|
1
LĂNG MỘ
TRIỆU VĂN ĐẾ
Ở
QUẢNG CHÂU
Nguyễn Duy Chính
2
DẪN NHẬP
Giới nghiên cứu đă có nhiều tranh
biện Triệu Đà và con cháu ông có nên liệt kê vào một trong những triều đại trong
quốc sử hay chỉ nên coi như thời điểm mở đầu cho một giai đoạn ngoại thuộc kéo
dài hơn 1000 năm? Chúng ta vẫn chưa có câu trả lời chính xác và những bộ sử lớn
của nước ta như Đại Việt Sử Kư triều Lê, Khâm Định Việt Sử triều Nguyễn tuy có
chép đến nhưng các sử thần không coi là chính thống.1 Thế nhưng thái độ ngạo
nghễ của bản thân Triệu Đà đối với nhà Hán cũng như ư chí bất khuất của tể tướng
Lữ Gia lănh đạo một cuộc chiến đấu chống xâm lăng sau này, nên không ít người
trong chúng ta vẫn coi nhà Triệu phần nào đại diện cho tính khí quật cường của
dân tộc. Nguyễn Trăi khi viết B́nh Ngô Đại Cáo cũng liệt kê họ Triệu như một
triều đại của Việt Nam:
... tự Triệu Đinh Lư Trần chi triệu tạo ngă quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi
các đế nhấr phương ... (...自趙丁李陳之肇造我國,與漢唐宋元而各帝一方 ...)
nghĩa là
... từ các triều đại Triệu, Đinh, Lư, Trần xây dựng nước ta, cùng với Hán, Đường,
Tống, Nguyên (của Trung Hoa) mỗi bên một phương làm chúa tể...
Tuy địa vực của thời kỳ này khác xa lănh thổ của nước Việt hôm nay, triều đại
nhà Triệu cũng như nhà Thục (An Dương Vương) vẫn được chép vào quốc sử, nên việc
t́m hiểu thời kỳ đó ít nhiều cũng soi sáng những sinh hoạt xă hội trong thời kỳ
mà tài liệu c̣n ít ỏi, mù mờ.
Cho đến nay, các sử gia vẫn cho rằng việc du nhập một số định chế đời Hán chỉ
được tiến hành trong thời Bắc thuộc, khi nước ta trở thành một phần lănh thổ của
họ. Những khám phá mới đây cho thấy lập luận này không đứng vững mà trong nhiều
thiên niên kỷ, một nền văn minh riêng biệt đă tồn tại ở vùng Đông Nam Á mà địa
giới lan rộng tới cả vùng Hoa Nam. Những khác biệt rất rơ rệt của văn minh
phương Nam – ngồi xổm, đội khăn, ăn trầu, nhuộm răng, đi chân đất ... – và những
tập quán bản địa đến nay cho thấy người Việt chúng ta vẫn c̣n rất nhiều gần gũi
với phương Nam hơn là bị đồng hoá bởi phương Bắc. Trong khi văn minh Hoa Hạ mang
tính khép kín của một đại lục th́ (1)
Trong tấu nghị của các sử thần nhà Nguyễn (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9
tức 11-07-1856) th́ từ An Dương Vương tới Ngô Quyền không được liệt vào chính
thống mà chỉ tính đời Hùng Vương, sau đó tới Đinh Tiên Hoàng.
... An Dương Vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước th́ cậy
sức mạnh để kiêm tính nước người, sau v́ tin quỉ thần quái dị mà bị người khác
lừa gạt, bỗng khởi lên, bỗng bị diệt, không được trọn đời. Triệu Vũ Đế chiếm cứ
Phiên Ngung, chống nhau với nhà Hán, nhưng rồi cũng bỏ danh hiệu hoàng đế mà
xưng thần ... Tóm lại, các thời đại ấy đều chưa có thời đại nào gọi là chính
thống được.
Đến thời đại Đinh Tiên Hoàng, trong nước mới được thống nhất. Vậy Đinh Tiên
Hoàng nên liệt vào chính thống để nối tiếp với quốc thống Hùng Vương. Quốc Sử
Quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bản dịch Viện Sử Học,
nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998) tập I, tr. 23. (3)
những dân tộc tiếp giáp với biển cả có nhiều sinh hoạt phóng túng hơn và việc
trao đổi đa phương với các nền văn hoá khác vẫn c̣n tiếp tục.
(4)
MỘT KHÁM PHÁ BẤT NGỜ
Nếu ai đọc qua Tam Quốc Chí đều biết đến cái tên Tôn Quyền (孫權), con thứ của Tôn
Kiên, em của Tôn Sách, người được mệnh danh là mắt biếc, râu tía, trong thế tam
phân thiên hạ kế vị anh làm chúa tể đất Giang Đông. Khi làm chủ nước Ngô (bao
gồm cả miền nam Trung Hoa và miền bắc nước ta ngày nay), Tôn Quyền nghe nói
trong các ngôi mộ của họ Triệu – tức Triệu Đà và con cháu – có nhiều bảo vật nên
sai tướng là Lă Du (呂瑜) đem quân xuống Quảng Đông t́m kiếm, tất cả những nơi
nghi là lăng mộ họ Triệu đều được đào sâu ít nhất 3 thước (Tàu). Công cuộc khai
quật để lấy châu báu đó chỉ thành công một phần và quân Ngô chỉ t́m ra mộ của
Anh Tề (嬰齊), cháu gọi Triệu Đà bằng ông cố 2, lấy được rất nhiều vật quí. Thế
nhưng trong suốt hai ngàn năm qua, mộ của Triệu Đà và cháu là Triệu Muội ở đâu
vẫn không ai t́m được.
Tháng 8 năm 1980, trong khi tiến hành việc xây dựng một công tŕnh ở phía bắc g̣
Tượng Cương (象崗), tỉnh Quảng Châu người ta vô t́nh t́m thấy một ngôi mộ cổ mà
sau này mới biết rằng chính là mộ của Triệu Muội (趙眛)3. Tượng Cương là tên của
một ngọn núi nhỏ chỉ cao có 49.71 mét, chung quanh đă khai phá xây cao ốc từ
thập niêm 1970s. Điều đáng ngạc nhiên là khi đào sâu vào đá núi đến 20 thước tây,
lúc đó mới gặp ngôi mộ này, thành thử suốt hơn hai ngh́n năm không ai biết đến.
Việc t́m ra ngôi mộ được sách vở tường thuật như sau:
Hôm đó, một chiếc máy đào đất to lớn liên tục đào vào Tượng Cương Sơn, khoét sâu
vào núi một lỗ hủng lớn. Đột nhiên mỏ máy bổ xuống một tảng đá, dội lên nên thợ
phải ngừng lại xem xét, không biết là vật ǵ, tất cả đồng ư di chuyển máy sang
đào ở bên cạnh nhưng đâu đâu cũng toàn là đá phiến, rơ ràng là phần trên của một
ngôi mả đá. Đoàn công nhân phải ngừng lại và báo cáo lên huyện để chờ cấp trên
cử nhân viên khảo cổ đến xem xét.
Sau khi tiến hành điều tra, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng đây là một
ngôi mộ được tạc vào trong núi, phía nam có một mộ đạo (đường hầm) thông xéo vào
dài chừng hơn 20 mét, chèn đầy đất và đá tảng chạy dài tới cửa mộ.(4)
Theo Mạch Anh Hào (Mai Yinghao - 麥英豪), giám đốc danh dự của Viện Bảo Tàng thành
phố Quảng Châu5 trong bài tường tŕnh tại Hội Nghị Khảo Cổ Đông Nam Á từ
(2) Theo sử nước ta nhà Triệu bao gồm
Triệu Đà (Vũ Đế), Triệu Hồ (Văn Vương), cháu nội Vũ Đế, con trai Trọng Thuỷ,
Triệu Anh Tề (Minh Vương, con trưởng của Văn Vương), Triệu Hưng (Ai Vương, con
thứ của Minh Vương), Triệu Kiến Đức (Thuật Dương Vương) tổng cộng 5 đời vua, 97
năm (207-111 TCN). V́ Triệu Vũ Đế sống rất thọ (121 tuổi), làm vua đến 71 năm
nên khi chết truyền ngôi cho cháu chứ không cho con.(3) tức vua Văn Vương Triệu Hồ (趙胡), theo sử nước ta.(4) Thượng, Lung (尚瓏), Dương Phi (楊飛). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ (中國考古地圖) The Map
of China Archaeology (Bắc Kinh: Quang Minh Báo xb xă, 2004) tr. 181. (5) Nguyên danh là Quảng Châu thị Bác Vật Quán Danh Dự Quán Trưởng (5) ngày 9 đến
ngày 13 tháng 3 năm 19956 tổ chức tại Hội Nghị Sảnh, đại học Hương Cảng th́ v́
có kinh nghiệm với nhiều lần khai quật khác không mấy thành công, thành phố
Quảng Châu đă quyết định thực hiện công tŕnh này bằng cách cố giữ ngôi mộ cho
được nguyên trạng bằng cách đào ngang thay v́ đào từ trên xuống theo lối thông
thường và dự định sẽ xây dựng một viện bảo tàng ngay tại đây để duy tŕ một di
tích quan trọng.(7)
Ngày 25 tháng 8 công tác khai quật ngôi mộ này thực sự bắt đầu. Việc mở cánh cửa
đá đầu tiên cũng gặp khó khăn. Khi xây ngôi mộ này, cổ nhân thực hiện hai khung
cửa đá cách nhau chừng 10 mét theo một đường hầm thoai thoải. Đằng sau khung cửa
đá có một bộ phận, khi cửa đóng lại sẽ tự động tuột ra khiến cho ṿm cửa sụp
xuống. Cửa đằng trước cũng có một cơ quan bí mật khiến cho toán khảo cổ phải đục
đá ra mới vào đường hầm được.
