Sử Thời Ngô Quyền

Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử:

Ngô Quyền xưng Vương, lập ra nhà Ngô (939-965), đóng đô ở Cổ Loa (Phúc Yên), làm vua 6 năm, thọ 47 tuổi và. truyền được 2 đời, kéo dài 26 năm. Lúc đó đất nước bị chia cắt do 12 sứ quân trấn giữ, đánh lẫn nhau:
- Tiền Ngô Vương (939- 945)
- Dương Tam Kha (945-950)
- Hậu Ngô Vương (950- 965)

Ngô Vương Quyền Xây Nền Độc Lập Dân Tộc:

Kể từ nhà Hán đánh lấy nước Nam Việt (111 trước Tây Lịch), cho đến khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán giành lại nền độc lập dân tộc (938), nước ta bị Tàu đô hộ vừa đúng 1050 năm, không kể những thời kỳ giành được độc lập ngắn ngủi như thời Trưng Nữ Vương (40-43) và thời nhà Tiền Lư (544-602).

Sau khi giành được nền độc lập, Ngô Vương Quyền đă nghĩ ngay đến kế hoạch lâu dài: đặt quan chức, chế triều nghi, định phục sắc, và chỉnh đốn việc chính trị trong nước.

Những Thời Kỳ Bắc Thuộc

Nước Nam bị lệ thuộc nhà Tây Hán bắt đầu từ năm 111 trước Tây Lịch (Bắc thuộc lần thứ nhất) cho đến năm 40 Trưng Nữ Vương giành lại nền độc lập được 3 năm.

Nhà Đông Hán (25-220) lên thay, đô hộ nước Nam (Bắc thuộc lần thứ hai) tới năm 220 th́ xẩy ra biến loạn thành ra Tam Quốc (220-265) gồm ba nước Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô.

Nước Nam tiếp tục bị Đông Ngô cai trị. Sau Đông Ngô là nhà Tấn (265-420), rồi Nam Bắc Triều(420-588) gồm có nhà Ngụy, Tề, Chu ở phía Bắc và nhà Tống, Tề, Lương, Trần ở phía Nam. Nước Nam (tức Giao Châu) thuộc về nhà Tấn.

Thời Nam Bắc Triều, Giao Châu bị nhà Lương cai trị. Thứ Sử Tiêu Tư rất tàn bạo, nên ông Lư Bôn (Lư Nam Đế) đă nổi lên giành lại quyền tự trị , lập ra nhà Tiền Lư (544-602), đặt tên nước là Vạn Xuân, truyền được hai đời trong ṿng 58 năm, trong đó bao gồm Triệu Việt Vương (549-571) nối nghiệp không thuộc họ Lư.

Triệu Việt Vương tức Triệu Quang Phục, được Lư Nam Đế giao binh quyền, đă lập chiến khu ở đầm Dạ Trạch là chốn đồng lầy, đánh du kích chống Trần Bá Tiên.

Nhà Tùy (589-617) thống nhất được nước Tàu, tiếp tục đô hộ nước Nam ta (Bắc thuộc lần thứ ba).

Sau nhà Tùy là nhà Đường (618-907) cai tri Giao Châu bằng chính sách tàn bạo nhất. Đến giai đoạn này, phần đất Quảng Châu của nước Nam Việt xưa bao gồm vùng Lưỡng Quảng đă hoàn toàn bị Tàu đồng hoá . Nhà Đường chia Giao Châu thành 12 châu và đặt ra An Nam Đô Hộ phủ (nước ta gọi là An Nam từ đấy) để cai trị (Đô Hộ là một chức quan cai trị).

Mai Hắc Đế tức Mai Thúc Loan (722)Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (791) nổi dậy trong thời kỳ này.

Sau nhà Đường là Đời Ngũ Quí (907-959) gồm có nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm vua.

Khúc Thời Dụ (906-907) nổi dậy được nhà Đường lúc đó sắp mất ngôi phong làm Tĩnh Hải (nhà Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải) Tiết Độ Sứ (tương tự Thứ Sử).

Khúc Hạo (907-917) thay cha làm Tiết Độ Sứ, lập ra lộ, phủ, xă các nơi, đặt quan lại, sửa sang thuế má sưu dịch...truyền đến đời Khúc Thừa Mỹ (917-923) th́ bị vua Nam Hán là Lưu cung sai tướng Lư Khắc Chính và Lư Tiến sang đánh chiếm Giao Châu.

Dương Diên (Đ́nh) Nghệ (931- 937) là tướng của Khúc Hạo nổi dậy đánh đuổi Lư Khắc Chính và Lư Tiến đi rồi tự xưng là Tiết Độ Sứ. Năm 937 Dương Diên Nghệ bị thuộc tướng là Kiều Công Tiễn giết chết, tiếm quyền.

