Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử

Họ Hồng Bàng:

Những nhà viết sử gọi chung các v́ vua nước Nam từ đời Kinh Dương Vương dựng nước (2879 trước Tây Lịch), truyền qua Lạc Long Quân tới hết 18 đời vua Hùng (258 trước Tây Lịch) là họ Hồng Bàng.

Kinh Dương Vương Dựng Nước:

Theo truyền thuyết (1), “Kinh Dương Vương làm vua các dân tộc bách Việt, trong đó dân tộc Lạc Việt hùng mạnh nhất, chiếm cứ vùng đất rộng lớn ở phía nam Ngũ Lĩnh, bắc giáp Động Đ́nh Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), Phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 trước Tây Lịch, lấy con gái Động Đ́nh Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lăm tức Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, đẻ ra một trăm trứng, nở ra một trăm con được gọi là “con Rồng cháu Tiên” hay “Trăm con Lạc Việt”.

Về sau, 50 con theo cha Lạc Long xuống biển, 50 con theo mẹ Âu Cơ lên rừng về phương nam lập ra nước Văn Lang. Người con trưởng lên làm vua nước Văn Lang, hiệu là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc về tỉnh Phú Thọ), cai trị dân bằng thể thức thắt nút giải lụa xanh, có ấn bằng đồng làm hiệu lệnh (3). Các quan Lạc Tướng (quan vơ), và Lạc Hầu (quan Văn) phụ tá vua; các quan Bồ Chính coi sóc dân chúng. Con trai vua gọi là Quan Lang (hoàng tử), con gái vua là Mị Nương (công chúa), đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo.
Nước Văn Lang chia ra 15 bộ, nay thuộc về miền Bắc và vài tỉnh miền Trung Việt Nam.
Hùng Vương truyền được 18 đời, từ Hùng Vương thứ nhất đến Hùng Vương thứ mười tám. Họ Hồng Bàng trị v́ từ năm 2879 trước Tây Lịch đến năm 258 trước Tây Lịch, tổng cộng 2622 năm (?). là một nghi vấn sử. Tuy nhiên, đó chỉ là truyền thuyết.




Thời Kinh Dương Vương tương đương với thời Tam Hoàng, Ngũ Đế (2900 – 2350 trước Tây Lịch) mở nước Trung Hoa (về phía bắc Động Đ́nh Hồ), và thời đại cổ sử Ai Cập (khoảng 3000 năm trước Tây Lịch) (2).

Người Lạc Việt sống định cư, rất giỏi bơi lội và chèo thuyền, thường sinh sống bằng nghề bắt cá, biết trồng lúa nước trên các thửa ruộng gọi là ruộng Lạc, và săn bắt thú trên rừng. V́ thường xuyên bơi lội, kiếm ăn dưới nước, nên người Lạc Việt có tục vẽ ḿnh, tin tưởng rằng những loài thủy quái như giao long, thấy thế tưởng là đồng loại, sẽ không giết hại.

Người Lạc Việt thời Hùng Vương c̣n có tập tục nhuộm răng, ăn trầu, thích ăn cá, mắm, tôn kính Trời và thờ cúng Tổ Tiên, mặc áo cài nút bên trái, cắt tóc ngắn, khi ngồi th́ xếp ṿng tṛn, khi đứng th́ khoanh tay, rất lễ độ, hiếu khách và kính trọng người có tuổi (4)

Truyền thuyết “Trăm con” nói lên được nhiều ư nghĩa về t́nh đồng bào (dân một nước coi nhau như ruột thịt), về ước vọng đoàn kết dân tộc cũng như về đời sống sơ khai của dân tộc Lạc Việt.

Thời Hùng Vương:

Hùng Vương là tên gọi chung của 18 đời vua Hùng, được coi là Quốc Tổ (5) của dân tộc Việt ngày nay.
Dưới thời Hùng Vương, có hai câu chuyện truyền thuyết được dân Việt truyền tụng: Đó là chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh và chuyện Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân.

Chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh:

Mị Nương là con gái vua Hùng thứ 18, xinh đẹp tuyệt trần, nên Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai vị Thần Núi và Thần Sông đều muốn hỏi làm vợ. Vua Hùng giao hẹn sáng hôm sau, ai mang đồ sính lễ đến trước th́ vua gả con gái cho.
Hôm sau, Thủy Tinh đến trước lấy được Mị Nương đem về núi Tản Viên (núi Ba V́ tỉnh Sơn Tây). Thủy Tinh đến sau, không lấy được Mị Nương nên tức giận vô cùng, bèn làm phép cho mưa to gió lớn, nước lụt dâng lên đánh Sơn Tinh. Nhưng Sơn Tinh cũng có phép, hễ nước dâng lên bao nhiêu, lại làm cho núi cao lên bấy nhiêu. Sơn Tinh dùng sấm sét đánh xuống, khiến Thủy Tinh thua phải rút nước chạy.
Thủy Tinh thù Sơn Tinh, nên năm nào cũng đánh nhau, khiến nước lụt dâng lên, dân gian vô cùng cực khổ (6).

Chuyện Phù Đổng Thiên Vương:

Chuyện xẩy ra vào đời Hùng Vương thứ 6, khi đó giặc Ân rất cường bạo và hung hăn, xâm lăng nước Văn Lang, quân tướng ta đều thua trận.

Vua Hùng và các quan rất lo sợ, mới truyền lệnh khắp nước t́m người tài giỏi để giúp vua đánh giặc. Tại làng Phù Đổng, có cậu bé lên ba mà chưa biết nói. Khi nghe được lời truyền của vua, cậu bé liền nói được và nhờ sứ giả tâu vua cho đúc ngựa sắt cùng roi sắt để đi đánh giặc.

Khi ngựa và roi sắt đúc xong, cậu bé vươn vai trở thành một thanh niên cao lớn, cưỡi ngựa cầm roi đi đánh đuổi giặc Ân.

Giặc tan, cậu bé cũng biến mất trên núi Sóc Sơn. Vua biết ơn, cho lập đền thờ ở làng Phù Đổng, và phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Ghi chú:

(1) “Truyền thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch sử, được thêm thắt hoặc được tiểu thuyết hóa, và được truyền tụng từ người nầy qua người khác, từ đời nầy qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch sử có thật”. (Trần Gia Phụng - Những Câu Chuyện Việt Sử). Như vậy, trong câu chuyện truyền thuyết cũng có phần sự thật
(2) Nguyễn Hiến Lê - Sử Trung Quốc, Văn Nghệ xuất bản- cho rằng thời kỳ này ch́ là tưởng tượng của dân Trung Hoa.
Tài liệu Art and History of Egypt của Alberto Carlo Carpiceci, Bonechi xuất bản, cho biết đệ nhất đế chế (1st dynasty) cổ Ai Cập xẩy ra vào năm 3000 BC (trước Tây Lịch), thủ đô Abydos (Thinis). Kim tư tháp bậc thang (stepped pyramid) là kim tự tháp đấu tiên được xây cất tại Ai Cập vào năm 2770 trước Tây Lịch.
(3) Phạm Cao Dương, sách đă dẫn trang 38.
(4) Lê Tắc, sách đă dẫn trang 70.
(5) Người Việt có tập tục tỏ ḷng biết ơn và tôn kính những vị anh hùng, coi như cha mẹ ḿnh. Các vị vua Hùng lập ra nước Văn Lang là nước Việt Nam ngày nay, nên được tôn vinh là Quốc Tổ. Trên núi Ngũ Lĩnh, tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú), Bắc Việt Nam hiện có Đền thờ các vị vua Hùng và nhiều di tích lịch sử.
(6) Câu chuyện này ứng vào lịch sử lũ lụt hàng năm tại Bắc Việt, do nước lũ từ mạn ngược chảy về đồng bằng



THƠ CA VỊNH

Đức Thần Nông

Cờ Viêm phất phới ngất trời đông
Của Đức Thần Nông tổ Lạc Hồng
Kéo vượt núi rừng từ phía Bắc
Băng qua đồng ruộng tới Châu Phong
T́m ra Mễ Thảo đang cày cấy
Kiếm được Dược Hoa để tỉa trồng
Bảo vệ giống ṇi sinh trưởng măi
Công Ngài trường tại với non sông
Chính Hà - Sơ Thu Đinh Măo (8-1987)





