http://nktloiho.blogspot.com/2011/04/
uong-mon-hcm-hay-xa-lo-harriman.html
Đường ṃn
HCM hay Xa-lộ Harriman
Trong
cuộc kháng chiến chống Pháp, Cách Mạng
VN đặt tên là Đường Trường Sơn. Từ ngày
KGB và CIA dựng lên một thễ-chế toàn-trị
bằng Mafia Lê Đức Thọ thành đăng-trưởng
cho một chế-độ toàn-trị (không phải CS
định nghĩa theo đúng băn chất) Permanent
Government băo vệ đăng cướp nầy trong 50
năm tha hồ cướp giựt cũa căi … đễ rồi bơ
Đôla Xanh vào túi chú Sam, Thế là đúng
vào cuộc họp bí-mật đại hội đăng thứ 15
năm 1959. Vin vào đó, Thọ đặt tên Đường
559 và đề cữ tướng thân tín, một sao Vơ-Bam
làm tư-lệnh. C̣n P.G v́ thế chiến lược
toàn cầu Eurasian, nên sorry buộc phăi
phăn bội cụ HCM, (OSS nuốt lời hứa khi
cụ Hồ c̣n trong tù là sẽ băo vệ độc lập
tự do cho VN giống y chang Phi Luật Tân
nhưng với điều kiện cụ Hồ phăi vào hang
Pat-bó đễ chống Nhựt, vi theo kế hoặch
Malthus phăi tàn phá Nhựt bằng Bom
nguyên tữ rồi tái thiết sau, cũng giống
như VN và Iraq. V́ lương tâm cũa Nhóm
tham mưu dân sự muốn trả lại cái thơm
danh cho cụ như Đường Ṃn HCM, chiến
dịch HCM, thành phố HCM, cái ghế Chũ
tịch đăng bơ tróng chĩ HCM mà thôi, lăng
tẫm HCM do Liên Xô băo tŕ, và nếu
Harriman c̣n sống thi HCM đă có tên
trong danh nhân thế giới ở UNESCO qua
quỹ tài-trợ tại ngân hàng Thụy Sĩ. Cái
kiễu như giăi hoà b́nh cho Lê Đức Thọ và
Kissinger có công hoàn thành tốt đẹp hội
nghị Paris.
Ngay năm 1959, Tướng Giáp và Chu Văn Tấn
đều bị cách ly như h́nh thức căi tạo,
c̣n cụ Hồ ngồi chơi xơi nước, tham dự
các cuộc hợp ngoại giao như cái máy nói
theo chũ trương của Lê Đức Thọ, và ngày
ngày được Mai Chí Thọ chăm sóc nhắc nhỡ
cụ tưới cây Vú-Sữa miền nam. Nhờ KGB băo
vệ nên Thọ không làm ǵ được tướng Giáp,
cho một thời gian lắng động, rồi Giáp
seẽ trở lại làm Tư lệnh quân đội cho
cuộc Hành Quân Lam Sơn 719, v́ tướng
Giáp là công cụ cũa OSS 1945, nên chấp
nhận đánh trận xa Tchepone chớ khâng
đánh trận gần và chắc ăn như Bắp tại Căn
cứ Mỹ Khe Sanh.
Nhóm học giă thiết kế và George Kennan
là đạo-diễn cho vỡ bi kịch lịch sữ
thế-giới, đúng theo luật gian hồ… Với
tằm nh́n cũa Harriman, xa lộ nầy sẽ được
Harriman băo vệ bằng mọi giá và LX chịu
trách nhiệm thiết lập băo tŕ hệ thống
ống dẫn dầu phăi luôn luôn trong tinh
trạng khă dụng hành quân 100%, đễ sau
nầy trở nên Xa lô Liên Bang Đông Dương
mà Thũ đô là Đà Năng, về địa lư như cánh
quạt xoè ra đều từ Saigon, Nam Vang, Vạn
tượng, và Hà Nội. V́ thế sau nầy thành
phố Đà Nẵng sẽ là thành phố lớn nhứt
trên mănh đất gọi là LBĐD, có că phi
căng và hăi căng lớn nhứt vùng ĐNÁ sau
2023, sẽ được quốc tế hoá dưới sự
hài-ḥa cũa Mỹ, LX và TQ sống trong thế
giới mới, hoà b́nh thịnh vượng
(the New World)
Dăy
Trường Sơn là cái Nôi của Cách-Mạng Việt-Nam,
các Cụ ngày xưa có câu “Trường Sơn
nhất đáy vạn đại dung thân” Học
thuyết-gia về Chiến-tranh, người Đức
Carl-Von-Clausewitz, cho rằng dăy
Trường-Sơn là Trung-tâm thành lủy kiên
cố, nơi ẩn náo an-toàn nhất cho những ai
muốn rèn binh luyện cán, ẩn nhẫn chờ
thời. Nhóm học giả tham mưu của Harriman
dựa vào những định luật của chiến lược
gia Clausewitz không phải để hủy diệt mà
trái lại để triển khai cho việc hoàn
thành “định-kiến-1” bức tữ miền nam của
họ là bảo vệ bằng mọi giá con đường
Trường Sơn cho Hà Nội làm phương tiện
chiếm lĩnh Miền Nam theo như thế siêu
chiến lược toàn cầu “Eurasian Great
Game” (Màn-2
giai đoạn-2)
Trên vệ tinh nh́n xuống, Trường-Sơn với
núi rừng lổm-chổm, sừng-sỏ như con Rồng
đang lượn ḿnh uống nước trên ḍng Sông
