VỊNH SỬ THỜI CHÚA
NGUYỄN MỞ ĐẤT MIỀN NAM
Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử
Nam Triều, Bắc Triều (1527-1592)
Nhà Lê truyền từ Lê Thái Tổ (1428-1433) đến Lê Cung Hoàng (1524-1527), được 10
đời vua kéo dài 99 năm, th́ bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi. Năm 1527 Mạc Đăng Dung
giết vua Cung Hoàng và bắt các quan trong triều thảo chiếu truyền ngôi cho nhà
Mạc.
Họ Mạc làm vua từ năm 1527 đến năm 1592 (đời vua Mạc Mậu Hợp) truyền được 5 đời
trong 65 năm th́ phải rút về Cao Bằng, nhờ Nhả Minh can thiệp để tiếp tục hùng
cứ ở vùng đất biên giới Hoa Việt (Cao Bằng), đến năm 1667 mới dứt hẳn. Sử gọi
nhà Mạc là Bắc Triều
Họ Nguyễn (Nguyễn Kim) và họ Trịnh (Trịnh Kiểm) giúp nhà Lê Trung Hưng (c̣n gọi
là nhà Hậu Lê) ở vùng Thanh Hóa, lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, tức Lê
Trang Tông (1533-1548), truyền được thêm 17 đời, đến Lê Chiêu Thống (1787-1788)
mới chấm dứt. Như vậy, tổng công trước sau nhà Lê truyền được 354 năm, với 27
đời vua (6 năm không có vua Lê, từ 1527 đến 1533 là thời gian Mạc Đăng Dung mới
chiếm ngôi). Sử gọi nhà Lê Trung Hưng giai đoạn đánh nhau với họ Mạc là Nam
Triều.
Trịnh Nguyễn Phân Tranh
Họ Trịnh và họ Nguyễn sau khi giúp nhà Lê trung hưng lên, đều xưng Vương, tục
gọi là chúa Trịnh và chúa Nguyễn: Chúa Nguyễn ở miền Nam (1), chúa Trịnh ở miền
Bắc, cùng lấy tiếng pḥ Lê, nhưng lại nắm hết binh quyền. Vua Lê chỉ ngồi làm v́.
Chúa Trịnh và chúa Nguyễn lấy ranh giới là sông Linh Giang (sông Gianh), hai bên
đánh nhau 7 lần trong ṿng 45 năm, khiến dân chúng hai miền đều phải chịu cực
khổ, tổn thất về sinh mạng, tài sản không biết bao nhiêu mà kể.
Lịch Sử Cuộc Nam Tiến
· Nước Lâm Ấp ở phía Nam quận Nhật Nam, khoảng Nghệ An, Hà Tĩnh vào đến Chân Lạp
(Nam Viêt ngày nay), không rơ được thành lập từ bao giờ, nhưng vào thế kỷ thứ 2
(năm 102) đă được sử nói đến do việc Khu Liên người huyện Tượng Lâm (phía nam
quận Nhật Nam) nổi lên giết huyện lệnh (của nhà Đông Hán) rồi xưng làm vua, gọi
là nước Lâm Ấp. Đến đời nhà Đường, nước Lâm Âp đổi thành Hoàn Vương Quốc, và đến
năm 808 đổi là Chiêm Thành.
· Năm 982 vua Lê Đại Hành (980-1005) thân đi đánh Chiêm Thành và đào kênh sửa
đường đến nước Chiêm.
· Năm 1069 vua Lư Thánh Tông (1054-1072) đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là
Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng 3 châu Địa Lư, Ma Linh, Bố Chính (Quảng B́nh, Quảng
Trị).
· Năm 1306, vua Chiêm là Chế Mân xin cưới công chúa Huyền Trân (con vua Trần
Nhân Tông, em vua Trần Anh Tông), và dâng 2 châu Ô, châu Rí (Anh Tông đổi là
Thuận Châu và Hóa Châu).