Ngọn Cờ Viêm

Giỗ Đức Hùng Vương tổ nước nhà
Mồng mười nhằm tiết tháng ba ta
Dân non trăm triệu tươi cành lá
Nước ngót ngh́n năm đẹp cỏ hoa
Công đức bao trùm cùng vũ trụ
Ân t́nh lan toả khắp sơn hà
Cờ Viêm một thuở Châu Phong dựng
Nối tiếp muôn đời phất phới xa
Chính Hà (Sơ thu Đinh Măo, 1987 )




Quốc Mẫu Âu Cơ

Một mẹ trăm con gánh núi sông
Đảm đang gầy dựng giống Tiên Rồng
Văn Lang một cơi vươn tay đắp
Ngũ Lĩnh bao vùng để mắt trông
Văn hiến Hùng Vương, trau chuốt ngọc
Thuần phong Lạc Việt, điểm tô hồng
Năm châu Phụ nữ trong truyền thuyết
Quốc mẫu Âu Cơ đẹp nét hùng.
Vương Sinh


Tiên Rồng

Trứng Tiên một bọc nở ra Rồng
Trụ bốn ngàn năm tại cơi Đông
Đinh, Lư kiêu hùng xây đất nước
Trần, Lê tự chủ giữ non sông
Tống, Nguyên khiếp viá khi xâm lấn
Thanh Măn kinh hồn lúc bại vong
Vạn kiếp, Bạch đằng vang chiến tích
Muôn đời rạng rỡ giống Tiên Long.
Hà Việt Văn





Lời Mẹ Âu Cơ

Năm ngàn năm xưa đó
Con c̣n nhớ hay không?
Mẹ thường ru con ngù
Trong chiếc nôi Lạc Hồng.

Quê hương ta thuở ấy
Trời đất rộng mênh mông
Từ Động Đ́nh ra biển
Ba Thục tới Hồ Tôn...

Tổ Tiên ta Lạc Việt
Khởi đầu Kinh Dương Vương
Làm vua miền Ngũ Lĩnh
Cùng người Hán tranh hùng!

Cha con Lạc Long Quân
Ḍng dơi thần Giao Long
Mẹ cùng cha kết hợp
Tạo nên giống Tiên Rồng.

Một ngày con lớn khôn
Mẹ nước mắt tuôn ḍng
Năm mươi con xuống biển
Đi theo cha Lạc Long...

Năm mươi con theo Mẹ
Cùng vượt suối băng ngàn
Về miền nam nắng ấm
Ta dựng nước Văn Lang

Năm ngàn năm xưa đó
Nước ta thật huy hoàng
Trời Nam riêng một cơi
Mười tám đời vua Hùng...

Trăm con cùng một Mẹ
Trăm tộc cùng một tên*
Có khi nào xung khắc
Hăy nhớ t́nh anh em!

Đừng bao giờ quên nhé
Chúng ta người Việt Nam!
Song Thuận (2001)

*Hàng trăm bộ tộc Bách Việt có cùng một tên là Việt, như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt...







Hùng Vương và nước Văn Lang

Hùng Vương đô ở châu Phong,(1)
Ấy nơi Bạch Hạc, (2) hợp ḍng Thao giang. (3)
Đặt tên là nước Văn Lang,
Chia mười lăm bộ, bản chương (4) cũng liền.
Phong Châu, Phúc Lộc, Chu Diên,
Nhận trong địa chí về miền Sơn Tây;
Định Yên, Hà Nội đổi thay,
Ấy châu Giao Chỉ, xưa nay c̣n truyền.
Tân Hưng là cơi Hưng, Tuyên,
Vũ Ninh tỉnh Bắc, Dương Tuyền tỉnh Đông.
Thái, Cao hai tỉnh hỗn đồng,
Ấy là Vũ Định tiếp cùng biên manh; (5)
Hoài Hoan: Nghệ; Cửu Chân: Thanh;