Cửu-Long, nh́n ra biển Đông như muốn
bảo-vệ vùng đất đang chế ngự, móng vuốt
ch́a ra tới Phan-Thiết như muốn cảnh-báo
kẻ lạ đừng ḥng áp-đặt sự thống-trị, cái
đuôi ngắc-ngoải quật mạnh qua tận
Trung-Quốc như cảnh tỉnh, đừng dựa vào
thế con Trời mà làm ẩu; Chả lẻ cái nhóm
tham mưu của Harriman cũng biết thiên
văn địa lư như lịch sử đă chứng minh
nhiều luồng sóng bạo-loạn mạnh nhứt từ
phương Bắc đều bị chận lại từ đây? Đồng
thời, Clausewitz chỉ-giải thế phá
trận-đồ, muốn cho đối phương trong Hang-động
đầy bí ẩn nầy, không c̣n khả-năng chiến
đấu đi đến tan-ră, phương-pháp tốt nhất,
là phải nghiên-cứu tỉ-mỉ, xác định
rơ-rệt vị-trí mục-tiêu, đánh thẳng vào
trung-tâm sào huyệt bằng một cường lực
như vũ-bảo, rồi chốt chận một thời gian
nhất định cần thiết cho sự càn-quét theo
kiểu cày răng lược. Tướng Maxwell-Taylor
và Rostow đă có đề nghị phương-án
tương-tự như thế, tŕnh lên Tổng-thống
Kennedy nhưng bị Cố-vấn George Bundy
(Skull and
Bones 40)
bác bỏ thẵng thừng v́ bằng mọi giá phải
bảo vệ con đường chiến lược nầy để cho
Hà Nội chiếm lĩnh Miền Nam theo
định-kiến-1. Sau nầy Tướng Westmoreland
lại tái quyết tâm chiếm lĩnh hang-động
Trường sơn nầy một lần nửa, và toan
thiêu hủy hệ thống ống dẩn dầu huyết
mạch chạy song song, nên bị P.G
(Siêu Chính Phủ)
triệu hồi về nước gấp giao chức vụ coi
cho được là Tham mưu trưởng Liên quân
không quyền hạn rồi Westmoreland về hưu
sau đó.
Khái lược về Trường-Sơn Đông:
Ngày xưa,
sau khi chiếm Đông-Dương, Pháp đă cho
thiết lập một Quốc-lộ đi nép chân núi
phía Đông dăy Trường-Sơn trên lănh thổ
Việt-Nam, gọi là quốc lộ 14. Quốc lộ nầy
có tổng số chiều dài là 1,380 cây số và
đi qua lănh thổ 10 Tỉnh: từ Nghệ-An qua
Hà-Tĩnh, Quăng-B́nh, Quăng-Trị,
Thừa-Thiên, Quăng-Nam, Kontum, Pleiku,
Ban Mê-Thuột và B́nh-Phước. Khi lập con
đường nầy, người Pháp nhắm các mục tiêu
sau đây:
(1) bảo
vệ an ninh lănh thổ
(2) hành
quân thanh toán các tổ chức buôn lậu,
(3) khai
thác lâm sản,
(4) khai
triễn và xử dụng các sắc tộc thiểu số,
nhất là sắc-tộc thiểu số gốc Rhađê.
Trong
chiến tranh Việt Pháp từ năm 1945 đến
năm 1954, con đường nầy bị bỏ hoang v́
Pháp không đủ khả năng bảo vệ.
Sau Hiệp
định Genève 1954, khi vừa ổn định xong
Miền-Nam, Tổng-Thống Ngô-Đ́nh-Diệm đă
nghĩ ngay đến việc tu bổ lại quốc lộ 14
để bảo vệ lănh thổ. Công việc nầy được
khởi sự từ năm 1958 và giao cho
Liên-đoàn 4 Công-binh phụ trách.
Liên-đoàn nầy do Trung-tá Trần Văn Kha
chỉ huy. Có lần TT Diệm đă đích thân đến
xem xét tại chỗ; Nhưng khi làm đoạn
đường Kontum, Gia-Vực, công việc cứ
cù-nhầy v́ thời tiết nên Trung-tá Kha bị
cách chức; Chuyện xây dựng Đường 14 chưa
hoàn tất th́ TT Diệm bị Harriman ra lệnh
giết v́ TT Diệm là một chướng ngại cho
công việc hoàn thành định kiến-1. Quă
thật hai tư tưởng lớn đụng nhau phăi lấy
máu giăi quyết
(Thế chiến lược của Cụ Nhu là chỉ định
Đại tá Đổ-Cao-Trí làm Tư lệnh Đệ-3
Quân-khu, Pleiku, hành quân càn quét
ngay yết hầu đường ṃn Hồ-Chí Minh từ
Benhet qua Attopeu cắt đứt con Đường vận
chuyển của quân CSBV bằng Sư-đoàn 22BB
cùng một Chiến đoàn Dù do Thiếu tá Dư
Quốc Đống làm CĐT và một Thiết đoàn
chiến xa T-41 do Đại úy Lư Ṭng Bá, chốt
chận nơi đó một thời gian hạn định.
Chúng ta cũng nên hiểu rằng Bác-sỉ giải
phẩu dù có giỏi cách mấy mà không có
dụng cụ giải phẩu th́ cũng bó tay,
Harriman người nắm giữ chính sách Hoa-kỳ
bằng mọi giá ngăn chận việc chính phủ
Diệm toan xoá bỏ “định-kiến-1” của ông,
là xóa bỏ Miền Nam để tạo thành một nước
VNCH lớn hơn trong thiết kế chiến lược
Châu-Á).