Ngôi mộ chính có diện tích chừng 100 m2, bao gồm 7 gian pḥng, trần cao 2 mét,
chung quanh tường đều lát bằng đá xanh, dưới sàn lát gỗ. Sau khi vào được mộ rồi,
các nhân viên khảo cổ bắt đầu công việc thu dọn cho sạch sẽ. Việc dọn dẹp đáng
kể nhất là những gian pḥng phía tây, là nơi tàng trữ các loại khí dụng và châu
báu, rất nhiều đồ tuỳ táng (đồ chôn theo người chết). Nghiên cứu kỹ lưỡng, đội
khảo cổ quyết định sẽ nằm ḅ ngay trên ván gỗ để phân loại tại chỗ.
Sau khi xúc hết đất cát trong căn pḥng chính, người ta thấy lộ ra dấu vết của
một quan tài gỗ và một h́nh người. Mộ chủ được đặt trong một bộ quần áo bằng
ngọc theo lối chôn các bậc vương hầu đời Tây Hán8, ngang lưng đeo mười thanh
kiếm bằng sắt có khảm vàng, thanh dài nhất là 1.46 mét. Trong những ngôi mộ đời
Hán đă khai quật, đây là thanh kiếm thép dài nhất từ trước tới nay. Trên đầu mộ
chủ có móc vàng và trang sức bằng ngọc, chế tạo khéo léo, lót dưới ót là túi dệt
bằng tơ, đựng ngọc trai.
Chung quanh mộ chủ cũng vương văi rất nhiều món đồ khác được điêu khắc tỉ mỉ là
những món ngọc quí giá đời Hán.
Trong khi mọi người c̣n đang suy đoán không biết người chết mặc áo ngọc này là
ai
vào buổi chiều ngày 22 tháng 9 một việc khá bất ngờ xảy ra. Một đội viên trong
nhóm
khảo cổ vô t́nh phát hiện một chiếc ấn vàng, núm h́nh rồng cuộn, sáng lấp lánh
đặt ở
khoảng giữa ngực và bụng của mộ chủ. Sau khi dùng bàn chải quét sạch lớp bụi đất
đóng ở trên chiếc ấn, lật ngược lại th́ thấy dưới đáy khắc bốn chữ “Văn Đế Hành
Tỉ”
(文帝行璽) theo lối tiểu triện. (6) Conference on Archaeology in Southeast Asia
7 Mai Yinghao: “Excavation, Preservation and Utilization – Examples of Field
Archaeology in
Guangzhou” (麥英豪: 發掘,保護,使用。廣州田野考古例舉), Archaeology in Southeast Asia, The
University of Hongkong, 1995 tr. 357-59.
8 Năm 1968, ở Măn Thành (滿城), Hồ Bắc người ta khai quật hai ngôi mộ của Trung
Sơn Tĩnh Vương
Lưu Thắng (劉勝) và vợ, t́m được 2800 món đồ quí. Hai người này được đặt trong một
bộ quần áo bằng
ngọc tương tự như của Triệu Muội nhưng dây tết các mảnh ngọc làm bằng vàng (ngọc
y kim lũ), một bộ
tổng cộng 2690 mảnh, một bộ 2156 mảnh. New Archaeological Finds in China, 1974,
tr. 9-10.
6
Việc t́m ra chiếc ấn vàng này đă cho phép các nhà nghiên cứu xác định được người
nằm trong ngôi mộ chính là vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt, tên chính là
Triệu
Muội, là cháu gọi Triệu Đà bằng ông. Triệu Đà làm vua rất lâu, sống thọ9 nên khi
qua
đời, con ông đă chết rồi nên truyền ngôi cho cháu. Bốn chữ khắc trên ấn cũng đặt
ra
nhiều câu hỏi, không phải chỉ cho các sử gia Trung Hoa mà cho cả Việt Nam. Theo
sử
cũ, Triệu Đà xưng đế nhưng về sau thần phục nhà Hán được phong là Nam Việt
Vương. Tuy nhiên nếu Triệu Muội vẫn dùng con dấu Văn Đế th́ chúng ta có thể tin
rằng Triệu Đà cũng là người mở đầu cho một chính sách ngoại giao kéo dài tới tận
ngày nay. Đó là tuy thần phục và chấp nhận được triều đ́nh Trung Hoa phong vương
(lúc này là Nam Việt Vương, sau này là An Nam quốc vương ...) nhưng chỉ trên
h́nh
thức, trên thực tế các vua nước ta vẫn tự cho ḿnh là hoàng đế, ngang hàng với
Trung
Hoa. Chính v́ thế nên Triệu Muội đă sử dụng con dấu “Văn Đế hành tỉ”.
9 theo sử Tàu ông thọ 90 tuổi c̣n theo sử ta th́ thọ đến 121 tuổi (?)
7
BỐ CỤC CỦA NGÔI MỘ
Theo các nhà chuyên môn, ngôi mộ được kiến trúc theo bố cục tiền triều hậu tẩm10
(phía trước là triều đ́nh, phía sau là cung điện của vua ở), xây bằng tổng cộng
hơn 750
phiến sa nham (砂巖) bao gồm tất cả trước sau 7 gian pḥng. Việc đục núi làm lăng
(phách sơn vi lăng - 劈山為陵) để khỏi phải đắp đất bắt đầu từ thời Tần – Hán nhưng
chỉ trở thành một định chế từ đời Đường mà thôi.
Từ bên ngoài vào theo một thông đạo thoai thoải đi xuống chừng 10 thước th́ đến
cửa
vào thứ nhất. Thông đạo này kiến trúc như một ống h́nh vuông dài kết thúc bằng
hai
cánh cửa đá, trên cửa có gắn phô thủ (鋪首) bằng đồng xanh có khắc h́nh đầu thú.
Qua
khỏi cửa đến pḥng ngoài (tiền thất) ở giữa, hai bên là hai pḥng ngang (đông
nhĩ thất
và tây nhĩ thất). Kế đó là pḥng chính để mộ chủ, hai bên có hai pḥng (đông
trắc, tây
trắc) và sau cùng là một nhà kho. Bố cục của toàn thể ngôi mộ theo h́nh chữ giáp
(甲)
được đặt theo hướng đầu về phương bắc, chân ở phương nam.
Pḥng trước (tiền thất)
Trên tường của pḥng trước vẽ nhiều h́nh dùng hai màu đen và đỏ các biểu tượng
văn
hoá mà nhiều loại người Trung Hoa hiện nay vẫn c̣n sử dụng. Căn pḥng đó có cửa
thông ra bốn bên, cửa phía nam tiếp với lối vào, cửa phía bắc vào pḥng mộ chủ.
Hai
cửa này có cánh cửa bằng đá c̣n hai cửa hai bên sang pḥng phía đông, tây chỉ là
hai
lỗ trống mà thôi.
Pḥng hông (nhĩ thất)
Hai pḥng phía đông và phía tây có chứa nhiều loại đồng khí, trong đó có các
loại
chuông, khánh đá, nhạc khí, binh khí và ngọc khí. Ngoài ra c̣n một người bị chôn
theo
(tuẫn táng).
Pḥng chính
Pḥng chính để mộ chủ c̣n gọi là địa cung vốn dĩ h́nh vuông tất cả lát đá nhưng
lại
không có các h́nh vẽ như tiền thất mà đều để trần. Hai bên phải trái cũng có hai
pḥng nhỏ, có cửa thông sang. Đằng sau pḥng này có một pḥng nhỏ làm kho chứa.