Việt Thường là cơi Trị, B́nh trung châu.
Lạng là Lục Hải thượng du
Xa khơi Ninh Hải thuộc vào Quảng Yên.
B́nh Văn, Cửu đức c̣n tên,
Mà trong cương giới sơn xuyên chưa tường.
Trước sau đều gọi Hùng Vương,
Vua thường nối hiệu, quan thường nối tên.
Lạc Hầu là tướng điều nguyên, (7)
Vũ là Lạc Tướng giữ quyền quân cơ;
Đặt quan Bồ Chính hữu tư,
Chức danh một bực, đẳng uy một loài.

Lê Ngô Cát & Phạm Đ́nh Toái
(Trích Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca – nhà xuất bản Xuân Thu).

Chú thích:
(1) Châu Phong: gồm một phần tỉnh Sơn Tây, Vĩnh Yên và Phú Thọ bây giờ.
(2) Bạch Hạc: tên một làng trên sông Hồng Hà mé ḍng Việt Tŕ bây giờ.
(3) Thao Giang: quăng sông Hồng Hà chạy qua Việt Tŕ.
(4) Bản Chương: Bản đồ.
(5) Biên manh: dân rợ ở áp biên thùy.
(6) Cửu Đức: nay là Hà Tĩnh.
(7) Điều nguyên: ư nói đời thái b́nh.







Nhớ Giỗ Vua Hùng

Miễu
Có ai về đất Hy Cương
Nhớ chăng đốt nén tâm hương cơi ḷng
Tháng ba ngày giỗ Vua Hùng
Triều Vua mở nước cho ḍng Việt Nam

Nói
Sông Hồng , núi Tản
Mây trời bay tản mạn giải Hy Cương
Khí thiêng liêng sông núi quật cường
Vẫn phảng phất trong chiều sương khói sóng
Kỷ nhật đồng tâm dân tưởng vọng
Lễ kỳ hiệp lực quốc truy tôn
Trải bao thu mưa dập gió dỗn
Kẻ uống nước vẫn nhớ nguồn của nước
Người uống nước chẳng bao giờ bội ước
Nguồn có trong th́ nước mới được thêm trong
Toàn dân nhớ giỗ Vua Hùng
Chính Hà ( Mồng 10 -3 Quư Hợi (1983)


Họ Hồng Bàng

Rằng xưa Ngũ Lĩnh Hồ Nam
Đế Minh là hiệu, Hồng Bàng gọi tên
Cùng Tiên kết lại thành duyên
Con trai Lộc Tục xưng truyền đời sau

Nam Phương bờ cơi muôn màu
Nước tên Xích Quỉ ngọc châu dị thường
Ngôi trời hiệu đặt Kinh Dương
Động Đ́nh Long Nữ tơ vương kết nguyền

Con đầu Sùng Lăm là tên
Lạc Long Quân hiệu b́nh yên cơi bờ
Kết duyên cùng với Âu Cơ,
Sinh trăm trứng nở trăm trai rạng ngời

Năm mươi theo Mẹ xây đời
Theo cha Nam Hải năm mươi dựng nhà
Văn Lang Bách Việt là ta
Hùng Vương xưng hiệu đô là Phong Châu.
Vũ Thị Thiên Thư