Sau Hiệp định Paris 27/1/1973, quân đội
và chuyên viên Bắc-Việt cùng các kỷ-sư
Cuba làm lại con đường Đông Trường-Sơn
theo sự gật đầu của P.G: khởi đầu từ
Khe-Cát thuộc Huyện Bố-Trạch,
Quăng-B́nh, vượt Sông Bến Hải phía trên
nguồn đi qua chiến khu Ba-ḷng ở khu vực
Quăng-Trị và Thừa- Thiên, qua Aluối,
Ashau, rồi đi nép theo biên giới
Việt-Lào phía sau đèo Hải-Vân , Bạch-Mă
vào Quăng-Nam, khi đến Khâm-Đức th́ ṿng
lên Ngọc-Hồi thuộc phần đất Kontum, vùng
đất nầy vô cùng hiểm trở núi non trùng
điệp và cao nhất trong miền Nam VN. Đến
đây, v́ khúc đường 14 từ Kontum đến Ban
Mê-Thuột đang do Quân-lực VNCH trấn giữ
nên BV phải làm con đường song song thứ
2, lấy tên là 14A đi sát biên giới
Việt-Lào qua phần đất của Tỉnh Kontum
Pleiku và Ban Mê-Thuột, tại đây 2 đường
Trường-Sơn Đông, Tây chụm lại với nhau,
rồi đỗ xuống Bà-Rá, Phước-Thành,
B́nh-Long, Lộc-Ninh. Kể từ cuối năm
1973, các không ảnh chụp được cho thấy,
nhiều khúc đường 14 từ Thừa-Thiên đến
Ban Mê-Thuột đang được Cộng-quân ngang
nhiên sửa chửa để chuyển quân, cạnh con
đường nầy, có một hệ thống ống dẫn dầu
chằng chịt nằm song song theo đó như từ
xương Sống tiếp nối qua xương Sườn ra
phía Đông vào các vùng đông dân mà Không
Quân Miền Nam, Hoa-kỳ không được quyền
oanh tạc v́ dựa vào điều khoản Hiệp định
ḥa b́nh Paris, để chuẩn bị giai đoạn
chuyển tiếp bàn giao Miền Nam cho Hà
Nội.
Ngoài ra (KGB
và CIA)
phe thân Liên-Xô là Lê Duẫn bị Lê Đức
Thọ thúc đít, đă yêu cầu Liên-Xô phụ
giúp, nên Hoa-kỳ
(sau Hiệp định Paris)
a ṭng với Liên- Xô, bí mật sắp xếp cho
Cuba qua giúp CSBV, kết quả, tháng
9/1973, trong chuyến viếng thăm của Chủ
Tịch Fidel-Castro tại Hà-Nội, chính
quyền CSBV đă yêu cầu nước anh em XHCN
Cuba trợ giúp kỹ thuật trong việc mở
rộng mạng lưới Đường Ṃn nầy. Theo thoả
hiệp đạt được, một nhóm 43 người Việt sẽ
đến Cuba vào tháng 11/1973 và sau khi
được huấn luyện về các kỷ thuật xây dựng
của công binh Cuba, họ đă trở về
Bắc-Việt cùng với các huấn luyện viên
người Cuba bắt tay vào việc. Đại-Tá
Cuba, Roberto Leon sẽ làm Trưởng-Đoàn
xây dựng Công-binh Cuba, gồm 23 kỷ sư
cầu đường và khoảng 50 người chuyên viên
Việt-Nam khẩn cấp bắt tay vào việc. Thế
là bắt đầu năm 1973, Đoàn Công binh Cuba
ra sức giúp mở đường giao liên cho CSBV;
Đường 559
(Xa-lộ Harriman)
mạng lưới
gồm đường xá và hầm trú-ẩn trải dài hàng
ngàn cây số, phần lớn xuyên qua rừng
rậm, để giúp bộ-đội BV tiến vào xâm
chiếm-Miền-Nam.
C̣n Nhị-trùng, Đại-tá CSBV Bùi-Tín th́
được móm của trục Ma Quỷ nên cho rằng:
“Mỹ [làm bộ] không hiểu thái độ “Trung
Lập” của Cambodia, và đặc biệt của Lào,
ông hoàng Sihanouk và Phouma đều nghiêng
về phía Hà Nội; Hiệp định Genève năm
1962 về nền trung lập của Lào không hề
ngăn Bắc Việt Nam để nhiều quân ở Nam
Lào và dùng Lào để thâm nhập qua Xa lộ
Harriman được Đoàn 959 của Pathet Lào
bảo vệ. Mỹ
(Harriman)
làm rất ít để không tác động đến
Vientiane và PnomPenh trong khi Hà Nội
tranh thủ rất cao và tận dụng rất khôn
khéo nền Trung lập nghiêng-ngả ấy. Nếu
phía Washington
(thuộc chính phủ chớ không phải P.G)
sớm nh́n
thật rỏ được những điều kể trên để có
chủ trương thích hợp th́ t́nh h́nh đă có
thể đổi khác và sự kết thúc chiến tranh
cũng không phải như chúng ta đă thấy!
Đại tá Bùi Tín chỉ nói như con Vẹt do
một kẻ bí mật ở sau lưng hối thúc. Làm
ǵ Bùi Tín hiểu được sự tấn công qua
Cambodia và Lào là “Một sự di tản chiến
lược” về Hawái
(manage the defeat)
bởi Eagle pull 1970-1975 và sẽ trở lại ở
giai đoạn-3, 2010-2020 màn kết
(Overhauling the
damage control to Roll-Back)
lúc nầy th́ Trung Quốc đă chia ra nhiều
tiểu quốc bằng “tối huệ quốc” của Hoa Kỳ
(the U.S.
Freedom Support Act)
cũng tái diễn lại y chang trường hợp tám
nước cộng hoà tách rời độc tài như
Liên-bang-Liên Xô. V́ trong guồng máy
chiến tranh, Mỹ đă chuẩn bị và đang phải
kiểm soát lại trong kinh tế và cả trên
chính-lược Mỹ để phải đè bẹp Trung quốc
bằng mọi giá.