Ngô Quyền người làng Đường Lâm, vừa là tướng vừa là con rể Dương Diên Nghệ. Khi nghe tin cha vợ bị Kiều Công Tiễn giết chết, Ngô Quyền bèn kéo quân từ Ái Châu ra đánh báo thù.

Kiều Công Tiễn cho người sang cầu cứu Nam Hán, được vua Nam Hán là Lưu Cung sai Thái tử Hoằng Tháo mang quân xâm lăng nước Nam. Đích thân vua Nam Hán đem đại quân đi sau tiếp ứng.

Chiến Thắng Bạch Đằng Giang (938)

Khi quân Hoằng Tháo đến gần sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đă giết được Kiều Công Tiễn, liền sai quân cắm cọc bịt sắt nhọn dưới ḷng sông Bạch Đằng, chờ thủy triều lên cao, mới cho quân ra khiêu chiến, rồi giả thua dụ cho chiến thuyền giặc đuổi theo vào ổ phục kích. Khi thủy triều rút xuống, Ngô Quyền hồi quân đánh ập lại, quân Nam Hán thua chạy khiến bao nhiêu chiến thuyền đều bị vướng cọc đắm cả. Hoằng Tháo bị Ngô Quyền bắt được, đem giết đi.

Vua Nam Hán hay tin, khóc lóc rút quân về Phiên Ngung, không dám sang nước Nam quấy nhiễu nữa.

Ca tụng Ngô Quyền, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư viết: “Vua mưu tài đánh giỏi, làm nên công tái tạo, đứng đầu các vua”.

Lê Văn Hưu nói: ”Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng Vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy.”

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Tiền Ngô (Vương) nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của bậc đế vương.”


Thơ Ca Vịnh


Triệu Việt Vương Và Đồng Lầy Dạ Trạch

Thế kỷ thứ 6 (năm 544), Lư Bôn ở huyện Thái B́nh đă nổi lên đánh đuổi Thứ Sử Giao Châu là Tiêu Tư về Tàu, chiếm lấy thành Long Biên rồi xưng là Nam Việt Đế , lập ra nhà Tiền Lư (544-602), và đổi tên nước là Vạn Xuân.
Một năm sau, nhà Lương sai Trần Bá Tiên sang đánh , Lư Nam Đế thua chạy và giao binh quyền lại cho Triêu Quang Phục.tiếp tục kháng chiến!
Triệu Quang Phục thấy quân Tàu c̣n mạnh, bèn rút lui vào khu đồng lầy Dạ Trạch và áp dụng chiến thuật “du kích”, đêm đêm đánh phá giặc để lấy lương thực nuôi quân, rồi tới sáng hôm sau lại rút sâu vào trong khu Đầm Lầy ẩn náu.
Bá Tiên đánh măi không thắng, sau bị gọi về Tàu, để lại viên t́ tướng Dương Sàn.
Triệu Quang Phục bèn xuất quân đánh đuổi Dương Sàn đi, rồi chiếm lại thành Long Biên, xưng là Triệu Việt Vương (549-571).
Về sau, có Lư Phật Tử là người trong họ nhà Lư đem quân đến tranh chấp, đánh thành Long Biên, nhưng đánh măi không được, mới xin chia đất giảng hoà, lấy băi Quân thần làm ranh giới. Triệu Việt Vương bằng ḷng, gả con gái cho Lư Phật Tử để kết thân.. Nhưng đến năm 571. Lư Phật Tử th́nh ĺnh đem quân đánh lấy thành Long Biên khiến Triệu Việt Vương thua chạy, phải nhẩy xuống sông Đại Nha tự vẫn. Dân chúng cảm nhớ, lập đền thờ chỗ sông Đại Nha, làng Đại Bộ (Nam Định).

Vịnh Triệu Việt Vương


Dạ Trạch đồng lầy, xây mật khu
Triệu Vương kiên quyết chống quân thù
Đêm đen tiến tới công thành địch
Ngày rạng lui về ẩn thảo lư (1)
“Tập kích” mở ra trang chiến sử
“Tàng h́nh” đóng lại mục binh thư
Bá Tiên, Lương chúa đều kinh sợ (2)
Hùng khí Đại Nha (3) măi chẳng lu!
Vương Sinh

Ghi chú:
(1) Thảo lư: Nhà bằng cỏ, nhà kẻ ở ẩn, chỉ nơi ẩn nấp của quân kháng chiến.
(2) Bá Tiên tức Trần Bá Tiên là tướng nhà Lương. Lương chúa là Vua Vũ Đế nhà Lương.
(3) Đại Nha: Tên con sông ở Nam Định, nơi Triệu Việt Vương tử tiết và được dân chúng lập đền thờ.