10 前朝後寢. Theo kiến trúc cung điện đời xưa, phần trước gọi là “triều” là nơi vua
họp với quần thần để
bàn việc nước, phía sau gọi là “tẩm” là nơi vua và thân tộc sinh hoạt, ăn, ở.
Kiến trúc này cũng được tạo
dựng tông miếu và lăng mộ.
8
H́nh 1: Sơ đồ mộ Triệu Văn Đế
Pḥng chứa
Ngay sau pḥng để xác mộ chủ là một nhà kho (trữ tàng thất) để chứa thực phẩm.
Đây
là pḥng nhỏ nhất trong bảy gian pḥng, h́nh dáng tương đối vuông vức. Tuy nhỏ
nhưng trong pḥng chất hàng trăm vật dụng chồng lên thành nhiều tầng bao gồm đồ
đồng và đồ sành sứ trong đó có các loại đồ nấu ăn, đồ đựng thức ăn và bồn rửa.
Những
nồi niêu dưới đáy c̣n vết tro than chứng tỏ những vật này thường được sử dụng để
nấu
ăn cho mộ chủ, nay đem chôn theo người chết.
Để cho Triệu Văn Đếâ sinh hoạt, ngoài đồ dùng c̣n có rất nhiều loại thực phẩm,
hầu
hết chứa trong các loại đồ đồng và đồ sành sứ. Trong hơn 30 đồ đựng thấy có các
loại
thịt gia cầm, gia súc, hải sản được giám định như sau: thịt ḅ, thịt heo, thịt
gà, sơn
dương, cá mè, tôm, ếch, chân rùa, ṣ hến và cá chép tổng số gần 20 loại khác
nhau.
Trong ba chiếc hũ sành, người ta c̣n t́m thấy khoảng 200 con chim sẻ lúa11 đă
chặt
đầu, chặt chân. Chim sẻ là một đặc sản đất Quảng Đông, như vậy món ăn này đă có
từ
hơn 2000 năm trước.
11 禾花雀
9
CÁC BẢO VẬT TRONG MỘ
Theo tổng kết sơ khởi người ta liệt kê được hơn 200 món ngọc khí, điêu khắc tinh
mỹ,
hơn 500 món thanh đồng và nhất là một bộ áo mặc cho người chết bao gồm nhiều
miếng ngọc khâu với nhau bằng tơ. Đây là ti lũ ngọc y (絲縷玉衣) sớm nhất mà người
ta t́m thấy được ở Trung Hoa. Ngoài ra người ta c̣n kiếm được một bộ thanh đồng
đồng chung (青銅筩鍾)12 5 cái, một bộ nữu chung13 (鈕鐘) 14 cái, một bộ câu dược
(勾鑃)14 8 cái trên có khắc “Văn Đế cửu niên” là những món đồ đồng mà người ta
cũng
từng t́m thấy trong các ngôi mộ đời Hán khác. Trong mộ có tất cả 23 chiếc ấn là
số
lượng nhiều nhất trong những ngôi mộ cổ trong đó chiếc ấn Văn Đế Hành Tỉ là ấn
vàng
lớn nhất kiếm thấy đời Hán.
Trong số 36 cái đỉnh đồng có 8 cái khắc hai chữ Phiên Ngung (蕃禺), lại có những
vật
dụng nguồn gốc từ Tây Á và Phi Châu như đồ trang sức bằng vàng gắn hạt châu, hộp
bằng bạc, ngà voi, nhũ hương ... minh chứng nước Nam Việt cách đây 2000 năm đă
có
buôn bán và giao dịch với nhiều nước trên thế giới bằng đường thuỷ.
Hành tỉ
Con dấu này vuông vức 3.1 cm, núm h́nh rồng cuộn, so với các ấn vàng khác cùng
thời
có phần lớn hơn. Theo cổ tịch, ấn đời Hán được qui định là một tấc (khoảng 2.2
cm),
xem ra nước Nam Việt không tuân theo qui tắc của Hán triều mà có tiêu chuẩn
riêng.
Con du long trên ấn cuộn theo h́nh chữ S, giương vuốt nhe nanh trông rất hùng
tráng,
không có sừng nhưng hai tai to, thân có vảy, phần dùng để cầm trơn bóng nên các
chuyên viên khẳng định rằng đây là con dấu được dùng hàng ngày khi c̣n sinh tiền
chứ không phải được đúc để chôn theo khi đă chết.
Núm ấn h́nh con rồng cũng là một câu hỏi lớn về vị thế của vua Văn Đế. Cứ như
qui
luật, một khi thần phục Trung Hoa, vua các phiên thuộc chỉ được phong vương,
đúng lư
ra phải là Triệu Văn Vương. Ấn của phiên thuộc đời Hán làm bằng ngọc, núm h́nh
con
li hổ (螭虎), một động vật thần thoại, đầu rồng nhưng không có sừng, có bốn chân
mà
ta thường gọi là con lân. Năm 1968, người ta đào được ở vùng phụ cận lăng của
Hán
Cao Tổ tại Thiểm Tây một chiếc ấn làm bằng bạch ngọc có khắc “Hoàng Hậu Chi Tỉ”
(皇后之璽), núm h́nh con lân. Chiếc ấn này các chuyên gia khẳng định là của Lă hậu,
vợ Lưu Bang. Việc đúc ấn núm h́nh rồng bằng vàng lại lấy hiệu là Văn Đế chứng tỏ
tổ
chức hành chánh và xă hội nước Nam Việt hoàn toàn độc lập với Trung Hoa. Ngoài
ra,
với những qui mô người ta t́m thấy trong mộ mà ít nhiều như một triều đ́nh thu
nhỏ,
chúng ta có thể cho rằng nước Nam Việt thời đó tương tự như nhà Tần, pha trộn
với một
số tập tục bản địa của vùng Lĩnh Nam chứ không phải bắt chước nhà Hán như trước
đây
vẫn lầm tưởng.
12 chuông đồng h́nh ống
13 chuông có núm để cầm
14 một loại nhạc khí cổ tương tự chiếc lục lạc, dùng trong tế lễ hay yến tiệc
10
Cũng theo sử sách ghi chép, các vua nhà Hán đều không xưng đế khi c̣n sống.
Những
tên gọi như Cao Đế, Văn Đế, Vũ Đế ... đều là thuỵ hiệu (謚號), do quần thần căn cứ
vào công nghiệp của tiên vương rồi truy phong nên ấn của vua Hán không hề có các
loại “Cao Tổ chi tỉ”, “Vũ Đế chi tỉ” và cũng không chôn theo khi qua đời v́
triều đ́nh
nhà Hán có một bảo ấn gọi là truyền quốc tỉ (傳國璽), được coi như tín vật chính
thức
truyền ngôi, lưu giữ đời vua này sang đời vua khác. Nếu vị vua nào khi chết có
ấn chôn
theo th́ đó là ấn được đúc khi lâm chung theo ư của đương sự chứ không phải là
ấn
dùng khi c̣n sống.
Một thắc mắc khác cũng đáng nêu lên là theo sử Trung Hoa, vua thứ hai của triều
đại
nhà Triệu đất Nam Việt vẫn chép là Triệu Hồ (趙胡), sao con dấu này lại có tên là
Triệu Muội (趙眛), liệu có ǵ sai sót hay không? Đối với người Việt chúng ta có lẽ
đây
là một nghi vấn lớn nhưng theo các chuyên viên ngôn ngữ tại Quảng Châu th́ vào
thời
Tây Hán, ngôn ngữ vùng Lĩnh Nam và trung nguyên hoàn toàn khác hẳn, tên của
Triệu
Muội chép trong sử không phải là tên chính thức ghi trên giấy tờ qua lại mà chỉ
là chữ
kư âm do lời khai của các sứ thần được cử đến, khi về triều tâu lại với Hán đế
và
thường chỉ dùng một chữ Hán tương tự. Hiện nay tại vùng nam Trung Hoa, âm “muội”
vẫn c̣n phát âm giống như “hồ” nên việc dùng chữ nọ ghi âm chữ kia không phải là
chuyện đáng ngạc nhiên.15
Ngoài con ấn Văn Đế Hành Tỉ người ta c̣n t́m thấy một chiếc ấn vàng có khắc hai
chữ
thái tử (泰子). Chiếc ấn này một chiều 2.6 cm, một chiều 2.4 cm không vuông hẳn.