Năm 1962 T́nh Báo MACV báo cáo Pentagon
là quân Bắc Việt đang ngoan-ngoản xây
dựng đường Ṃn Hồ bắt đầu từ phía Tây
vùng phi quân sự. Được lệnh từ viên chức
đứng hàng thứ Ba của Bộ ngoại giao là
Harriman (người
sáng lập ra đảng-hội Skull and Bones và
cũng là người nắm chặc chính sách Mỹ)
ngầm chuyển mật-lệnh cho Forrestal,
thành viên Hội đồng An Ninh quốc gia
Hoa-Kỳ (NSC)
và Leonard Unger, Đại sứ Hoa Kỳ tại Lào
thông báo cho MACV không được đụng đến
phần đất của Lào-quốc. Năm 1964, Tướng
Tham Mưu Trưởng Liên Quân cảnh cáo Bộ
trưởng quốc pḥng Mc Namara: Dù được
lệnh như MACV không được quyền can dự ở
Lào, nhưng ít ra phải để cho QLVNCH có
quyền chống đở biên giới của ḿnh. Mc
Namara không c̣n cách nào bèn cầu cứu
với George Bundy, cố vấn TT Johnson để
thả dây cương cho chĩ quân lực VNCH được
quyền đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi
biên giới cũa ḿnh cũng hửu lư. Dỉ nhiên
TT Johnson rất bằng ḷng chấp nhận ngay.
Công điện đang chuyển qua MACV Saigon,
th́ liền sau đó có lệnh ngầm, Forrestal
cảnh cáo ngay với Bundy:
“Dù
rằng TT Johnson đă kư lệnh, nhưng không
có dấu “khán” của Harriman th́ là một
điều rắc rối: “Anh cũng thừa hiểu chữ kư
của Johnson không thôi th́ không có giá
trị”
Bao nhiêu đó thôi th́ đọc giả cũng hiểu
ngay là ai nắm chính sách của Hoa Kỳ
(to send the
telegram without Averell Harriman’s
approval is just asking for trouble!
Even if, the telegram had already
received Johnson approval, but that was
not enough)
Thế nên, Tôi tự cho rằng đây là Xa lộ
Harriman! Đến khi v́ quá sốt ruột đem
lại sự chiến thắng tự vệ cho nhân dân
miền nam, Tướng Westmoreland đ̣i hỏi
ngay vị Tổng tư Lệnh quân đội Mỹ là TT
Johnson xin TT cho lệnh quân đội Mỹ đánh
sang Lào th́ ông bị triệu hồi về Mỹ ngay
tức khắc. Sau nầy SOG xin phép được hành
quân qua Lào và Cambodia để cấp cứu đồng
đội lâm nạn nhưng vẫn bị từ chối; V́ thế
Tôi tự cho rằng Đường 559 đả trở nên Xa
Lộ Harriman từ dạo đó, Nó đă có ống dẩn
dầu huyết mạch chạy song song với nó,
như Xương Sống và các Xương Sườn đi vào
các khu đông dân cư từ vỉ tuyến 17 trỡ
vào Nam.
Năm 1967-1968 khi tôi đang học khóa Chỉ
huy Tham Mưu tại Air University Maxwell
Montgomery, Alabama Hoa-kỳ; Lúc nầy
chiến tranh VN đang thời khốc liệt vào
Tết Mậu-Thân, Cứ mỗi lần ‘coffee-break’
Tôi bị bao quanh bởi các bạn Mỹ, Đồng
minh cùng khóa, và các giản viên. Họ
luân phiên hỏi Tôi về chiến tranh VN,
Tôi c̣n nhớ rỏ, Tôi chỉ đáp lại là:
“pḥng thủ Nam Việt Nam trở thành vô
nghĩa khi lại nhường cho địch vùng biên
giới với các quốc gia Lào và Cambodia.
Tôi không phản đối ǵ việc ngăn ngừa
Cộng Sản bành trướng, nhưng chẳng thấy
chiến lược nào đang áp dụng lại có triển
vọng thành công; tuy nhiên, ḷng yêu
nước của tôi mạnh hơn nỗi bất mản về
chiến lược lảnh đạo kém!”
Một viên chức cao-cấp về địa dư của quân
đội Hoa Kỳ, ông John-Collins, ghi nhận
rằng: Đường Trường Sơn nầy cũng chẳng có
ǵ lạ, ngoài một chuổi dài rừng núi bao
la hiểm trở, có những đoạn đường Ṃn dài
cả chục cây số, lá rừng dầy đặt che
khuất ba tầng đến nổi không thấy được
ánh mặt trời. Dưới đó, nhứt là thời kỳ
chống thực dân Pháp, biết bao nhiêu
thanh niên thiếu nữ yêu nước hy sinh cả
đời ḿnh cho cuộc kháng chiến chống
Pháp; hằng ngày họ phải cồng lưng khuân
vác những trang cụ cho cuộc trường kỳ
kháng chiến; người Pháp với phương tiện
không thám nghèo nàn và lỗi thời th́ làm
cách nào mà phát hiện nỗi. Ngoài ra
kháng chiến quân ăn uống kham khổ, không
cần tiếp tế như một đạo quân dả chiến,
nên khó bị phát hiện. Trang bị vũ khí
cướp được của Pháp hay những vũ khí mà
họ tự tạo thô sơ qua các Công binh
xưởng, ráp nối như đồ chơi trẻ con mà
John.Collins cho là Rube-Goldberg Toys.
Giữa năm 1950, lực lượng Việt Minh bắt
đầu khai mở Đường Trường Sơn, tuy nhiên
chỉ hoạt động cầm chừng, lẻ tẻ từng Toán
nhỏ giao liên, nhưng chỉ xuyên qua những
đoạn đường thuộc phần đất thực dân Pháp
tạm chiếm của các thành phố lớn như: Nha
Trang, Qui Nhơn, Đà-Nẳng, Huế, Quảng
Trị… c̣n lại họ di-chuyển xuyên qua các
vùng đồng bằng, cận đông của Dăy Trường
Sơn do lực lượng Việt-Minh kiểm soát.