Văn Chúc Quốc Tổ Hùng Vương

Hôm nay ngày 10 tháng 3 âm lịch, đại lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm thứ ... ** tại thành phố Tiểu Sài G̣n thuộc quận Cam , Nam Cali Mỹ quốc**
Chúng con, cùng giữ tấm ḷng thành hoa hương trà rượu**, phẩm vật tinh khiết cung kính tiến dâng, trước bàn thờ Tổ, đồng vái lạy ca tụng công đức Tiền Nhân**
Vinh hiển thay!
Kinh Dương Vương Long Nữ phá thạch khai sơn, tung hoành ngang dọc lập quốc phương Nam, từ Động Đ́nh Hồ ra biển lớn **
Lạc Long quân Âu Cơ vỗ về bách tính, dạy dỗ trăm con thuần phong mỹ tục, tạo nên ḍng giống Tiên Rồng**
Truyền thống áo dài tả nhậm (1), nhuộm răng cắt tóc ḿnh vẽ giao long, phong tục khác ṇi giống Hán.
Kỹ năng ruộng Lạc hai mùa, hiệu lệnh trống đồng oai phong thủy chiến, văn minh rực rỡ trời Đông**
Quang vinh thay!
Họ Hồng Bàng hai mươi đời thịnh trị, Văn Lang trên hai ngàn năm trường tồn**
Toàn dân quyết tâm giữ ǵn bờ cơi, cả nước một ḷng ngăn chặn xâm lăng.**
Phù Đổng diệt Ân, Trưng Vương đuổi Hán, đánh Tống b́nh Chiêm chiến công Ngô Đinh Lê Lư.** Hưng Đạo sát Thát, Lê Lợi thắng Minh, Quang Trung phá Măn lẫy lừng độc lập non sông**
Bất khuất thay!
Triệu Nương đạp luồng sóng dữ, ** Phùng Hưng nuôi chí quật cường, **
Trần B́nh Trọng thà làm quỉ nuớc Nam không thèm làm vương đất Bắc,**
Nguyễn Thái Học một ḷng cứu nước, không thành công cũng thành nhân**
Lư tưởng thay!
Tổ Tiên oai hùng, năm ngàn năm hy sinh giữ nước,**
Con cháu hănh diện, ba mươi năm nuôi dưỡng t́nh thương.**
Trường thế giới, miệt mài nung chất xám
Đất năm châu, gầy dựng giống Tiên Long **
Thế tất thắng là trào lưu Dân Chủ
Kẻ ngược ḍng thời ắt sẽ bại vong.**
Chúng con nay:
Tuổi trẻ, xin làm Phù Đổng
Cao niên, Bô Lăo Diên Hồng.**
Trong ngoài một ư
Trên dưới một ḷng**
Nguyện làm rạng rỡ Tổ Tông
Xứng danh con cháu nối ḍng Hùng Vương...**
Xin Quốc Tổ chứng giám và Thượng Hưởng!****

(Cali ngày 6 tháng 4 năm 2005 – Song Thuận cẩn trọng thảo văn tế)

** Chiêng trống
(1)Tả nhậm = cài nút bên trái, phong tục thời Hùng Vương, người Lạc Việt mặc áo dài cài nút bên trái.
*Theo Dương Quảng Hàm, Văn tế thần gọi là văn chúc.






Mẹ Âu Cơ – tranh Hồ Thành Đức


Vua Hùng Dựng Nước

Vua Hùng dựng nước Văn Lang
Năm ngàn năm trước, huy hoàng trời Đông
Giang san một dải mênh mông
Bắc phương Hán tộc, Nam phương Lạc Hồng
Động Đ́nh là ải biên cương
Phía Tây Ba Thục, tiếp ḍng Trường Sơn!
Phía Nam giáp với Hồ Tôn
Nh́n ra Nam Hải, sóng dâng vơi đầy...
Bộ tộc Lạc Việt anh tài
Ḿnh xâm rồng rắn khiếp loài ḱnh ngư
Phong Châu là chốn kinh đô
Lạc Hầu, Lạc Tướng giúp vua trị v́
Các quan Bồ Chính, trưởng chi
Coi sóc làng xóm, vỗ về Lạc dân
Thuở c̣n trời đất hỗn mang
Nhà sàn ta ở, sống gần văn minh!
Cha truyền con nối yên b́nh
Chính trị “phụ đạo”, dân t́nh thuần lương.
Hoàng tử tên gọi Quan Lang
Mị Nương công chúa, cành vàng ngày xưa
Hồng Bàng là họ nhà vua
Hăm sáu thế kỷ (2622 năm)
Trên hai mươi đời...
Thuần phong mỹ tục sáng ngời
Tổ tiên thờ phụng, đạo Trời niềm tin
Đời đời tiết liệt trung trinh
Tinh thần bất khuất, đấu tranh chẳng sờn!

