khiển chức cao
Tế thế an bang tài sở đắc
Những mong thịnh trị đến ngàn sau
Nào ngờ ngộ biến Lệ Chi Viên
Nhan sắc là đây, bẫy bất tường
Thị Lộ hay thơ, tài mẩn tiệp
Trai tài gái sắc kết uyên ương
Thái Tông Vua trẻ nghe đồn đại
Thị Lộ đẹp xinh vốn khác thường
Nhan sắc Vua mê nàng Học Sĩ**
Cho vời giữ măi chốn Hoàng cung
Một hôm xa giá về Gia Định
Ngủ đỡ tối trời ở Lệ Chi
Thược dược thấm nhuần cơn thụy vũ
Đột nhiên tai họa đến liền khi
Lệ Viên Chi ấy Vua băng hà
Nguyễn Trăi hàm oan tội khó tha
Tam tộc đồng đường đều xử trảm
Chức cao dạ thẳng chịu oan gia
Gió may heo hắt Tây Hồ thổi
Xao xác ngàn cây rụng lá vàng
Thị Lộ, Ức Trai, cùng quyến thuộc
Hành h́nh thảm sát thịt xương tan
Phải chăng nghiệp báo từ xa thẳm
Kết nối ṿng dây thắt mối oan
Nguyễn Trăi anh hùng công dựng nước
Ngàn sau nhắc nhớ, lệ dâng tràn!
Ngọc Anh·
*Giặc Minh
** V́ công trạng với Vua quá lớn, nên Nguyễn Trăi được vua ban Quốc Tính, và sử
sách thường chép Lê Trăi, Hoàng Lê dựng nghiệp
*** Vua ban Thị Lộ chức Lễ Nghi Nữ Học Sĩ
Nguyễn Thị Lộ (?-1442)
Là người thiếp yêu (vợ thứ) của Nguyễn Trăi, quê làng Hải Trào, tỉnh Thái B́nh.
Bà có tài, có sắc, ngụ ở Tây Hồ, dệt và buôn bán chiếu. Một giai thoại văn
chương kể rằng: Một hôm Nguyễn Trăi đi qua Tây Hồ gặp nàng bán chiều xinh đẹp
mới ngỏ lời bằng mấy câu thơ:
“Ả ở đâu mà bán chiếu gon?”
“Hỏi thăm chiếu ấy hết hay c̣n?”
“Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi?”
“Đă có chồng chưa? Được mấy con?”
Bà Nguyễn Thị Lộ bèn ứng khẩu đáp:
“Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon”
“Can chi ông hỏi hết hay c̣n?”
“Xuân xanh chừng độ trăng tṛn lẻ”
“Đă có chồng đâu, hỏi mấy con”
Nguyễn Trăi đă cưới nàng về làm thiếp. Sau bà được vua Lê Thái Tông phong làm Lễ
Nghi Nữ Học Sĩ.
Năm 1442 (ngày 4 tháng 5 Nhâm Tuất) Lê Thái Tông ghé qua thăm Nguyễn Trăi đă bắt
bà Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Đến vườn vải nghỉ đêm th́ vua chết đột ngột. Ba họ
nhà bà Nguyễn Thị Lộ cùng ba họ của chồng bà là Nguyễn Trăi đều bị giết chết
(chu di tam tộc).
Ngh́n Thu Vết Nhục
Biêng biếc đầu cành ngợp bóng trăng
Đây vườn vải chín, gió thênh thang
Quân Vương say cảnh, ḷng phơi phới
Thiếu phụ buồn duyên, dạ ngổn ngang
Tài sắc trời ghen se chỉ nghiệt
Công danh đất ghét thắt giây oan
Ngh́n thu vết nhục khôn mong rửa
Nhắn gửi người yêu có thấu chăng?
Vương Sinh (12/04)
Vụ án Lệ Chi Viên
Chênh chếch buồn thương toả ánh trăng !
Lệ chi viên oán tít cung thang
Môi hờn c̣n ngậm son dang dở
Má tủi vẫn thoa phấn trái ngang
Sắc chiếu nhất thời ,duyên nghiệt ngă !
Chu di tam tộc ,phận hàm oan !
Bao đời sử sách luôn y án
Nhân Quả bầy ra ,ngă ngũ chăng ?
Sơn Khê
Nguyễn Thị Lộ
Dáng ngọc trên vai gánh chiếu gon
Niên hoa vừa chớm nguyệt thu tṛn
Ức Trai ví chẳng t́nh thơ mộng
Thị Lộ đâu hay nghĩa nước non
Hành Khiển luyến tài mà chịu mất
Thái Tông hiếu sắc cũng không c̣n
Nàng cam chịu tội oan khiên ấy
Để giúp thuyền Lê vượt sóng cồn
Chính Hà
Mùa Xuân Trên Ải Nam Quan
Lại một mùa xuân
Trở về trên ải Nam Quan.