Hiệp định Genève ngày 20 tháng bảy,
1954, Cộng Sản bị đẩy ra Bắc, ngoài
vĩ-tuyến 17, Quân đội Cộng sản buộc phải
lên tàu của các nước Xă Hội Chủ Nghĩa,
như Ba-lan, Hungary…từ các hải cảng như
Quy Nhơn…Nhưng Cộng sản vẫn gài lại một
số cán bộ nằm vùng. Ở những Làng Huyện
cận sơn như Minh Long, Ba tơ, Gia Vực
thuộc tỉnh Quảng Ngăi, Cán bộ Cộng sản
lấy vợ Thượng, chịu hội nhập phong tục
“Cà răng căng tai” đóng chốt tại chỗ.
Cộng sản chôn dấu một số vũ khí để mai
phục về sau khi phát động tái vỏ trang
xâm lược miền Nam. Một số cán bộ nồng
cốt được đưa ra Bắc nhưng quyết không từ
bỏ ư đồ trở lại thôn tính miền Nam bằng
vũ lực v́ mắc mớ gia đ́nh c̣n kẹt lại
tại Miền Nam.
Từ 1943
khi Harriman c̣n làm Đại sứ Mỹ tại Liên
Xô đă có ư đồ dời chiến tranh qua Việt
Nam sau khi móc nối được Cụ Hố Chí Minh
vào Service of War Information 1943
(tôi tạm dich
“Sở tin Chiến tranh ở Côn-Minh, chắc
chắn thế hệ thứ tư thứ năm sẽ nói rơ
những sự kiện nầy ra v́ các sữ-gia luôn
luôn sẽ làm sáng tỏ và công minh cho
lịch sử VN sau nầy).
V́ thế
Đường Trường Sơn được đổi tên lại là
Đường Ṃn HCM do Nhóm tham mưu học giả
của Harriman tung tin ra từ các nước Tây
phương, Họ muốn vinh danh HCM để bù đáp
lại sự phản bội v́ quyền lợi buộc Họ
phải lừa gạt để kéo dài chiến tranh cũng
như Họ t́m cách đưa tên HCM vào danh
nhân thế giới tại Liên Hiệp Quốc sau
nầy; nhưng thất bại v́ sự đả phá của
nhân dân Miền Nam.
Từ tháng
Tư 1959, Bộ chính trị Cộng sản Hà Nội
triệu tập một cuộc họp bí mật thứ 15 do
áp lực ngầm của trục Ma Quỷ, để rồi Lê
Đức Thọ cương quyết nhứt trí đưa hàng
ngàn cán bộ CS miền Nam trở về nằm vùng
mai phục chờ chỉ thị mới của Bộ chính
trị Trung ương Đảng. Để thực hiện ư đồ
nầy: Hà Nội chỉ thị thành lập một đơn vị
Mới để chuyên trách đưa người và tiếp
liệu vào Nam. Đó là “Đoàn chuyển vận
559” do Tướng một sao Vỏ Bam chỉ huy.
Quân đội Bắc Việt đặt tên là Đường 559 –
Trong hồi kư của Đại tá Bùi Tín “From
Enemy to Friend” Paris, tháng 10-2003,
chỉ gọi là Đường 559. Phía Hà-Nội không
gọi là Đường Ṃn Hồ. Sự thật HCM đả bị
bọn hai anh em Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ
cùng Lê Duẩn trở về Hà Nội nắm quyền,
cách ly HCM, buộc cụ ngày ngày lo vui
thú điền-viên qua vun tưới cây “Vú-Sửa”
Miền Nam.
Thực dân Pháp chính thức đặt ách thống
trị lên đất nước Việt Nam vào năm 1884,
cuộc đô-hộ kéo dài 80 năm, nhưng suốt
chuổi dài năm tháng ấy, không một lúc
nào làn sống khởi nghĩa chống Pháp ngưng
nghĩ, từ Trương Công Định, Thủ khoa Huân
đến Vua Hàm Nghi cùng các nghĩa sỉ của
phong trào Cần Vương và Vân Thân như
Nguyển Thiện Thuật, Đinh Công Tráng,
Hoàng Hoa Thám, Phan Đ́nh Phùng; từ
phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Cụ
Phan Châu Trinh khởi xướng, đến Việt Nam
quang phục Hội và phong trào Đông Du do
Cụ Phan Bội Châu lảnh đạo, từ cuộc khởi
nghĩa Thái Nguyên đến cuộc khởi nghĩa
của Nguyển Thái Học và Việt Nam Quốc Dân
Đảng… Lấy nước biển thay mực, lấy lá
rừng thay giấy cũng không thể nào ghi
chép hết những nhà ái quốc đă dân thân
vào công cuộc chống Pháp, giành độc lập
cho nước nhà. Những thế hệ anh hùng liệt
nử đă thể hiện trọn vẹn ḷng yêu nước và
tinh thần bất khuất.
Không
thành công th́ thành nhân; nhưng bên
cạnh những trang sử hào hùng ấy, lịch sử
Việt Nam cũng không tránh khỏi một
tai-họa khủng khiếp do định mệnh xui
khiến; Khi trục Ma Quỷ
(Skull and Bones và
Loài Quỷ Đỏ)
tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh qua ư
thức hệ thù nghịch giữa Cộng sản và Thế
giới Tự do. V́ quyền lợi của Tập đoàn Tư
bản WIB, nên Harriman xô đẩy Cụ Hố Chí
Minh ra khỏi ṿng tay của Hoa-kỳ. Dù
thực tâm Cụ chỉ lợi dụng Cộng sản Pháp
như là một phương tiện duy nhứt để giành
lại độc lập trên tay thực dân Pháp.