· Năm 1402 Hồ Quư Ly sai tưóng đi đánh Chiêm Thành, vua Chiêm dâng đất Chiêm
Động (Quảng Nam). Quư Ly bắt dâng thêm đất Cổ Lụy (Quảng Nghĩa). Người Chiêm
Thành bỏ đi.
· Năm 1470, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đánh Chiêm, bắt được vua Chiêm là Trà
Toàn. Vua Lê muốn làm cho nước Chiêm thế lực yếu đi, mới chia ra 3 nước: Chiêm
Thành, Hóa Anh và Nam Phan. Vua Thánh Tông lấy đất Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Lũy,
lập ra đạo Quảng Nam.
Chúa Nguyễn Mở Đất Miền Nam
Chúa Nguyễn có công khai khẩn đất Miền Nam, mở rộng lănh thổ về phương nam đến
tận mũi Cà Mâu.
Lấy Hết Đất Chiêm Thành
· Năm 1611 Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (1600-1613) c̣n gọi là chúa Tiên, đánh
Chiêm lấy đất lập ra phủ Phú Yên (2).
· Chúa Nguyễn Hoàng mất, Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) c̣n gọi là chúa Săi,
được nối nghiệp, có tướng giỏi là ông Đào Duy Từ pḥ tá. Vợ Nguyễn Phúc Nguyên
là con gái Mạc Kính Điển sinh được 5 con trai và 3 cô gái là Ngọc Liên, Ngọc Vạn
và Ngọc Khoa (3).
· Năm 1653 Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) sai tướng đi đánh Chiêm, lấy
đất từ sông Phan Lang trở ra.
· Năm 1693 chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) gọi là Quốc Chúa lấy hết đất Chiêm
c̣n lại, đổi làm Thuận Phủ; lại bắt người Chiêm phải đổi y phục như người Việt
Nam. Đến năm 1697 chúa Nguyễn lấy Phan Lư (Phan Rí), Phan Lang (Phan Rang) làm
huyện Yên Phúc và Ḥa Đa. Từ đó nước Chiêm Thành mất hẳn.
Lấy Đất Thủy Chân Lạp
· Cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài, khiến dân Việt phải chịu đói khổ, nhiều
người bỏ vào khai khẩn đất ở vùng Mỏ Xoài (Bà Rịa) và vùng Đồng
Nai (Biên Ḥa) thuộc Chân Lạp.
· Năm 1658 chúa Hiền tức Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) sai quan đem 3000 quân sang
đánh ở Mỗi Xuy (Biên Ḥa), bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân (Ang-Chan), nói
phải triều cống và bênh vực người Việt làm ăn ở bên đó.
· Năm 1674, Nặc Ông Đài (Ang-Chei) đi cầu viện nước Tiêm La để đánh Nặc Ông Nộn
(Ang-Non). Ông Nộn sang cầu cứu chúa Nguyễn xin đem quân đánh Ông Đài, phá được
đồn Sài G̣n rồi vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài thua chạy vào chết trong rừng,
Nặc Ông Thu (Ang Sor) ra hàng. Chúa Nguyễn lập Nặc Ông Thu làm quốc vương chính
(v́ là ḍng con trưởng), và Nặc Ông Nộn làm đệ nhị quốc vương đóng ở Sài Côn (Sài
G̣n), hàng năm phải triều cống.
· Năm 1679, một số các quan nhà Minh như Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần
Thượng Xuyên...không muốn làm tôi nhà Thanh, đem 3000 quân và 50 thuyền sang xin
làm dân Việt. Chúa Hiền cho họ vào khai khẩn đất Chân Lạp, và lập thành phường
phố ở vùng Đông Phố (Gia Định), Lộc Dă (Đồng Nai, Biên Ḥa), và Mỹ Tho (Định
Tường).
· Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sai ông Nguyễn Hữu Kính làm kinh
lược đất Đồng Nai, chia Đông Phố (Gia Định) ra làm dinh, huyện: Đồng Nai là
huyện Phúc Long (Phước Long), Sài G̣n là huyện Tân B́nh, đặt Trấn biên dinh (Biên
Ḥa), Phan trấn dinh (Gia Định), sai quan vào cai trị. Những người Tàu ở Gia
Định lập ra xă Minh Hương.