Thời cổ người ta dùng lẫn lộn hai chữ thái (太 và 泰) cho nên chiếc ấn có lẽ là
của
Triệu Muội khi ông chưa lên làm vua, chỉ mới là người được chỉ định kế nghiệp.
Thế
nhưng đây cũng là một nghi vấn sử học v́ theo sách vở con Triệu Đà là thái tử
Trọng
Thuỷ chết trước khi ông qua đời, trên danh nghĩa Triệu Muội chỉ là cháu nội,
không thể
được truyền vị thái tử, liệu có phải là của cha ông để lại hay chăng?
Ngoài chiếc ấn thái tử, người ta cũng t́m thấy 4 chiếc ấn khác chôn theo 4 người
đàn
bà trong đó có một chiếc ấn có khắc 4 chữ Hữu Phu Nhân Tỉ (右夫人璽). Chiếc ấn này
vuông vức 2.2 cm được đúc bằng vàng ṛng trong khi 3 chiếc c̣n lại là đồng mạ
vàng
không gọi là tỉ mà chỉ là ấn. Theo qui định, chỉ ấn của hoàng hậu mới được gọi
là tỉ,
như vậy một trong bốn người đàn bà địa vị rất cao và việc xưng hô của triều đ́nh
Nam
Việt không theo cách thức nhà Hán mà theo phong tục của dân địa phương. Từ điểm
này nhiều người đă xác nhận rằng nhà Triệu sau hai đời đă bị Việt hoá khá nhiều,
không phải chỉ là một bản sao của triều đ́nh phương bắc nữa.
Cho đến nay, những sử gia Trung Hoa đều cố gắng dùng điển lệ của nhà Hán để giải
thích các di chỉ trong mộ Triệu Muội nên nhiều điểm chưa rơ ràng, biết đâu nếu
các
15 Tạ Hồng Ba (謝洪波), Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (中國歷代帝王陵墓之謎-
Zhong Guo Li dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi) (Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xă, 2005)
tr. 60
11
nhà khảo cổ Việt Nam bước vào nghiên cứu rất có thể đưa ra được một vài đáp số
và bí
ẩn chưa t́m thấy.
H́nh 2: Ấn vàng Văn Đế Hành Tỉ và ngọc giác bôi
Đồ bạc
Hộp bạc h́nh tṛn, chiều cao 12 cm, đường kính chỗ lớn nhất là 14.9 cm, nặng
572.6
gram t́m thấy trong pḥng đặt quan tài mộ chủ, trong hộp có chứa 10 hộp nhỏ đựng
thuốc viên. Theo sự giám định của các chuyên gia về nghệ thuật tạo h́nh, chất
liệu và
đường nét trên hộp th́ hộp này không phải do người Trung Hoa chế tạo mà có nguồn
gốc từ đế quốc cổ Ba Tư (550 TTL – 330 TTL) c̣n dược hoàn có lẽ là thuốc do
người (12)
Ả Rập bào chế (16). Tính niên kỷ và thời gian trị v́, Văn Đế Triệu Muội thân thể
khôngđược tráng kiện, việc chôn theo thuốc men để dùng ở thế giới bên kia không phải
là
chuyện lạ.
Ngoài chiếc hộp này, người ta cũng t́m thấy một số đồ bằng bạc khác như chậu rửa
(tẩy - 洗), chén uống rượu (chi -卮), khoá đai (đái câu - 帶钩) ... là đồ dùng hàng
ngày
của Việt vương. Trong số 7 chiếc khoá đai th́ có năm h́nh dáng khác nhau, đầu
nhạn,
đầu rùa, đầu rồng, đầu rắn ... điêu khắc tinh vi đẹp đẽ. Những đái câu này dài
18.4 cm,
h́nh cong, có gắn bảo thạch t́m thấy trong pḥng để quan tài của mộ chủ. Theo
những
nhà chuyên môn lượng giá, những món đồ này cho thấy tŕnh độ kỹ thuật thời đó
rất
cao. Khoá đai dùng để đeo kiếm, đao, túi tiền hay ấn tín ... không chỉ để thắt
lưng như
ngày nay.
Đồ đồng
Tổng số các đồ đồng trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội lên tới hơn 500 món, vừa đa
dạng, vừa tinh mỹ mang nhiều tính chất bản địa của vùng Lĩnh Nam. Trong số này
người ta nhận thấy bao gồm đồ dùng nhà bếp, đồ ăn uống, tửu khí, nhạc khí, các
loại
dùng trong xe cộ, thắng ngựa ...
Người Trung Hoa phân biệt khá chi li về những đồ đựng bằng đồng và không phải đồ
vật nào có ba chân cũng đều gọi là đỉnh17. Đồng khí dùng để đựng chia làm ba
loại
khác nhau, đựng đồ ăn (food vessels) bao gồm lịch (鬲), đỉnh (鼎), nghiễn (甗),
Về đỉnh đồng có tất cả 36 cái, bao gồm ba kiểu khác nhau của người Hán, người Sở
và
người Việt trong đó 9 cái có khắc hai chữ Phiên Ngung (蕃禺) là những sản phẩm
được
đúc tại kinh đô Nam Việt (nay thuộc Quảng Tây, Trung Hoa). Đặc biệt hơn cả có
một
đỉnh lớn kiểu người Việt, cao 54.5 cm, trong đỉnh có khắc hai chữ “thái quan”
(泰官) là
chức quan chuyên về việc ăn uống thường ngày cho nhà vua.
B́nh đồng có 9 cái, một cái nạm vàng (鎏金) cao 37 cm, cổ dài, bụng ph́nh ra, chỗ
nào
cũng khảm vàng lấp lánh là một nghệ phẩm đặc biệt.
Ngoài ra c̣n có 9 cái thạp đồng (銅提簡) là một trong những món đặc trưng của dân
Việt. Trên một chiếc thạp đồng cao 40.7 cm có một vành đai khắc bốn h́nh thuyền
16 Đặc điểm của chiếc hộp bạc này là có chân, một kiểu dáng mà người Trung Hoa
thời đó chưa thịnh
hành đủ biết nếu không phải là do người ngoại quốc mang tới th́ cũng là do công
nhân địa phương bắt
chước theo.
17 Ngày nay khi nói đến đỉnh chúng ta thường nghĩ đến một loại vạc có ba chân.
Theo truyền thuyết, vua
Đại Vũ (禹) đúc 9 cái đỉnh lớn, trên có khắc sông núi cỏ cây để truyền cho hậu
thế. Chỉ những ai tài đức
vẹn toàn mới làm chủ được những đỉnh này và nếu như bất xứng th́ đỉnh sẽ qua tay
người khác. Cái
đỉnh trở nên một biểu tượng của đức độ và những v́ vua đời Hạ (1989-1766 B.C.),
đời Thương (1766-
1122 B. C.), đời Chu (1122-221 B. C.) đều lấy việc truyền đỉnh coi như một kế
thừa chính thống. Tuy
nhiên, người Trung Hoa chưa t́m được đỉnh nào có từ đời Hạ và những đỉnh của đời
Thương, Chu t́m
được không phải là các đỉnh lớn như sử sách miêu tả.
(13)
quấn liền theo thân thành một h́nh dài liên tục, mỗi thuyền có 5 người đội mũ
lông
chim, đi chân đất, đầu thuyền có treo một đầu người, đầu thuyền có cắm hai lá cờ
cũng
bằng lông chim. Năm người trên thuyền mỗi người một kiểu, kẻ th́ cầm giầm chèo
thuyền, kẻ th́ đánh trống, kẻ cầm binh khí, có kẻ lại đang giết địch thủ. Người
ta giải
thích rằng v́ đất Quảng Châu giáp với biển cả nên thường phải đối phó với những
kẻ
thù theo đường biển tiến vào nên những h́nh vẽ miêu tả việc giao chiến và tiêu
diệt kẻ
địch. Trong thuyền cũng thấy vẽ các loài hải sản như rùa, chim, cá ... h́nh thái
sinh
động, nét vẽ sắc bén chứng tỏ đă đạt tới một tŕnh độ mỹ thuật cao. Những h́nh
đó
tương tự như những h́nh chúng ta khá quen thuộc trên các loại trống đồng t́m
thấy ở
miền Bắc nước ta.