Cha ông dựng nước oai hùng
Cháu con hănh diện, dốc ḷng biết ơn
Ai ơi! Uống nước nhớ nguồn
Ăn trái nhớ kẻ vun trồng nên cây!
Song Thuận


Hùng Vương

Mười tám đời vua dựng nước nhà
Hùng Vương là Tổ nước Nam ta
Tiên Long, Lạc Việt chung ḍng giống
Hùng cứ ngàn năm sông núi xa
Phương Bắc đánh Thanh, Mông, Minh, Hán
Phương Nam nguy biến dẹp can qua
Tổ tiên dựng nước ngời trang sử
Con cháu chung ḷng giữ Quốc Gia.
 
Vũ Lang

Quốc Tổ Hùng Vương (Bài Họa 1)

Quốc Tổ Hùng Vương dựng nghiệp nhà
Văn Lang truyền thuyết nước Nam ta
Phong Châu tên gọi kinh thành cũ
Ngũ Lĩnh là nơi biên ải xa
Thắt nút trị dân thời thịnh trị
Vung gươm đánh giặc lúc “can qua” *
Cha ông ǵn giữ bao công sức
Không lẽ đàn sau táng bại gia?
Vương Sinh
* Can (cái mộc), qua (cái mác) chỉ chiến tranh.

Giỗ Tổ (Bài Họa 2)

Giỗ Tổ Hùng Vương khắp mọi nhà
Hướng về tưởng nhớ một ḷng ta
Trầm khơi thơm toả Ba V́ ngát
Nến thắp sáng soi Tam Đảo xa
Cho giống anh hùng truyền thụ lại
Để ṇi bất khuất kế thừa qua
Ảo huyền Nghĩa Lĩnh non thần đó !
Một chốn linh thiêng dựng thế gia
Sơn Khê

Ghi Chú :
- Đền Hùng xây trên núi Nghĩa Lĩnh ,rừng Hy Cương ,thôn Cổ Tích ,phủ Lâm Thao tỉnh Phú Thọ ,Bắc Việt . Đứng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh nh́n về phía Đông là dăy núi Tam Đảo , nh́n về phía Nam là dăy núi Ba V́ c̣n gọi là Tản Viên .

Con Hồng Cháu Lạc

Chúng ta con cháu Đấng TIÊN LONG
Dù Bắc, Trung, Nam vẫn một ḍng
Gắng sức giữ ǵn ngôi Quốc Tổ
Ra công bồi đắp giải non sông
Con HỒNG, Cháu LẠC chung ḍng máu
Nước VIỆT nhà NAM một tổ tông
Đánh đuổi bao phen quân cướp nước
Rạng danh ṇi giống Đấng TIÊN LONG.
Vũ Lang

Nhớ Ơn Quốc Tổ

Lịch sử c̣n ghi dấu tổ tông
Hùng Vương dựng nước, giữ non sông.
Một thời thịnh trị ḍng Âu Việt
Muôn thuở vinh quang giống Lạc Hồng
Linh khí Phong Châu danh Quốc Tổ
Trống đồng Ngọc Lũ dậy Thăng Long
Con dân Bách Việt cùng ḍng máu
Dâng kính tổ tiên cả tấm ḷng.
Nguyễn Văn Lập

Lạc Việt Bốn Phương

Chim Lạc bay ra khỏi trống đồng
Năm châu góp mặt giống Tiên Long (VS)
Tha hương khôn thể quên Hùng Sử (SK)
Viễn xứ vẫn hoài nhớ núi sông (NS)
Học hỏi quê người cha mẹ muốn
Thành công hải ngoại giống ṇi mong (VS)
Ngh́n năm vang tiếng người dân Việt
Tuổi trẻ kiêu hùng rạng ánh Đông .... (NS)
VS, SK, NS,

Vua Hùng Dựng Nước

Trải bốn ngàn năm lich sử thơ
Vua Hùng dựng nước đạt thời cơ
Non sông nhỏ lệ vơi thềm biển
Đất nước tim đau lép cơi bờ
Chung sức chung ḷng xây bến mộng,
Sát vai sát cách đắp thuyền mơ.
Tương lai nước Việt tài năng trẽ,
Quyết chí vùng lên phất ngọn cờ.
Đặng Đức Bích