Vịnh Triệu Quang Phục

T́nh thầy nghĩa tớ cảnh non sông,
Dạ Trạch hồ kia luống chạnh ḷng.
Đạc đất chửa yên điềm bạch độc,
Khấn trời may được dấu hoàng long.
Tỏ danh bốn bể con nhà Triệu,
Yên gối muôn dân giống nước Hồng.
Hương lửa năm năm đền Độc Bộ,
Ấy ai du tử biết chăng không?
Trần Duy Vân


Mai Hắc Đế (722-723)

Tên thật là Mai Thúc Loan, người huyện Thiên Lộc, Hoan Châu (huyện Can Lộc Hà Tĩnh - Nghệ An). Thời đó, nhà Đường đô hộ rất tàn bạo. Năm 722 Mai Thúc Loan cùng con là Mai Thúc Huy nổi dậy chống quân nhà Đường, chiếm phủ thành ở Hoan Châu tự lập làm vua, tục gọi là Mai Hắc Đế (v́ vua có nước da ngăm đen). Vua cũng đă ngoại giao liên kết với các nước Lâm Ấp (Chiêm Thành) và nước Chân Lạp (Cao Miên) để tính kế lâu dài. Vua nhà Đường sai quan nội thị Dương Tư Húc và quan Đô Hộ Quang Sở Khách đem quân sang đánh. Mai Hắc Đế thế yếu, rút quân về giữ núi Vệ, rồi đột ngột mất vào năm 723. Nay ở Vệ Sơn tỉnh Nghệ An c̣n di tích thành cũ của Mai Hắc Đế, và ở huyện Nam Đường (Nam Đàn) có đền thờ Mai Hắc Đế và Mai Thúc Huy.


Vịnh Mai Hắc Đế

Nhà Đường đô hộ hại dân
Nước non điêu đứng muôn phần khó khăn
Họ Mai tên gọi Thúc Loan
Huyện nhà Thiên Lộc vẹn toàn vơ văn

Đứng lên nghĩa dũng chiêu an
Xây thành đắp luỹ Châu Hoan giữ ǵn
Ngoài cùng Lâm ấp kết t́nh
Giải hoà Chân Lạp giữ ḿnh lân bang
Vũ Thị Thiên Thư

Ngô Vương Quyền

Mở đường độc lập nước Nam ta
Nhờ có Ngô Vương đă đứng ra
Trừng phạt phản thần Kiều loạn đảng
Báo đền minh chủ Dương Tam Kha
Đánh quân Nam Hán yên bờ cơi
Diệt tướng Hoằng Thao vững nước nhà
Tiếng sóng Bạch Đằng reo rộn ră
Triều nghi thiết lập ở Thành Loa
Chính Hà
Mạnh Thu Đinh Măo

Thơ vịnh
Chiến Thắng Bạch Đằng Giang (938)


Băi cọc nhô lên, nước rút nhanh
Đoàn thuyền Nam Hán lật tan tành
Kinh hồn tướng giặc, gươm vung tới
Khiếp vía quân thù, giáo bủa quanh
Hoằng Tháo mạng vong, tàn cuộc chiến
Lưu Cung thảm bại, hết phân tranh
Bạch Đằng dậy sóng tiêu xâm lược
Đại thắng Ngô Quyền, rạng sử xanh
Vương Sinh

Ngô Quyền (Bài Họa)

Ngô Quyền đoạt sóng , diệt thù nhanh
Thủy chiến Đằng Giang đă tập tành
Cọc sắt hờn sâu chôn đáy kín
Ḷng son hận ngút dấy xung quanh
Mưu thần độc lập xoay thời chiến
Chước quỷ hoành hành đoạt thế tranh
Triều nước nổi ch́m tiêu diệt giặc
Gươm thần loé sáng dưới trời xanh
Sơn Khê

Đằng Giang Chiến Sử

Hận nước thù nhà quyết báo nhanh
Đằng Giang dậy sóng giặc tan tành
Dụng mưu cọc sắt ḷng sông ẩn
Lập kế gươm đao băi chiến quanh
Hoàng Tháo binh hùng phô thế mạnh
Ngô Gia lực yếu hiểm giao tranh
Ngọn triều dâng nuớc thiên cơ định
Khúc hát thanh b́nh vọng luá xanh
Vũ Thị Thiên Thư

Bạch Đằng Giang

Ba lần nổi sóng chống Trung Hoa
Đây Bạch Đằng Giang cứu nước nhà
Bát thánh Nam triều bầy thủy chiến
Ba quân Bắc tặc sợ phong ba
Ngô Quyền đóng cọc xua quân tới
Hưng Đạo d́m thuyền đuổi giặc ra
Gió lộng triều dâng bao lớp lớp
Sông Đằng rửa nhục Việt Nam ta
Chính Hà Đông sơ Đinh Măo (25-11-1987)