H́nh 2: Một vật bằng đồng trong mộ Triệu Muội
Ngoài những món kể trên người ta c̣n t́m thấy 39 tấm gương đồng, chế tạo tinh
xảo,
đúc nổi h́nh rồng, mây, núi ..., cái lớn nhất đường kính 41 cm là kính lớn nhất
t́m thấy
tại Trung Hoa đời Tây Hán, coi như quốc bảo. Trên kính này có vẽ người, vật bằng
màu, khi t́m thấy vẫn c̣n các màu xanh lục và trắng, chính giữa có hai người
đang đấu
kiếm, bên ngoài có 4 người khác đứng xem, nét vẽ sinh động như thật. Chung quanh
gương và bên trong cũng có đường lượn nổi liên tục (liên hồ văn - 連弧紋) và h́nh
mây
cuốn (quyển vân văn - 卷雲紋). Cũng có những tấm gương gọi là lục sơn kính - 六山鏡
là kiểu mẫu khá độc đáo thời Chiến Quốc ít thấy trong đời Hán18. Lục sơn kính
trong
mộ Triệu Muội là cổ vật đầu tiên đào được mặc dù trong các viện bảo tàng vẫn có
18 Ở mặt sau của tấm gương có những chạm khắc h́nh chữ sơn 山 để thành h́nh tam
giác, tứ giác, ngũ
giác, lục giác. Lối trang trí h́nh kỷ hà này ít thấy ở các đời sau.
14
trưng bày những kính tương tự nhưng là của gia bảo do tư nhân giữ được chứ không
phải
chôn dưới đất.19
Cũng nên nói thêm, trong mộ Triệu Muội người ta t́m được một số tổ hợp kính
(組合鏡). Như chúng ta đă biết gương là dụng cụ để soi mặt, một món đồ không thể
thiếu của phụ nữ mọi thời đại. Khi chưa chế được gương bằng thuỷ tinh, người ta
đúc
gương bằng đồng rồi mài cho nhẵn bóng để dùng, nếu không th́ soi vào nước. Chiếc
gương đồng thời xưa bao gồm hai mặt, một mặt nhẵn, c̣n mặt kia thường được trang
trí
bằng những hoa văn hay h́nh điểu thú, có khoen để buộc vào thắt lưng. Đồng thời
cổ
thường pha thiếc, tuỳ theo nhiều ít mà cứng hay mềm, thô tạo hay nhẵn nhụi.
Chính v́
cần đáp ứng nhu cầu mềm để dễ điêu khắc và cứng để dễ đánh bóng mà soi nên người
Trung Hoa nghĩ ra cách đúc gương thành hai mảnh với hai hợp chất khác nhau cho
hai
nhiệm vụ gọi là tổ hợp kính. Nghề đúc đồng là một tuyệt nghệ của vùng Lĩnh Nam
nên
việc trong mộ có nhiều tổ hợp kính tinh xảo không phải là chuyện lạ.
Ngoài những tấm gương đồng (銅鏡), trong mộ cũng có những bồn lớn vừa để chứa
nước rửa, vừa để soi mặt gọi là giám (鑒), khi t́m thấy bên trong c̣n nhiều loại
thực
phẩm như thịt heo, thịt dê, thịt gà, cá, rùa ... là những món ăn thông dụng thời
đó.
Trong mộ cũng có 11 cái ḷ hương, nắp có chỗ thoát hơi. Hương liệu vốn dĩ là sản
phẩm
độc đáo của nước ta nhất là các tỉnh miền Trung nên ḷ hương bằng đồng cũng là
một
sản phẩm có tính địa phương, nói lên kỹ thuật đúc đồng của phương nam có những
nét
đặc sắc mà trung nguyên chưa theo kịp.
Chuông đồng
Có ba loại chuông cổ khác nhau theo tên gọi: nữu chung (鈕鍾), dũng chung (甬鍾) và
đồng câu điêu (銅句鑃). Chuông đồng thời này chưa giống như các loại chuông về sau
này, thường nhỏ hơn, một bộ có nhiều cái để đánh ra nhiều âm thanh được dùng chủ
yếu trong lễ nghi như một h́nh thức trung gian tiếp xúc với thần linh.
Âm nhạc cũng rất thông dụng trong các cuộc vui chơi, yến tiệc. Tại pḥng phía
đông
trong mộ có chứa nhiều loại nhạc khí, bên cạnh c̣n có một nhạc sư tuẫn táng.
Nhạc khí
chia ra nhiều loại khác nhau bằng đồng, bằng đá, bằng gốm, bằng tơ.
Riêng về nhạc khí bằng đồng, người ta t́m thấy một bộ nữu chung 14 cái, dũng
chung
một bộ 5 cái, câu điêu một bộ 8 cái. Nữu chung là sản phẩm của Nam Việt, cái lớn
nhất
cao 24.2 cm, cái nhỏ nhất cao 11.4 cm.
Dũng chung, cái lớn nhất cao 49 cm, cái nhỏ nhất cao 38 cm, h́nh ống tṛn.
19 Theo Tạ Hồng Ba trong Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (Cáp Nhĩ
Tân, 2005) th́ loại
gương đồng này là kiểu mẫu của nước Sở thời Chiến Quốc nhưng ngay trong các ngôi
mộ của nước này
người ta cũng chỉ t́m được các loại kính có 3 chữ sơn, 4 chữ sơn. Đây là chiếc
kính có 6 chữ sơn đầu tiên
t́m thấy mà lại ở một quốc gia khác.
15
Câu điêu lớn nhất cao 64 cm, h́nh hơi vuông, cán đặc, miệng h́nh cung. Trên thân
các
câu điêu có khắc lơm hàng chữ triện: Văn đế cửu niên nhạc phủ công tạo (文帝九年樂
府工造)20 từ thứ nhất đến thứ tám là những món đồ có niên đại rơ rệt duy nhất vào
thời
này. Người ta cũng đánh thử những câu điêu này, tiếng vẫn c̣n tốt.
Đồng qua, đồng kiếm và hổ tiết
Trong mộ có rất nhiều loại binh khí. Ngoài 15 thanh kiếm thép, các món khác đều
làm
bằng đồng. Món đồ hiếm quí nhất là một thanh đồng qua Trương Nghi (張儀銅戈) trên
có khắc hàng chữ “vương tứ niên tương bang Trương Nghi” (王四年相邦張儀) ứng vào
thời Tần Huệ Vương (秦惠王), do Trương Nghi trông coi chế tạo đủ biết đây là một
món binh khí từ nước Tần đem vào Nam Việt chứ không phải là sản phẩm bản xứ.
Ở gian pḥng phía tây người ta t́m thấy một thanh đồng kiếm, h́nh dáng theo kiểu
nước Sở thời Chiến Quốc là thanh kiếm duy nhất làm bằng đồng t́m thấy trong ngôi
mộ này.
Người ta c̣n t́m được một hổ tiết trên đúc nổi h́nh con cọp, tư thái sinh động
trong tư
thế sắp sửa vồ mồi, đầu ngửng lên, há miệng nhe răng, lưng khum đuôi cuộn lại
trên
thân có dát vàng thành h́nh vằn là hổ tiết duy nhất mà người Trung Hoa t́m thấy
từ
trước đến nay. Trên hổ tiết này cũng c̣n một hàng chữ dát bằng vàng: “Vương Mệnh:
Xa Đồ” (王命車徒). Có ba loại: hổ tiết, long tiết và nhân tiết là các loại lệnh phù
dùng
trong quân sự để điều binh. Chỉ những ai cầm các lệnh phù này mới có thể điều
động
được quân đội và chiến xa.
Đồng phương, ấn hoa (印花)
Phương (鈁) là một loại b́nh đựng rượu miệng h́nh vuông, bụng hơi ph́nh, trên có
khắc
những đường nét phức tạp. Kỹ thuật chế tạo những b́nh này đă tinh vi. Một trong
những hiện vật quan trọng nhất mà người ta t́m thấy trong mộ Triệu Muội là hai
ấn
bằng đồng một to, một nhỏ dùng để ráp vào nhau in lên vải làm mẫu thêu. Người
thợ
sẽ dùng hai mẫu này để in lên vải đúng vị trí của h́nh sau đó thêu bằng tay theo
vết đă
có sẵn. Hai mẫu này tương tự như mẫu người ta t́m thấy trong mộ ở Mă Vương Đôi
(馬王堆), Trường Sa (長沙). Ấn thêu có h́nh ngọn lửa, mây và núi non này được coi
như chứng cớ sớm sủa là tơ lụa có h́nh thêu đă được sản xuất một cách qui mô tại
Nam
Việt và mẫu in trên vải có thể là bước khởi đầu cho nghề in h́nh và chữ lên giấy,
là
những phát minh mà người ta cho rằng cũng phát xuất từ thời Hán. Đặc biệt hơn
nữa,
mẫu h́nh không phải chỉ gồm một bản gốc mà có thể ghép hai hay nhiều mẫu với
nhau
để thành những mẫu phức tạp.21
20 thợ trong nhạc phủ chế tạo năm Văn Đế thứ 9 (129 TTL)
21 Lothar Ledderose, Ten Thousand Things tr. 158-9
16
Đồ trang trí
Trong số đồ trang trí nội thất có một bức b́nh phong bằng sơn mài có những bản
lề và
mảnh kết hợp bằng vàng ṛng đúc theo h́nh rồng cuộn, chim sẻ ...