· Mạc Cửu là người khách ở Quảng Đông sang mở ṣng bài tại Sài Mạt rồi lập ra 7
xă gọi là Hà Tiên, được chúa Nguyễn phong làm Tổng binh. Mạc Cửu mất, con là Mạc
Thiên Tứ được nối nghiệp cai quản đất Hà Tiên, đă đắp thành, mở chợ, làm đường
và rước thầy về dạy Nho học.
· Năm 1729 Chúa nguyễn đặt sở Điều Khỉển ở Gia Định, lấy cớ quân Chân Lạp hay
sang quấy nhiễu.
· Năm 1755 Nặc Nguyên bi tưóng chúa Nguyễn đánh, chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc
Thiên Tứ, xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc tội và xin cho về nước.
Ông Nguyễn Cư Trinh hiến kế sách “tầm thực”, nghĩa là nên lấy dần dần như con
tầm ăn lá dâu. Sau lại được cháu Nặc Nguyên là Nặc Tôn dâng Tầm Phong Long để tạ
ơn chúa Nguyễn cho về nước làm vua. Nặc Tôn cũng dâng 5 phủ Hương Ức, Cần Bột,
Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ. Chúa Nguyễn cho sát nhập
vào trấn Hà Tiên để Mạc Thiên Tứ cai quản. Vậy “lục tỉnh” chính là 6 tỉnh miền
Nam Việt Nam, xưa kia là đất Thủy Chân Lạp, do công lao ngựi Việt khai khẩn và
được các vị vua Chân Lạp dâng hiến cho chúa Nguyễn.
Chú thích:
(1) Năm 1599 Trịnh Tùng xưng Vương ở miền Bắc. Măi đến năm 1744 chúa Nguyễn Phúc
Khoát ở miền Nam mới xưng Vương, gọi là Vơ Vương. Người ngoại quốc gọi phần đất
của chúa Nguyễn ở phía Nam là Quảng Nam quốc (Quảng Nam có phố Hội An Faifo).
(2) Nguyễn Hoàng là con thứ hai của ông Nguyễn Kim, một đại công thần của nhà Lê
Trung Hưng. Khi Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc đầu độc chết, anh em Nguyễn
Hoàng c̣n nhỏ, quyền bính về cả tay anh rể là Trịnh Kiểm. Nguyễn Uông là anh
Nguyễn Hoàng bị Trịnh Kiểm hăm hại khiến Nguyễn Hoàng lo sợ, nhờ người hỏi ư
kiến ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, th́ được trả lời: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung
thân”. Ông Nguyễn Hoàng biết ư bèn nhờ chị là bà Ngọc Bảo xin với Trỉnh Kiểm cho
đi trấn giữ đất Thuận Hoá ở phương nam, khai khẩn đất đai và mở rộng lănh thổ từ
đó. .
(3) Theo Phạm Văn Sơn, sách đă dẫn trang 295, vào năm 1620 chúa Săi gả công chúa
Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chei Chetta II (1618-1626). Nhờ sự kết hôn nầy, nền
ngoại giao giữa chúa Nguyễn và vua Chân Lạp thật tốt đẹp, và việc định cư của
người Việt tại phần đất mới ở Thủy Chân Lạp cũng rất thuận tiện, giúp cho việc
mở rộng đất đai của chúa Nguyễn tại miền Nam. Đây chính là công lao rất lớn của
nàng công chúa Ngọc Vạn.
Thơ Nhạc Ca Vịnh
Vịnh Công Nương Ngọc Vạn
Tiếp nối Huyền Trân, Ngọc Vạn đi
Làm dâu Chân Lạp, mở biên thùy
Châu Ô, châu Rí, bia c̣n khắc (1)
Bà Rịa, Sài g̣n, sách vẫn ghi (2)
Sứ giả hoà thân, tài khó sánh
Vương phi quyền lực, trí khôn b́
Giang sơn một giải liền Nam Bắc
Công đức đời đời rạng sử thi.