Nghịch lư thay Harriman trong chiến lược
“Bênh kẽ mạnh” nên hất đẩy HCM, không
c̣n con đường nào khác phải theo chủ
nghĩa Mác-Xít Cộng sản Đệ Tam Quốc tế,
đang nổi lên mảnh liệt vào thời điểm ấy
trên thế giới. Đồng thời khai thác ḷng
yêu nước và khác vọng chống ngoại xâm
của dân tộc Việt để thống nhứt đất nước
Khốn nạn thay! Việt Nam đang trở thành
nạn nhân của thảm-họa tṛ chơi chiến
tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô được gọi là
CIP chống lại NLF
(Tṛ chơi “Chống Nổi Dậy” và “Cách
Mạng Giải Phóng”)
W.E.Colby và cuộc
chiến bí mật
Đây
là giai đoạn cực kỳ đối-nghịch giữa ba
xu-hướng chống đối nhau quyết liệt về
chính sách Mỹ tại Việt Nam: Sự mâu thuẫn
nầy trong cuộc chiến chi c̣n giải pháp
cuối cùng là lấy máu để giăi quyết. Tại
Washington giữa chính quyền Kennedy và
đặc biệt siêu chính phủ
(permanent government)
P.G đă keo-sơn cùng với thành viên
Kỹ-nghệ Quốc-pḥng (War
Industries Board)
quyết triệt-tiêu
chiếc ghế quyền lực Kennedy. V́ là một
trỡ ngại chính cho “Chương tŕnh Chống
Nỗi Dậy (Counter Insurgency
Plan) Và tại
Saigon chính phũ Ngô Đ́nh Diệm cực kỳ
cương-quyết không cho quân tác chiến Mỹ
vào Việt-Nam với bất cứ h́nh thức nào.
S.C.P Mỹ vừa áp lực hành pháp Kennedy
buộc chính quyền Diệm phải sơ tán dân
chúng, bỏ Huyện Hương-Hóa
(Khe Sanh)
xuống đồng bằng Quăng Trị v́ lư do được
gọi là vùng kém an-ninh
(nhưng với con mắt phi
công gián điệp mới phát hiện được sự
thật P.G buộc công-cụ gián-tiếp là
Hà-Nội phăi đem Lính B.V bắt đầu khai
phá Đường-559 cho Hà-Nội cưởng chiếm
miền nam, đễ hoàn thành axiom-1 cũa
chương tŕnh CIP).
Cụ cố-vấn, biết được ư đồ đó cũa Mỹ,
nhung v́ cần viên trợ đễ chống đở, nên
cụ Ngô Đ́nh Nhu âm thầm với mưu lược
chốt chận ngay yết hầu của Đường-559
bằng điều-động Đại tá Đỗ Cao Trí, Tư
lệnh Đệ tam Quân khu sẽ mỡ cuộc hành
quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với
Thiếu tá Dư Quốc Đống Chiến đoàn trưởng
CĐ Dù, Đại úy Lư Ṭng Bá Thiết đoàn
trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc
SĐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá
đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto
tiến qua Lào. Sự việc nầy bị ngay tay
phăn-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng
Cục T́nh Báo tại phủ tổng thống tiết- lộ
cho CIA cũa nhóm Russell Flynn Miller
(nam)
và Lucien Conein
(bắc)
biết ráo trọi. Đại tá Lansdale là
ân-nhân của TT Diệm đă đề nghị
(theo lệnh thượng cấp),
Đại tá Carver là cố vấn TUTB phũ tổng
thống, nhưng mà ‘Gịi’ trong ấy ngoi ra
làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ,
Đinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái
nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai
nhân vật chủ chốt cuộc chiến
(Harriman và Prescott
Bush)
đang đặt ống kính phăi hũy-diệt hai ḥn
đá tảng (Kennedy và Diệm) cản
đường CIP nầy bằng mọi giá.
Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn
việc làm của CIA tại Việt-Nam phải
cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được
đường thâm nhập của Bắc-Việt vào
Miền-Nam, tăng cựng nhịp độ đột phá và
gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh
Quốc-Gia Hoa-Kỳ
(NSC)
đă có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi
nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và
Hăi-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn
cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành
những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc:
“Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp”.
Trên thực tế, Mũ Nồi Xanh hay Hải-Quân
người Nhái ǵ cũng là trực thuộc của CIA
chủ động điều hành. Tại Đà-Nẳng người
Nhái Mỹ (SEAL)
đă bắt đầu huấn luyện cho Hải-Quân
Việt-Nam với chiếc thuyền gỗ thô-sơ,
cách thâm-nhập miền Bắc…thời tiết,
phương tiện, kiểu cách, tổ chức Toán nhỏ
vài người, tuyển mộ Lính từ ngoài dân,
Toán biệt-hải sẽ tấn công chớp-nhoáng
rồi rút ra…những vũ-khí như xử dụng
hỏa-tiển…đầu đạn, cách che dấu vũ-khí
trong thùng xăng 200 lít…trên thực tế
chiếc ghe nầy quá mỏng-manh dễ bị hủy
diệt, Cố-vấn người Nhái đang đề nghị
thay thế bằng loại ghe khác có nhiều sức
máy và tốc lực nhanh hơn. Họ đang muốn
huấn luyện người Việt thay người Norway
vào duyên tốc đỉnh P.T Nasty để hoạt
động tại Bắc bộ
[Gulf Tonkin]
Thâm nhập đường hàng không, cần phải đ̣i
hỏi nhiếu khả năng về kỹ-thuật
chuyên-nghiệp – Trong phân nhiệm của bộ
tam sên, vị đại sứ chỉ lo về hành chánh
dù trên thực tế là chịu trách-nhiệm tổng
quát, vị tướng Tư lệnh MACV là chỉ lo
việc hành quân, nhưng nhiệm vụ CIA mới
là quan trọng về chọn nhân lực. Có một
điều đặc biệt là họ xài người với phương
thức vắt chanh bỏ vỏ:
Khi HCM ở
trong tù th́ khuyến-dụ được thả ra phải
vào mật khu Pat-pó giúp Mỹ chống Nhựt.