Kiếm sắt, mâu sắt, giáp sắt
Trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội có đến hơn 700 món đồ sắt bao gồm nhiều loại
vật dụng khác nhau dùng trong việc trồng trọt, công nghệ và binh khí.
Giáp sắt cao 58 cm tổng cộng 709 miếng vảy h́nh vuông, góc tṛn kết lại với nhau,
thích hợp cho khí hậu nóng và ẩm của phương nam, khác hẳn kiểu áo giáp của miền
bắc dùng cho khí hậu nóng và khô.
Kiếm sắt tổng số 15 cái trong đó một thanh đeo phía eo trái của mộ chủ, bao kiếm
bằng tre, cán bằng gỗ có quấn dây tơ. Bốn thanh kiếm có cán khảm ngọc màu xanh
vàng, điêu khắc tinh tế, bên dưới có h́nh thú đục nổi (phù điêu) rất sinh động.
Đặc biệt nhất trong số có một chiếc mâu làm bằng sắt pha đồng và khảm vàng, trên
khắc văn h́nh mây rất đẹp mắt nên người ta cho rằng nếu không phải là vũ khí tuỳ
thân
của Triệu Muội th́ cũng là một loại nghi trượng tượng trưng cho uy quyền của bậc
đế
vương.
Ngọc bích
Có cả thảy 56 món ngọc bích trong mộ Triệu Văn Đế, riêng trong pḥng để quan tài
đă có đến 47 món nên người ta cho rằng mộ chủ ưa thích ngọc. Trong những ngọc
khí
này, những món đặc sắc nhất phải kể đến những món ngọc bích điêu khắc h́nh rồng,
và một đại ngọc bích đo được 33.4 cm là món ngọc lớn nhất, điêu khắc
tinh mỹ. Đại
ngọc bích được các nhà khảo cổ ban cho mỹ danh “bích trung chi vương”22 (vua các
loại ngọc bích).
Vật bằng ngọc phía bên phải ở trên được các nhà khảo cổ đoán rằng đây là một
khúc
trong nhiều mảnh nối liền thành sợi đai để đeo kiếm.
22 璧中之王
17
Hộp bằng ngọc
Hộp ngọc t́m thấy trong căn pḥng chứa quan tài mộ chủ là loại ngọc xanh, ánh
màu
vàng, thân hộp h́nh viên trụ cao 77 cm, có khắc h́nh hai con phượng và nhiều
h́nh
chạm nổi (phù điêu) rất đẹp, kết cấu tinh vi, nhẵn nhụi đáng được coi là một
tuyệt
phẩm trong ngọc khí.
Ti lũ ngọc y
Y phục bằng ngọc là một h́nh thức tẩn liệm độc đáo của thời Hán. Sau thời Đông
Hán
người ta không c̣n t́m thấy lối mai táng tương tự như vậy nữa. Ngọc y được qui
định
theo đẳng cấp có kim lũ, ngân lũ, đồng lũ ngọc y (các sợi dây buộc các mảnh ngọc
với
nhau bằng vàng, bạc hay đồng). Các chư hầu của nhà Hán thường dùng kim lũ. Riêng
Triệu Văn Đế th́ dùng tơ để kết nối những miếng ngọc với nhau (ti lũ ngọc y - 絲縷
玉衣) là bộ áo ngọc đầu tiên người ta t́m ra và duy nhất từ trước đến nay. Bộ ngọc
y
này dài 1.73 mét, tổng cộng là 2291 mảnh tết lại bằng tơ màu đỏ thành nhiều h́nh
kỷ
hà, sắc thái dễ coi.
Ấn ngọc, ngọc bội và ngọc giác bôi
Ấn ngọc
Có tất cả 9 cái ấn ngọc trong đó có 3 chiếc khắc văn tự (6 chiếc kia không có
chữ) đều
là ấn h́nh vuông, t́m thấy trên thân người của mộ chủ khắc các chữ Triệu Muội
(趙昧),
Thái Tử (泰子) và Đế Ấn (帝印). Chính từ các con dấu này chúng ta có thể xác định
rằng Triệu Vương tự xưng là đế, ngang hàng với vua nhà Hán chứ không chịu nhún
ḿnh thần phục như sử Trung Hoa vẫn thường khẳng định.
Ngọc bội
H́nh 3: Một món đồ ngọc tinh xảo
Việc đeo những đồ trang sức tạc bằng ngọc là một truyền thống đă có từ lâu ở
phương
Đông. Người ta tin rằng đeo ngọc trong người có thể giúp cho thân thể mạnh khoẻ,
trừ
được tà khí nên ngọc vẫn thường được tạc thành đồ trang sức và cũng tượng trưng
cho
giới quyền quí. Trong mộ của Triệu Văn Đế Triệu Muội có tất cả hơn 130 món đồ
làm
bằng ngọc, nhiều món rất tinh mỹ và quí giá chẳng hạn như một khối ngọc tạc h́nh
sừng tê, một khối ngọc tạc h́nh hai con rồng chầu, giương nanh trừng mắt rất
sinh động.
18
Một số món ngọc của các phi tần người ta cho rằng có thể ráp lại với nhau theo
nhiều
cách tuỳ theo trường hợp và sáng kiến của người đeo.
Ngọc giác bôi
T́m thấy ngay trong pḥng để quan tài là chén của mộ chủ dùng dài 18.4 cm, miệng
h́nh ống, đường kính chỗ nhỏ nhất 5.8 cm, chỗ lớn nhất 6.7 cm trông như một cái
tù và,
rất lạ mắt. Đây là món đồ mà các chuyên gia đánh giá là “độc nhất vô nhị” trong
các
món ngọc khí đời Hán. Cái chén ngọc này làm bằng loại ngọc trong mờ, có gân nổi
từ
xanh nhạt sang màu nâu tạc từ một khối đá nguyên thuỷ và phải dùng nhiều loại kỹ
thuật khác nhau, khắc nông hay sâu.(23)
Các món đồ sứ (陶器)
Trong mộ của Triệu Muội người ta t́m thấy 371 món đồ sứ bao gồm đồ để đựng, đồ
để
nấu và các loại dùng hàng ngày. Ngoài ra c̣n có các món thuộc về minh khí là đồ
chế
tạo riêng để chôn theo người chết được mô phỏng theo những vật dụng hàng ngày mà
mộ chủ thường dùng trong đó có đỉnh, bích (món đồ của bậc vua chúa cầm theo tước
vị
của ḿnh), ṿ, chén, bát ... Đặc biệt nhất trong một số ṿ và đỉnh có bốn chữ
Trường
Lạc Cung Khí (長樂宮器) và đă đưa ra nghi vấn cho những nhà nghiên cứu: “Có thực
trong cung Triệu Việt Vương có cung Trường Lạc hay chăng?”. Trường Lạc Cung là
tên của một cung điện tại Trường An, chính là cư sở của vua và hoàng hậu nhà Hán,
việc một số đồ sứ hiện hữu trong mộ của Triệu Muội thực đáng lưu tâm.
Vải vóc, tơ lụa
Quảng Châu vốn dĩ là hải cảng quan trọng hơn cả của miền Nam và vào thời đại
nước
Nam Việt được coi như thương khẩu quốc tế, buôn bán trao đổi không chỉ với các
dân
tộc nằm trong đại lục Trung Hoa mà c̣n cả với nhiều quốc gia từ Nam Thái B́nh
Dương, Ấn Độ Dương cho tới tận Phi Châu.
Theo lịch sử, phương Nam đă biết trồng dâu nuôi tằm từ lâu, gần đây tại miền Bắc
nước ta cũng đă t́m thấy mẫu vải trong mộ cổ từ thời Đông Sơn. Trong mộ Triệu
Muội,
các loại vải t́m thấy phong phú cả về số lượng lẫn chủng loại. Trong căn pḥng
phía
tây, người ta t́m được vải vóc xếp thành tầng, trong số đó bao gồm cả lụa (絹),
là
(朱羅), đồ thêu (綉), và nhiều loại the mỏng ... Những loại tơ lụa này khi xuất thổ
đều
bị mủn nát, thành bụi cao đến 2, 30 cm, tính ra không dưới 100 xấp vải, chồng
lên nhau
khoảng 700 lớp. Các đồ tuỳ táng cũng có một số lớn được quấn vải, chẳng khác ǵ
người ta dùng giấy gói những hàng hoá để chuyên chở đi nơi khác. Các loại vải
t́m
thấy cũng được nhuộm màu khác nhau và cho thấy ở vào thời kỳ này, vải đă khá phổ
biến ở phương Nam để dùng trong giao dịch, buôn bán với các nơi khác.