Vương Sinh
(1)Năm 1301 Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (1279-1293) sang Chiêm Thành xem phong
cảnh, có ước gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1306, Chế Mân
dâng châu Ô và châu Rí để làm lễ xin cưới công chúa Huyền Trân.
(2) Năm 1620 vua nước Chân Lạp (Cao Mên) là Chey Chetta II, v́ muốn chống lại sự
đô hộ của vương quốc Xiêm, đă đến Thuận Hoá cầu thân và xin cưới công nương Ngọc
Vạn, con của chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Năm 1623 do ảnh hưởng của
công nương Ngọc Vạn, lúc này là Hoàng Hậu Sam Đát (AngCuv) của nước Chân Lạp,
chúa Nguyễn đă xin cho người Việt được chính thức cư ngụ tại Prey Nokor (Sài G̣n)
và Kas Kobey (Bà Rịa), được đóng quân bảo vệ và lập cơ quan thu thuế tại đây, mở
đầu trang sử thành lập đất Miền Nam. (tham khảo Tập San Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng
Nai - Cửu Long, số 2).
Đào Duy Từ
Vua Lê Chúa Trịnh chẳng tinh đời
Có mắt mà không thấy rơ người
Để hổ về rừng đâu đuổi được
Cho rồng ra bể khó săn rồi
Xây thành Trường Dục ngăn riêng một
Đắp lũy Trấn Ninh chặn cách đôi
Nam Bắc chia ba do thế cuộc
Anh hùng dựng vơ phải t́m nơi
Chính Hà
Nhớ Công-nương Ngọc-Vạn...
Gịng oai hùng: nhiều anh-hùng, liệt-nữ,
Nước Việt ta dũng cảm tự ngàn xưa,
Bao chiến-công lừng lẫy những năm qua,
Đă ghi biết bao hy sinh cùng gian khổ,
Công dựng nước, giữ nước, bành trướng đất,
Phải kể những anh-hùng cùng giới quần-
thoa,
Từ xưa, mỹ-nhân được kể như danh-tướng,
Mở rộng đất đai êm thắm, hiền hoà,
Lịch-sử Việt, từ Huyền-Trân công-chúa,
Các công-nương Ngọc-Vạn cùng Ngọc-
Khoa,
Tuân lệnh Vua, Anh, hy sinh cao cả
Bành trướng đất đai, mở rộng nước nhà...
Nàng Ngọc-Vạn con yêu của Săi vương,
Má lúm đồng tiền, xinh đẹp lạ thường,
Hàm răng hạt huyền nhỏ đều xinh xắn,
Đạo đức, hiền lành, lại rất khôn ngoan...
Thời Tam-Quốc Việt, đất nước đang ngiêng
ngửa
Giải đất chữ S, có bốn nước nghịch nhau:
Bắc, Nam-hà, Chiêm, Chân-Lạp đối đầu,
Mỗi nước luôn t́m dịp thôn tính nhau,
Họ Trịnh nhiều quân, cũng là hung hăn
nhất,
Nước Nam-Hà khi ấy nhiều chật vật,
Đủ các khó khăn day dứt Săi-vương,
Phiá bắc phải dồn quân chặn Trịnh-Trang,
Phiá nam dẹp quân Chiêm-Thành luôn gây
rối,
Vua Nam-Hà luôn sợ Trịnh và Chiêm kết
liên, chống đối,
Để quân Trịnh đi ṿng từ Khánh-Hoà đánh
lên
Bị lưỡng đầu thọ địch sẽ khó giữ thêm
Săi vương nh́n xa, quyết đường nam tiến...
Trong khi ấy, nước Chân-lạp đang gặp
biến:
Bị Xiêâm-La bắt chẹt, lấn đất dần,
Vua PREA-CHETTA nghĩ cách t́m đồng-
minh,
Muốn làm thân để Săi vương yểm trợ,
Xin cưới công-chúa Việt, Chân-Lạp sẽ đỡ
sợ,
Quân Việt kia thiện chiến... giúp nhà vua...