Một Cuộc Chia Tay

Rồng Tiên xung khắc phải chia tay
Không khóc mà sao mắt lệ cay?!
Dạ xót trăm con ngăn núi thẳm
Ḷng thương đôi lứa cách sông dài
Hợp tan, tan hợp là thiên mệnh
Suy thịnh, thịnh suy lẽ rủi may
Xây dựng Văn Lang thời thái cổ
Âu Cơ mở lối nước non này...
Vương Sinh


Vua Hùng Vương

Trăm con một bọc giống Tiên Rồng
Khai phá hai phương mở núi sông
Dẫn mẹ Âu cơ xuyên núi Lạng
Theo cha Sùng Lăm vượt sông Hồng
Hùng Vương cơ nghiệp, Văn Lang quốc
Bạch Hạc cư đô, Lạc Việt ḍng
Mười tám đời lưu truyền hậu thế
Lĩnh Nam một cơi rạng trời Đông
Hoàng Trúc



ĐỨC THÁNH GIÓNG1/2-

Ba tuổi sinh ra chẳng nói cười,
Một nhà sắc mặt chẳng vui tươi.
Quỷ ma tưởng đă là oan nghiệt,
Thần Thánh ngờ đâu lại tuyệt vời.
Ngựa sắt diệt thù danh vạn nẻo,
Roi thiêng đuổi giặc tiếng ngh́n nơi.
Dẹp yên bờ cơi buông danh lợi,
Phù Đổng Thiên Vương ruổi cơi trời.

2/2- Trời sinh Thần tướng đợi phong vân,
Thánh Gióng ra quân chỉ một lần.
Yên ngựa xông pha phù cả nước,
Đường roi vùng vẫy cứu toàn dân.
Đă làm rạmg rỡ danh ṇi Việt,
Lại phá tan tành nghiệp giặc Ân.
Phù Đổng Thiên Vương Vua tứ Sắc,
Ngh́n sau phụng tự khắp xa gần.
TRƯỜNG GIANG


Phù Đổng Thiên Vương

Hùng Vương thứ sáu tục truyền
Giặc Ân sức mạnh đánh xuyên cơi bờ
Chuyện rằng Phù Đổng trẻ thơ
Xin gươm ngựa sắt dưới cờ dẫn quân
Vươn vai biến dạng kiêu hùng
Phá tan quân giặc lẫy lừng chiến công
Lập đền dân chúng khói hương
Ngh́n năm bia đá Sóc Sơn kính thờ
Vũ Thị Thiên Thư


Tuổi Trẻ Phù Đổng

(À ơi!
Mẹ ru con ngủ giấc nồng...
Ngày mai ngựa sắt kiếm đồng vua ban.
Vươn vai, con lớn hiên ngang,
Giúp dân đánh giặc, xóm làng yên vui)

Tuổi trẻ Việt Nam một sớm vươn ḿnh!
Ra ngoài vũ trụ soi ánh b́nh minh.
Tuổi trẻ Việt Nam, Phù Đổng Thiên Vương,
Vang lừng thế giới, ḍng giống Tiên Rồng.

Tuổi trẻ Việt Nam, ngựa sắt kiếm đồng,
Vươn vai đánh giặc dành lại non sông.
Tuổi trẻ Việt Nam Phù Đổng Thiên Vương,
Ngàn đời bất khuất...vùng lên xuống đường.

Ḱa ḱa giặc Ân, tàn bạo khôn lường,
Gót giày sắt máu, giày xéo giang sơn!
Ḱa ḱa giặc Ân, gian ác bất nhân,
Bắt người, cướp đất, tan nát xóm làng!

Thương ôi Văn Lang! Thương ôi Việt Nam!
Trái tim nhỏ lệ, dân tộc lầm than...
Thương ôi Văn Lang! Thương ôi Việt Nam!
Mẹ buồn đứt ruột, máu đỏ da vàng.