23 Maurizio Scarpari, Ancient China – Chinese civilization from its Origins to
the Tang Dynasty (New
York: Barnes & Noble Books, 2000) tr. 181
19
Ngà voi, ngọc trai
Trong mộ cũng t́m thấy ngà voi c̣n nguyên chiếc, tổng cộng 5 cái, lớn nhất dài 1
mét
26, đặt chồng lên nhau cao 57cm. Theo các chuyên gia về sinh vật học, những ngà
voi
này không phải voi Á Châu mà to lớn giống như ngà voi Phi Châu nên người ta cho
rằng đây không phải là sản vật bản địa mà do các thương thuyền từ nước ngoài đem
đến Quảng Châu. Ngoài ngà voi c̣n nguyên trong mộ cũng có một số món đồ và vật
dụng khắc bằng ngà.
Trong túi gối đầu đặt dưới bộ ngọc y người ta t́m thấy 470 viên ngọc trai, đường
kính
từ 0.1 đến 0.4cm là ngọc trai c̣n ở dạng thiên nhiên chưa giũa gọt. Theo một số
nhà
khảo cổ giải đoán, ngọc trai có lẽ dùng để trừ tà ma và đây cũng là lần đầu tiên
một
chiếc gối như thế được t́m thấy. Ngoài ra trong một chiếc hộp sơn lớn người ta
t́m
được một số lớn ngọc trai khác, nặng tổng cộng 4117 grams, đường kính từ 0.3 đến
1.1
cm.
Tuẫn táng (殉葬)
Trong mộ Triệu Muội người ta t́m thấy cả thảy 15 người tuẫn táng. Tuẫn táng là
chôn
người sống theo để hầu hạ, phục dịch cho người chết ở thế giới bên kia, một tục
lệ khá
phổ biến ở thời kỳ phong kiến cổ đại.
Mười lăm người này chia ra như sau:
- Pḥng trước 1 người gác cửa (cảnh hạng lệnh - 景巷令)
- Pḥng trước phía đông (đông nhĩ thất) 1 người có nhạc khí kèm theo chắc là
nhạc công.
- Pḥng phía đông chôn theo 4 cung phi của Triệu Muội cùng nhiều món ngọc
khí, đồng khí, đào khí. Ngoài ra c̣n có thêm bốn cái ấn như đă miêu tả ở trên.
- Pḥng phía tây có 7 người cùng với các đồ dùng nhà bếp, có lẽ đây là đầu bếp
và người phục dịch. Cũng nơi đây mỗi người có chôn theo một hay hai chiếc
gương đồng.
- Trong mộ đạo c̣n có 2 người, có lẽ một người là vệ sĩ, một người là xa phu.
Theo những chuyên gia giám định th́ tất cả những người tuỳ táng này đều bị đánh
mạnh vào ngực cho chết rồi chôn theo. Trong tất cả những ngôi mộ đời Hán đào
được
ở Trung Hoa, ngoài mộ của Triệu Muội, người ta không thấy có hiện tượng tuẫn
táng.
Tục lệ này ở Trung Hoa chỉ có từ đời Tần trở về trước.(24)
Kiến trúc
Theo các chuyên gia về lăng mộ của Trung Hoa, ngôi mộ Triệu Văn Đế thực ra không
thấm vào đâu với một của các v́ vua chúa khác và kém cả nhiều mộ của vương tôn,
hoàng thất. Ngôi mộ này nằm giữa một ngọn đồi thạch anh, một loại đá biến chất
khá
cứng, khi khai thác công nhân đă phải dùng búa đẽo từng miếng một. Vào thời kỳ
ngôi
24 Một ngôi mộ đào được ở An Dương, Hà Nam đời Thương có đến 90 người tuẫn táng
bao gồm thê
thiếp và đầy tớ
20
mộ này được kiến tạo 21 thế kỷ trước khi kim loại c̣n hiếm hoi, việc đào khoét
một
ngọn núi nhỏ thành một hang động lớn như thế không phải là chuyện dễ dàng. Theo
các tính toán th́ ngôi mộ của Triệu Văn Đế sử dụng đến hơn 750 phiến đá để làm
tường, lót sàn, xây cột, làm cửa ... mỗi thứ lớn nhỏ, dày mỏng một khác. Những
phiến
đá đó không phải cùng một loại mà bao gồm cả sa thạch, huyền vơ, hoa cương trong
đó
sa thạch tương đối mềm nên được dùng nhiều hơn cả.
Tuy nhiên khi đối chiếu các mẫu đất đá ở phụ cận, các nhà nghiên cứu không t́m
thấy
nơi nào có các loại đá dùng trong kiến trúc ngôi mộ này. Điều đó khiến họ đưa
đết nghi
vấn là các tảng đá đó được đục từ một nơi nào đó sau đó mới chuyên chở về để xây
mộ. Một việc khá t́nh cờ đă đưa đến câu trả lời. Một nông dân vô t́nh đào được
một
cái đục bằng đồng (銅鑿) ở một nơi cách ngôi mộ này khoảng 100 dặm và các nhà
khảo cổ xác định rằng tuổi của nó khoảng hơn 2000 năm và người ta cũng t́m thấy
nơi
ngọn núi Liên Hoa gần đó loại hoa cương cùng loại với đá dùng để xây mộ Triệu
Muội
và người ta đưa đến kết luận rằng nhà Triệu đă thiết lập một loại công xưởng tại
đây
để đục đá, sau đó dùng thuyền theo Châu Giang chở về. Chính đó là lư do tại sao
ngôi
mộ giữ được bí mật phải đến hơn 2000 năm sau mới vô t́nh t́m thấy. Tính theo kỹ
thuật và phương tiện của thời đại, người ta cho rằng riêng việc đục đá cũng phải
tốn
hàng mấy tháng trời và dùng hàng trăm nhân công.
Nghiên cứu thêm về ngôi mộ, v́ mộ thất nằm sâu trong đất đến 20 thước, rộng hàng
trăm thước vuông, người ta cho rằng việc kiến trúc phải khởi đầu bằng cách đào
một
giếng to từ trên đỉnh đồi đi xuống, lớn hơn ngôi mộ để đưa những phiến đá mà
trọng
lượng không dưới 3, 4000 kg, có tảng dài tới 5.5 mét.
Việc sử dụng những tảng đá để xây dựng cũng là một thay đổi so với các triều đại
trước
thường chỉ xây cất một phần bằng gỗ và phần nào miêu tả h́nh thái sinh hoạt của
triều
đ́nh trong một qui mô nhỏ.
KẾT LUẬN
Từ những di vật trong ngôi mộ của Triệu Văn Đế chúng ta thấy các bậc đế vương
đời
nào cũng muốn sống lâu để hưởng thụ và lại c̣n muốn tiếp tục nếp sống vương giả
ngay cả khi đă qua đời. Trong mộ Triệu Muội người ta cũng t́m thấy một số thuốc
viên
có lẽ là những “linh đan” mong uống vào có thể “trường sinh bất tử” mà thời cổ
các
đạo sĩ thường bỏ nhiều công lao chế luyện. Những viên thuốc này khi phân chất
người
ta t́m thấy các loại đá quí tán thành bột, nhiều loại hoá chất trong đó có lưu
huỳnh,
hùng hoàng, ch́ và chu sa. Rất có thể Triệu Muội đă trúng độc khi dùng các loại
linh
đan này.
Theo một số nghiên cứu, vua chúa đời Hán dùng đến 1/3 tài nguyên quốc gia vào
việc
xây dựng lăng tẩm.25 Nhà Thương, nhà Chu, nhà Tần đều xây những ngôi mả khổng lồ
mà đến nay người ta vẫn chưa khám phá hết. Vào thời đó, tục tuỳ táng c̣n thông
dụng
25 The Han dynasty rulers, for example, are said to have spent one third of the
state revenue on imperial
tombs. Lothar Ledderose, Ten Thousand Things, tr. 65.
21
nên vua chúa nào cũng chôn theo ḿnh về thế giới bên kia một số cung tần, mỹ nữ,
quan quân, gia nhân, xe ngựa ... Một ngôi mộ nước Tề tại Sơn Đông có đến 600 bộ
xương ngựa.