Mối hôn-nhânViệt, Chân-Lạp tốt đẹp
không ngờ
Giúp Chúa Nguyễn đương đầu cả Chiêm
lẫn Trịnh...
Được vua cha cắt nghĩa, NGỌC-VẠN liền
vâng mệnh
Đáp du-thuyền vào làm vợ PREA-
CHETTA,
Dân Chân-Lạp đón nàng với cả một rừng
hoa,
Cả triều-đ́nh tôn vinh nàng đúng
mức
Nàng học dần tiếng KHMER, quấn
SARONG, theo phong-tục
Được ḷng Vua và toàn thể triều-đ́nh,
Mục đích đem dân VIỆT vào miền nam:
Mở mang đất hoang, Mô-Xoài (Biên-Hoà)
khai thác,
Nhập cư dân Việt, Đồng-Nai vững chắc,
Lợi dụng triều đ́nh Chân-Lạp luôn bế tắc,
Săi vương gửi quân bảo vệ người Việt ở
Đồng-Nai,
Người Việt vào nam, phát triển công khai,
Mở xưởng đóng tầu, thuyền, giúp vua
Chân-lạp...
Vua XIÊM tức giận, hai lần đem quân
chinh phạt,
Dân Việt hỗ trợ, giúp vua Chân-Lạp đẩy
lui,
Để trả ơn, vua giúp người Việt thêm
vui:
Cho mở sở thuế thương tại PREY-KOR, sau
là Gia-Định,
Nhờ sở này dân Việt có thêm tiền khai
khẩn
Vựa lúa mênh mông, tôm cá đầy sông...
Người Việt ấm, no, nhờ tài ngoại giao của
Công-nương
Ngọc-Vạn luôn mau mắn t́m mọi đường
giúp đỡ,
Biết ơn chồng đă luôn thương, yêu, che
chở,
Ngọc-Vạn sinh một gái, hai trai cho Chân-
Lạp vương,
Con trưởng nàng, BATOM-RACHEA, sau
được tôn vương
Khi PREY-CHETTA băng hà vào năm
1625 đó...
Ngọc-Vạn góa bụa, được làm Hoàng Thái-
hậu sau đó
Điạ vị nàng hơn hẳn các chính-thiếp của
vua,
Nhưng v́ triều-đ́nh luôn khủng hoảng,
tranh đua,
Ngọc-Vạn khôn ngoan lập chùa, tu khổ
hạnh,
Vua BATOM-RACHEA năm đó bị
hành thích,
NẶC-ÔNG-ĐẠI bèn tăng thuế vùng Đồng-
Nai
Gây lộn xộn, Hiền vương phải cho quân
đến cứu :
Giúp NẶC-ÔNG-THU làm chính vương,
ANG-NON làm phó
ANG-NON kia, là con thứ của Ngọc-Vạn
nương,
Các vua Chân-Lạp một số là con, cháu của
Công-nương,
Dân Việt càng được di cư vào Nam làm
ăn đông đảo
Họ chiếm đất Chân-Lạp một cách hoà-
b́nh , dù táo bạo
Sách Sử chỉ viết sơ về công đó của Công-
nương,
Nhưng dân Việt đă biết tài giai-nhân:
Sự hy sinh của nàng đă giúp nước Nam vận
hội mới,
Bành trướng về Nam,đất nước tăng gấp bội,
Công đó cũng nhờ Ngọc-Vạn cùng Ngọc-
Khoa,
Càng cảm thông, hậu-sinh càng thêm kính
nể...
Theo gương xưa: Những anh-hùng, liệt nữ,
Quyết nối bàn tay, hưng, thịnh giống Tiên
Long,
Mong Việt-Nam, mỗi ngày phát triển hơn,
Để người VIỆT, tự hào gịng giống VIỆT...