Khi Cụ không vâng lời trong việc phát
động lại chiến tranh, th́ bị hạ bệ đưa
Lê Duẩn lên thế 1959, nhưng quyền hạn
tuyệt đối ở trong tay hai anh em Đức-Thọ
và Chí-Thọ. Kể từ giờ phút nầy Hà Nội
không phải là Cộng Sản chủ nghĩa
(nhưng chiến lược gia
hoàn vũ Harriman để cho thế giới có mục
tiêu đă phá CSCN như là fashion thời đại
phi thực dân)
đối với
sự dựng lên một chế độ Mafia toàn trị
(totalitarianism)
do Lê Đức
Thọ và bè lũ tiếp nối, Thọ là người đảng
trưởng Mafia được KGB và CIA bảo-vệ có
mục-đích, lănh đạo duy nhứt cho kế hoặch
50 năm
(1959-2009, decent interval chấm dứt
bằng DVD “Sự Thật HCM”).
Cụ Diệm
cũng vậy, khi ở trong bàn tay HCM th́
được CIA mốc nối xin thả ra đem về
tu-viện Mỹ, rồi khi Cụ Diệm v́ yêu nước
không muốn huynh đệ tương tàn v́ không
thuận cho quân tác chiến Mỹ qua, th́ lấy
máu giăi quyết cho mục tiêu chiến lược
toàn cầu… Tôi hoàn toàn tin tưởng các
sữ-gia sẽ làm sáng tỏ hai cụ là nhà
ái-quốc là người bạn thân thiết đặt hết
niềm tin nơi người bạn đồng minh
than-tín, nhưng có một điều chắc chắn
hai cụ “không phăi là người của Mỹ” Sự
được thán phục của hai cụ đối với thế
giới là “không v́ sự thắng lợi mà v́ sự
phản bội của đồng minh” Tôi mănh liệt
căn cứ vào câu nói cũa hiền triết
W-Brayant: “Sự
thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng
sẽ trồi dậy”
Đích thân Colby đi vào Không-Quân t́m
kiếm, ông gặp được một người có bộ râu
kẻm giống như tài-tử Clark-Gable, tŕnh
diễn trong bộ đồ bay đen, mặt lạnh-lùng
như một Đại-Ca trong một băng-đảng, đi
đâu cũng có bốn con khỉ đột đại úy chầu
ŕa. Cổ chít một chiếc khăn quàng Tím
cho nhẹ bớt cây súng lục nằm ṭng-teng
bên hông. Giống như Cowboy vào thời kỳ
lập-quốc; Cây súng tượng trưng cho quyền
lực, nhưng phải bắn nhanh, bắn đúng và
kịp thời. Đây là mẫu người mà Colby được
lệnh phải chọn, mặc dầu mới ngoài 30
tuổi nhưng ông đă mang cấp Trung-tá
Chỉ-huy-trưởng Liên phi-đoàn Vận-tải C47
tại Tân-Sơn-Nhất. Tiêu chuẩn chọn
(criteria)
phải trẻ để c̣n dùng qua giai đoạn phần
mềm hậu chiến, nhưng không qua được con
người đầy quyền hạn như CIA, Russell
Flynn Miller
(nam VN)
dưới sự điều khiển của Richard Helms,
(Pentagon):
Sữ dụng Kỳ để dẹp Phật Giáo Ấn Quang,
xong là triệt ngay đễ xóa bơ bàn cờ rồi
chơi lại, nhưng mạng của Kỳ c̣n lớn nên
không bị trực thăng vỏ trang UH1G làm
thịt. Cũng như tướng Khánh lên chỉ để bỏ
tù tại Đà Lạt, 5 tướng lănh Kim, Đính,
Đôn, Vỹ, và Xuân … xong rồi hất chiếc
ghế quyền hạn, cầm cục đất quê hương lưu
vong, chỉ có TT Thiệu là may mắn được
Bunker giữ vững chiếc ghế cho axiom-3,
đễ Mỹ rút lui êm thắm
(axiom-3: The U.S
could not have won the war under any
circumstances, honorable withdraw).
Sau nhiều câu chuyện xă-giao qua lại
thường t́nh, Colby đi thẳng vào vấn đề:
“Tôi muốn tuyển lựa Đoàn-viên C47,
phi-cơ không có bản số, không cờ và phải
bay sâu vào Miền-Bắc, ông nghĩ sao”
Người đối diện mau-mắn cựi trả lời:
“Khi nào chúng ta bắt đầu ?”
Colby cảm thấy nhẹ người, để ḷng t́n
vào người anh-hùng can-đảm và đầy nhiệt
huyết nầy Nguyễn-Cao-Kỳ đă được lồng vào
ống kính của CIA như là điều kiện cần và
đủ (Criteria).
Hậu quả
ông đă tiến lên Tư-Lệnh Không-Quân… rồi
Thủ-Tướng nhưng không quên kiêm nhiệm
Chỉ-Huy-Trưởng Biệt-Đoàn 83 để nắm tuyệt
đối sức mạnh của quyền lực.
Toán thả đầu tiên bằng C47 không số,
không hiệu
(KQVN gọi là C̣-trắng)
Toán
Atlas, không nghe tín hiệu báo cáo,
dường như phi-cơ mất-tích! để giữ
bí-mật, tránh tầm Radar, phi-cơ phải bay
ở điều kiện sáng trăng 30% và 100 bộ
trên ngọn cây vào những vùng rừng núi
hiểm trở như ở ngoài Bắc.
Sau khi chiếc C47 đầu tiên bị mất tích,
Kỳ đích thân bay phi-vụ thứ hai, thả
Toán Castor sâu vào Miền-Bắc. Khoảng ba
tháng sau, Đài Hà-Nội công bố đă bắt
được ba biệt kích gián điệp của Sàig̣n,
(coi Cánh Thép
mục “Phi vụ C̣ Trắng và những nắm mồ c̣n
lại” Nhóm CIA của Lucien Conein đă phá
hủy chiếc C-47 nổ trên không phận Ninh
B́nh, và nhiệm vụ các toán phá hoại phải
đỗi qua lấy tin tức mà thôi, ngưng ngay
việc phá hủy cầu cống) .