Chúng ta c̣n chờ đợi thêm những khai quật và nghiên cứu những học giả mới dám
khẳng định về đâu là cái nôi của văn hoá quan trọng này. Tuy nhiên, những khai
quật
cũng cho thấy từ nhiều thế kỷ trước TL, miền Lĩnh Nam đă có một nền văn minh khá
rực rỡ trong đó nhiều kỹ thuật được áp dụng rộng răi đồng thời với các khu vực
khác
trên toàn cơi Trung Hoa cho thấy việc nhiều sử gia cho rằng chỉ đến sau khi bị
lệ thuộc
nước Tàu các dân tộc miền Nam mới học được một số “văn minh Hoa Hạ” không c̣n
đứng vững. Chúng ta có thể tin tưởng rằng trong cùng một thời kỳ, nhiều trung
tâm văn
hoá tồn tại có những trao đổi, học hỏi lẫn nhau nhưng không phải chỉ một chiều
từ
phương Bắc đi xuống.
Việc chiếc ấn vàng của Triệu Muội có khắc bốn chữ Văn Đế Hành Tỉ cũng là một
chứng cớ quan trọng khác. Nước Nam Việt đă sinh hoạt một cách độc lập và không
chịu phong vương của nhà Hán như người ta thường hiểu lầm. Triệu Muội đă tự xưng
là
Triệu Văn Đế ngay từ khi c̣n sống, không phải là một thuỵ hiệu sau khi chết.
Chúng ta
cũng có thể suy luận thêm là chính Triệu Đà lúc sinh tiền cũng tự xưng là Triệu
Vũ Đế
chứ không phải chỉ đến tước Vương như sử Trung Hoa đă chép.
Lẽ dĩ nhiên, chiếc ấn vàng cũng là một đề tài đáng bàn rộng thêm một chút. Theo
suy
nghĩ thông thường, chúng ta thường cho rằng ấn là để đóng dấu son lên các văn
thư của
nhà vua. Thực ra cho tới thời kỳ này, khi giấy chưa được phát minh và công văn
c̣n
viết trên những thanh tre kết lại, ấn tượng trưng cho thẩm quyền (token of
authority) và
tư thế của sở hữu chủ hơn là một tín hiệu để in trên thư từ, văn kiện26. Phần
lớn người ta
sử dụng dấu để đóng lên một tác phẩm như đă t́m thấy trên những h́nh nhân trong
mộ
Tần Thuỷ Hoàng và c̣n lưu truyền về sau trên đồ sứ và các đồ dùng có nguồn gốc
là
đất sét. Chiếc dấu của Triệu Văn Đế cũng mang ư nghĩa đó nên chôn theo trong mộ
như một thứ thông hành khi về thế giới bên kia.
Một trong những giả thuyết mà các nhà nghiên cứu đưa ra là vùng Lĩnh Nam nói
chung
và miền Bắc nước ta nói riêng chỉ có cơ hội phát triển một khi Trung Nguyên có
loạn.
Trong thời kỳ đó, khi nước Tàu các phe phái thanh toán lẫn nhau để làm bá chủ,
t́nh
h́nh kinh tế bị kém sút nhiều và giới thương nhân quốc tế không đến buôn bán
được
nên chuyển hướng sang Giao Châu để t́m đường sang Trung Hoa theo đường bộ.
Những thời kỳ nước ta mạnh lên hầu như bao giờ cũng đi nghịch chiều với phương
Bắc.
Vào thế kỷ thứ 10 sau Công Nguyên, khi nhà Đường tàn lụi, Trung Hoa chia ra
thành
nhiều nước nhỏ nên việc kiềm chế các khu vực lệ thuộc ở phương Nam cũng nới ra
tạo
cho một số thổ hào đứng lên phất cờ độc lập mở đầu cho một kỷ nguyên mới trên
đất
nước ta. Khi nhà Tống bị đe doạ bởi các giống dân du mục phương Bắc, nước ta
cũng (26) Lothar Ledderose, tr. 159 (22)
có dịp vùng lên để mở ra một thời kỳ thịnh trị mà ngày nay chúng ta gọi là văn
minh
Lư Trần.
Thời kỳ nhà Triệu cũng tương tự như thế nên Nam Việt cũng trở thành một trung
tâm
thương mại quốc tế, lưu lại nhiều dấu tích qua ngôi mộ của Triệu Muội. Nếu tính
về
ảnh hưởng của văn minh Hán tộc th́ nhà Triệu là giai đoạn đầu tiên chúng ta bị
đồng
hoá một cách qui mô nhưng nếu đứng ở phương diện chính trị th́ giai đoạn này
người
Việt đă được tổ chức thành quốc gia trong khi các nước chung quanh như Chiêm
Thành,
Chân Lạp, Xiêm La, Ai Lao c̣n đang trong t́nh trạng bộ lạc. Về phương diện sử
liệu,
trước thời nhà Triệu không ai biết chắc tổ chức xă hội của người Việt đă tiến
đến đâu
nhưng chắc chắn rằng trước khi Triệu Đà chiếm cứ nước ta, dân cư bản địa đă có
một
nền văn minh rất cao mà một số di tích c̣n lưu lại trong ngôi mộ Triệu Muội.
Trong
nhiều thời kỳ, một triều đại mới đă t́m cách xoá sạch mọi dấu tích của các triều
đại cũ
để nhấn mạnh vào tính chính thống của ḿnh. Trong những năm gần đây, một số di
chỉ
quan trọng được t́m thấy trong vùng Lĩnh Nam, Vân Quí và miền bắc nước ta đă
khiến
nhiều vấn đề lịch sử cần được nh́n lại dưới một lăng kính mới.
Tháng 11, 2006
23
PHỔ HỆ HỌ TRIỆU
Triệu Đà (趙佗)
Nam Việt Vũ Đế (武帝)
Tại vị 67 năm (203 TTL – 137 TTL)
|
Triệu Muội (趙眛)
Nam Việt Văn Đế (文帝)
Tại vị 16 năm (137 TTL – 122 TTL)
|
Triệu Anh Tề (趙嬰齊)
Nam Việt Minh Vương (明王)
Tại vị 10 năm (122 TTL – 113 TTL)
|
Triệu Hưng (趙興)
Tại vị 1 năm (113 TTL)
|
Triệu Kiến Đức (趙建德)
Tại vị chừng 2 năm (112 TTL – 111 TTL)
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Diệp Bội Lan (葉佩蘭). Văn Vật Thu Tàng Giám Thưởng Từ Điển
(文物收藏鑒賞辭典). Bắc Kinh: Đại Tượng xb xă, 2004.
2. Ebrey, Patricia Buckley. The Cambridge Illustrated History of China.
London: Cambridge University Press, 1996.
3. Không tác giả. New Archaeological Finds in China: Discoveries during the
Cultural Revolution. Peking: Foreign Languages Press, 1974.
4. Ledderose, Lothar. Ten Thousand Things: Module and Mass Production in
Chinese Art. NJ: Princeton University Press, 2000.
5. Mạc, Kiệt (莫杰) chủ biên. Quảng Tây Phong Vật Chí (廣西風物志). Quảng
Tây: Quảng Tây Nhân Dân xb xă, 1984.
6. National Palace Museum. Chinese Cultural Art Treasures. Đài Bắc: Quốc
Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1967.
7. Nhiều tác giả. Conference papers on Archaeology in Southeast Asia.
(東南亞考古論文集) Hongkong: The University Museum and Art Gallery,
The University of Hong Kong, 1995.
8. Nhiều Tác Giả. Lịch Sử Văn Hoá Trung Quốc (中國文化史) 2 tập (Trần
Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch). Hà Nội: nxb Văn
Hoá – Thông Tin, 1999.
9. Đồng, Ân Chính (童恩正). Nam Phương Văn Minh (南方文明). Trùng
Khánh: Trùng Khánh xb xă, 1998.
10. Scarpari, Maurizio. Ancient China: Chinese Civilization from its Origins to
the Tang Dynasty. New York: Barnes & Nobles, 2000.
11. Tạ, Hồng Ba (謝洪波). Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê
(中國歷代帝王陵墓之謎- Zhong Guo Li Dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi).
Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xă, 2005.
12. Tài liệu internet www.guangzhou.gov.cn
13. Thượng, Lung (尚瓏), Dương Phi (楊飛). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ
(中國考古地圖) The Map of China Archaeology. Bắc Kinh: Quang Minh
Báo xb xă, 2004.
25
14. Vainker, Shelagh. Chinese Silk: A Cultural History. NJ: Rutgers University
Press, 2004.
|