Thơ Hải-Thanh Phạm-Nguyên-Lương
Nguyễn Cư Trinh (1716-1767)
Là danh tướng đời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát, vốn ḍng họ Trịnh, người tỉnh Nghệ
An, có tài văn vơ, đỗ hương tiến (cử nhân), thường liên lạc với Mạc Thiên Tứ và
hội thơ Chiêu Anh Các. Ông có công lớn trong việc khẩn hoang lập ấp mở nước an
dân, dâng sớ bày tỏ cách khai thác Chân Lạp bằng kế sách “tàm thực”, lấn đất từ
từ do vua Chân Lạp dâng hiến để chuộc tội.
Ông mất năm 1767, hưởng dương 51 tuổi, được truy tặng Tá Lư công thần. Thơ văn
của ông c̣n truyền tụng một số thơ chữ Hán và chữ Nôm, nhất là tập Truyện săi
Văi và Độn Am thi tập.
Nguyễn Cư Trinh
Và Kế Sách “Tàm thực”
“Tàm thực” là tầm ăn lá dâu,
Kế hay, vững chắc lại thâm sâu.
Giành dân hữu lư, không xương máu,
Lấn đất hợp t́nh, chẳng súng dao.
Khai khẩn ruộng hoang, dân đến trước,
Giữ ǵn trật tự, lính theo sau.
Cư Trinh giúp chúa* b́nh Chân Lạp...
Bỗng sợ Trung Hoa...chẳng khác nào!**
Vương Sinh
* Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), xưng Vơ Vương năm 1744.
** Đế quốc Trung Hoa cũng áp dụng kế sách thực dân, “tàm thực” lấn đất các chư
hầu và Việt Nam để trở thành một nước rộng lớn như ngày nay... Quả là mối lo sợ
vô cùng!
Công-Nương NGỌC-KHOA
Giúp Chiếm Chiêm-Thành?(1)
Sinh là dân, lớn khôn nhờ ơn nước,
Gái như trai có bổn phận với quê-hương,
Biết ơn những anh-hùng, liệt nữ mở đường,
Nhớ những hy-sinh để đất nước tiến triển...
Công-nương NGỌC-KHOA, con cưng của
Chúa Nguyễn,
Tuổi trẻ vô tư...nhung lụa, ngọc ngà,
Nàng vừa đôi tám, nhan sắc mặn mà,
Thích tập vơ, nhưng dịu dàng đúng lúc,
Dù c̣n trẻ, nàng đă luôn mơ ước:
Được góp bàn tay làm lợi Nam-Hà,
Thời Tam-Quốc Việt, Săi vương lo củng cố
nước nhà
Bắc cự Trịnh, nam b́nh Chiêm, nam tiến,
Chiêm-Thành khi ấy gồm Nha-Trang đến
Phan-Thiết,
Luôn quấy rối đ̣i Qui-Nhơn, Phú-Yên,
Các tướng giỏi cần giữ bắc biên-cương
Muốn nam tiến Săi vương phải thêm tính
kế,
Khi ấy NGỌC-VẠN đang giúp người Việt
thêm sinh-kế:
Khai khẩn Đồng-Nai, bành trướng Mô-
Xoài...
Muốn giữ Chiêm-Thành bớt quấy rối lâu
dài,
Cần kiểm soát ngay PO-ROME , vua
Chiêm đó,
Quan Đô-tri báo về vua Chiêm đang tị
nạnh, cau có,
Muốn cưới công-chúa Việt như quốc-vương
Chân-Lạp !
Săi vương mừng thầm, bèn nghĩ ngay kế
khác:
T́m một mỹ-nhân giả công-chúa Nam-Hà,
Chúa vẫn thương Ngọc-Vạn đang bị góa,
V́ nước hy sinh, đang lạc lơng xứ người,
Không ngờ NGỌC-KHOA hay chuyện, xin
t́nh nguyện tức thời
Chịu làm vợ PO-ROME, kiểm soát Chiêm
cho Chúa...
Biết con nhất quyết, Săi vương bèn bầy kế,
Cùng Đào-Duy-Từ chỉ cặn kẽ cho Ngọc-
Khoa...