Thương ôi Văn Lang! Thương ôi Việt Nam!
Bao đời giữ nước, chống đỡ ngoại xâm.
Thương ôi Văn Lang! Thương ôi Việt Nam!
Sao đành nuốt nhục, dưới ách tham tàn!

Tuổi trẻ Việt Nam, xuất sắc bao ngành,
Đứng đầu lớp học, nối tiếp cha anh.
Tuổi trẻ Việt Nam, rực rỡ công danh,
Trên trường quốc tế, vẫn nhớ cội nguồn.

Tuổi trẻ Việt Nam, ư chí cang cường,
Hiên ngang đứng dậy đ̣i lại quyền dân.
Tuổi trẻ Việt Nam, v́ nghĩa quên thân,
Lên đường cứu nước, toàn dân đón chờ...!
Song Thuận (2001)

Câu Đối :

Tưởng Nhớ Vua Hùng và các Anh Hùng Lịch Sử

Ngh́n Thu gió thoảng thơm công cả
Muôn thuở trăng soi sáng đức dầy

Câu Đối tại Đền Hùng
Tại đền Hùng Vương có hai câu đối của Ông Phạm Huy Hổ làm vào năm 1914 đăng trong Đông Dương tạp chí :

Non nước cao sâu ,tưởng bóng Long -Tiên c̣n thoảng đó .
Khói hương ngào ngạt ,động ḷng Sơn -Hải biết yêu nhau

Ở chính giữa đền Thượng có bài vị 18 Đức Hùng Vương với 14 chữ như sau :

ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ - VIỆT HÙNG VƯONG THỊ
THẬP BÁT THÁNH VƯƠNG VỊ

Câu đối Nôm cúa cụ Nguyễn Kỳ Nam :

Đồ Vương tranh Bá ,thôi nói chi lịch đổi số trời ,hỏi trước sau truyền bốn ngh́n năm ,nước biếc non xanh ,bờ cơi ai xây bờ cơi ấy .

Vấn Tổ t́m Tông ,nay vẫn c̣n lăng xưa miếu cũ ,kể nhiều ít hai mươi nhăm triệu ,con đàn cháu đống ,cội cành đâu chẳng cội cành đây .

Thêm câu đối cũng treo tại Đền Thượng

Vật đổi sao dời ,phúc Tổ vẫn lưu nền Cổ -Tích
Nước nguồn cây cội , đạo người nên nhớ mộ Hùng -Vương

Lại c̣n rất nhiều câu đối bằng chữ Hán chữ Nôm:

Quyết tả thiên thanh, bút sử tâm hùng, in h́nh trong bóng nước !
Cùng cao thủy bạch, binh thư trí dũng, hiện sắc dưới trời mây !
(Sơn Khê)


Sơn Tinh Thủy Tinh

Sơn tinh
Ta đầu đội ánh thái dương
Mang cầm thú lễ Mỵ nương châu trần
Trăm năm xin được về gần
Có nhau sớm tối muôn phần hân hoan

Mỵ Nương
Giă cha khăn áo theo chàng
Non xanh nước biếc giăng hàng đón đưa
Từ nay trăng gió bốn mùa
Mây đan áo lụa sao thưa gối đầu

Thủy Tinh
Ta mang hải sản ngọc châu
Dâng vua cha lễ sớm cầu Mỵ Nương
Từ nay bờ cỏi an khương
Nước xanh sóng bạc bốn phương giao hoà

Hùng Vương
Hùng Vương mười tám phán rằng
Mỵ nương nay đă theo chồng về non
Nầy đây châu ngọc hăy c̣n
Trả ngươi biển cả vẹn toàn trước sau

Giặc đuổi
Lưng trời tiếng nhạc giao duyên
Mừng Sơn Tinh kết lời nguyền sắt son
Bỗng dưng sấm sét nổ ḍn
Bao nhiêu nước đuổi theo non lạ thường
Thuỷ tinh tức giận vô chừng
Hàng năm mang nước tràn dâng cơi bờ
Tiếc chi một chút duyên hờ
Mang trăm họ đổ xuống bờ điêu linh
Vũ Thị Thiên Thư