Hoa đào nở rộ, chim hót lừng vang.
Rừng Việt Bắc bỗng cựa ḿnh thức dậy,
Hùng vĩ, rộn ràng chào đón chúa Xuân.
Ải Chi Lăng vang vọng: Tổ Tiên oai hùng
Con dân Việt hănh diện vô cùng
Thành quả khai bờ, dựng cơi của cha ông.
Con c̣n nhớ không?
Thế kỷ thứ mười (1) Tống quân xâm lược,
Ải Chi Lăng, Hầu Nhân Bảo mạng vong.
C̣n nhớ không?
Lư Thường Kiệt người anh hùng muôn thuở
Đánh Ung, Khâm, Liêm, quân Việt giữ Nam Quan.
Tống Thần Tông khóc hận đến hai lần,
Xua quân xâm lăng, chỉ mang về thất bại.
Như Nguyệt là mồ chôn vạn Bắc quân
C̣n nhớ chăng?
Thắng quân nghịch, nước ta giành độc lập
“Nam Quốc Sơn Hà” từ đấy của dân Nam.
C̣n nhớ chăng?
Thế kỷ mười ba, quân Nguyên Mông trải ba lần xâm lược,
Đă ba lần vượt ải Nam Quan.
Đoàn quân bạo tàn
“Mười người đi chín người không trở lại” (2)
Nam Quan kiêu hùng giữ vững nước Nam
Những giọt nước mắt chan ḥa t́nh người của Nguyễn Trăi,
Tiễn đưa cha, đă biến thành “đại nghĩa thắng hung tàn”
Những lời khuyên con chí t́nh, chí nhân của Nguyễn Phi Khanh
Đă biến thành sức mạnh hào hùng thay cường bạo.
Ôi Nam Quan!
Biên ải nước Nam đă mấy ngàn năm
Pha Lũy, Lạng Sơn hay Bắc Ải
Cũng là ranh giới tại Nam Quan.
Hôm nay mùa xuân trở về tươi đẹp quá,
Mùa xuân trong ḷng người Đại Việt.
Mùa Xuân Việt Nam bất diệt
Hăy nguyện thề không để mất Nam Quan.
Vương Sinh
(1) Năm 981
(2) Ngạn ngữ Trung Hoa: “Quỷ Môn quan, Quỉ Môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân
hoàn” (Quỷ Môn quan, Quỷ Môn quan, mười người đi, chỉ có một người về).
Ải Chi Lăng
Năm xưa qua đảo Mă Pha
Cuối thu trời ngă dần dà qua đông
Gió mai sao lộng dưới đồng
Ngàn lau theo gió gọi đông trở về
Vọng lên những tiếng năo nề
Khiến hồn Minh tặc bị mê trận đồ
Liễu Thăng kêu thét dưới mồ
Giờ đây phảng phất mơ hồ vọng ra
Quỷ không đầu dưới chiều tà
Sợ gươm Lê sát sáng ḷa hoàng hôn
Qua đây ḷng những bồn chồn
Chi Lăng ải ấy gọi hồn nước non
Chính Hà
Lời Thề Trên Ải Nam Quan
Ải Nam Quan, Ải Nam Quan!
Sương tỏa trùng trùng,
Gió rít căm căm.
Nh́n về Bắc: kẻ thù hung bạo.
Ngoảnh lại Nam: trắng một mầu tạng
Kinh thành đổ nát,
Làng mạc tan hoang.
Dân bỏ xứ, gánh gồng chạy loạn.
Tướng buông gươm, quốc phá gia vong!
Giặc tràn về, vườn không nhà trống.
Tô Thị bồng con, đá cũng soi ṃn!
Ải Nam Quan, Ải Nam Quan!
Thân ngă ngựa, anh hùng nuốt hận.
Bước lưu đầy, xiềng xích khua vang!
Tiễn đưa cha, ḷng đau ruột thắt,
Níu vai con, nước mắt hai hàng.
Ải Nam Quan, Ải Nam Quan!
Xuân chợt đến, chạnh ḷng cố quốc!
Rượu mặn môi, thổn thức năm canh...
Nam Quan! Hỡi Nam Quan!
C̣n văng vẳng lời thề trên đỉnh hú?
"Con phải về, cứu lấy giang san!"
[b]Song Thuận