Năm 1627, quận-chúa qú lậy cha,
Cùng người thân-tín biệt gịng sông Thạch-
Hăn,
Quyết xuống Chiêm-Thành lấy chồng khác
gịng giống...
Đến B́nh-Thuận quan Đô-tri ra đón,
Đem kiệu vàng rước NGỌC-KHOA vào
triều...
Cô dâu mặc áo tơ vàng, xinh đẹp xiết bao,
Quân-sĩ theo hầu đều đội nón sơn đỏ,
Thêm một đoàn người áo the, khăn nhỏ,
Lễ mễ khênh ḥm, xiểng, của hồi-môn...
Nhà trai đến đón cùng tiếng trống, tiếng
chiêng,
Các đại-thần Chiêm đều uy-nghi, trang
trọng,
Cả triều-đ́nh đều mừng vui, nghênh đón,
Vua PO-ROME vui tươi cưỡi ngựa đến
chào,
Chú rể, cô dâu gặp nhau lần đầu
Cùng giật ḿnh v́ dung-nhan, tài-mạo,
PO-ROME mới học tiếng Việt, nên nói
được vài câu,
Khiến NGỌC-KHOA bớt rụt rè, lạc lơng
Được phong hoàng-hậu, được vua Chiêm
chiều chuộng
Theo đúng lời cha, NGỌC-KHOA cố thu
phục nhân-tâm,
Nàng xin chồng cho người Việt vào lập
nghiệp dần dần,
Lại nhắc PO-ROME không quấy rối đất
Việt...
Cặp vợ, chồng vương giả, luôn hoà hợp,
Nhờ biết vơ, NGỌC-KHOA có thể cưỡi
ngựa, cưỡi voi,
Cùng chồng đi săn hay du ngoạn các nơi,
Không những thế, thấy vợ luôn thông minh,
nhanh nhẹn
PO-ROME thường bàn những chuyện của
triều-đ́nh...
Hai bà vợ kia ghen tị vô cùng,
Một bà người Chiêm, bà kia ngườiThượng,
Để nói xấu NGỌC-KHOA, hai bà luôn bầy
chuyện
PO-ROME nhức dầu v́ những chuyện ghen
tương...
Để đối lại, NGỌC-KHOA đâu chịu thường,
Nàng khôn ngoan luôn kéo chồng về với
ḿnh
Nàng giả đau, lót bánh đa nhỏ dưới chiếu
nằm,
Khi trở ḿnh, bánh đa vỡ, như xương nàng
bị gẫy,
PO-ROME tưởng thật, càng thương, yêu, áy
náy...
Càng được vua yêu, NGỌC-KHOA càng
ḍ xét thêm,
Nàng báo cáo về những yếu điểm của triều
Chiêm,
Nàng dụ PO-ROME chặt cây Cam-Xe mộc
Cây này chính là cây giữ nước Chiêm, thần
mộc !
Bị PO-ROME chặt, nhựa đỏ tuôn khắp nơi
Cây đó chết cũng là điềm Chiêm mất nước
Mấy năm sau, quả nhiên quân NGUYỄN
tràn sang chiếm nước
Vây Chiêm-Thành...PO-ROME bị giết
ngay
NGỌC-KHOA cũng bị chết v́ đạn lạc, tên
bay
Nàng bỏ ḿnh khi vừa xong nhiệm vụ
Nàng đă giúp cha mở nước về phương nam
trù phú
Cao cả bỏ ḿnh, khi phục vụ đất nước mến
yêu
Sự hy sinh đó của tấm thân ngà ngọc
Luôn toả hương thơm măi đến các đời sau,
Nước Việt-Nam được mở rộng, ph́
nhiêu,
Con cháu Việt càng trân quí những nữ-lưu,
anh kiệt...
Hải-Thanh Phạm-Nguyên-Lương
Ghi chú: (1) Đây là bài viết của tác giả Phạm Nguyên Lương gửi đến có lẽ căn cứ
vào một câu chuyện dă sử?