C̣n Toán Atlas phi-cơ đâm vào núi! Rồi
Toán Castor của Kỳ thả cũng không bắt
được liên-lạc…vẫn tiếp-tục thả Toán Dido
và Echo hai Toán nầy đang bị Bắc-Việt
theo dỏi sát nút…tin mới nhất cho biết
được, hai Toán nầy đang bị ép làm
gián-điệp hàng đôi; Và Toán cuối cùng
Tarzan vừa thả xuống là bị bắt ngay, đây
cũng là tṛ chơi phản gián và chống phản
gián của trục Ma-Quỷ
[KGB và CIA]
mà tam-trùng Phạm Xuân Ẩn là nhân vật
chính trong vở bi-thăm-kịch nầy dưới cái
dù tại tổng đài Pentagon dưới quyền điều
động của Richard Helms.
Riêng phần Colby, thất bại keo nầy ta
bày keo khác! Mặc dầu CIA đă cố gắng tạo
môi trường cho phi-công C-47 Việt-Nam
huấn luyện kỹ càng, qua huấn luyện viên
phi-công Trung-Hoa-Quốc-Gia với chiếc
C46 (hơi mập
một tư)
Họ đă có kinh nghiệm với hàng trăm
phi-vụ gián-điệp vào sâu trong lănh thổ
Trung-Quốc, Đại-Tá Harry Aderholt chuyên
viên nhà nghề về hành quân thâm nhập bí
mật vào không phận Trung-Quốc; Ông mới
vừa bay chiếc C130A không bảng số vào
sâu trong không phận Tây-Tạng do
Trung-Quốc chiếm đóng để thả dù tiếp-tế
cho kháng chiến quân bảo vệ Đức Dalai
Lama trong cái thế siêu chiến lược
Eurasian sẽ gây xáo trộn t́nh h́nh trong
nửa thế kỷ tới như để hù dọa TQ
(đầu thế kỹ 21)
về các sắc tộc ở quanh vùng nổi loạn tại
Trung-Á vào đoạn chót kế hoặch Eurasian.
CIA nhận
xét phi-công C-47 Việt-Nam chưa đủ
kinh-nghiệm về địa h́nh, thời tiết, cũng
như kỹ-thuật lái. Hậu quả: một chiếc đâm
đầu vào núi, khi bay thấp, dĩ nhiên là
điều kiện ánh sáng trăng dưới 30%. Một
chiếc bị phản gián CIA của Nhóm Richard
Helms phá hoại nổ rơi tại Ninh-B́nh làm
cho William Colby trở nên lúng-túng,
phiền-phức, mất mặt đối với quốc-tế đặt
chính quyền Kennedy khó xử, đồng loạt
với phi công đại-úy Power bay U-2 bị bắn
rơi, sự khủng hoảng hoả tiển nguyên tử
lén lút đưa vào Cuba, vụ thảm bại đổ
quân vào Vịnh Con Heo của CIA
(chuyên lấn quyền qua
gịng họ Bushes)
Vụ việc
thất bại Vịnh Con Heo làm TT Kennedy
phải chịu trách nhiệm v́ đương kiêm tổng
thống: Tường tôi cũng nên nói rỏ về vụ
nầy v́ rất nhiều bạn đă hiểu lầm về CIA
do William Colby chịu trách nhiệm, hay
nói cách khác do chính quyền Kennedy
phải chịu. Như tôi đă nói Colby pḥ trợ
chính quyền, c̣n Richard Helms pḥ trợ
Bush-Cha (vị
đại đế dấu mặt Skull and Bones-II)
mà
trong tài liệu cho rằng president of
permanent government 1920 là thủ phạm
(báo chí thời đó cho rằng: lúc 10:15AM
ngày 14/4/1961 lệnh bắt đầu đến đúng
ngọ, th́ CIA của Bush-Cha cho lệnh hành
quân qua Vịnh Con Heo, dĩ nhiên tài trợ
của Bush Cha nhưng bị thất bại nhục nhă
v́ TT Kennedy cương quyết không cho quân
đội can thiệp. Theo lệnh CIA người điều
hành cuộc hành quân là Richard Drain, ám
số Skull and Bones 43, cùng cố vấn TT
Kennedy là Mc George Bundy, ám số 40,
người em của Bundy là William P Bundy,
ám số 39 ở Bộ ngoại giao, và người thuộc
Russell Trust Association cùng một người
vừa tách rời William Colby là 45W thân
cận của Bush Cha với ám số 45W như trên.
Việc thất bại nầy thúc dục Kennedy ra
lệnh cho Tướng Maxwell Taylor điều tra,
Taylor cho rằng CIA như con Voi Rừng bất
kham, kết quă Kennedy nổi giận giao CIA
lại cho quân đội đăm nhiệm và giải nhiệm
một số viên chức cũng như tướng lảnh.
Đây cũng thêm một yếu tố nhỏ khiến
Harriman, Bushes mướn Mafia giết Kennedy
để không gây sự xung-đột mâu thuẩn giữa
CIA và FBI nhưng lại đổ lỗi oan cho
William Colby v́ ông có kinh nghiệm mướn
Mafia giết những lảnh tụ thiên tả hay
Cộng Sản tại các nước tây âu qua tiền
tại trợ rút tại ngân hàng Thụy Sĩ sau
thế chiến 2.
Để tiếp tục thi hành theo chỉ thị của
Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia, bản văn kiện
ghi nhận số 52 Memorandum, CIA chuyễn
qua dùng Phi-Cơ C46 không số do phi-công
Trung-Hoa Quốc-Gia lái, chương tŕnh thả
Toán dài hạn (3
năm)
sâu vào lănh thổ Bắc-Việt. Tại Trung tâm
huấn luyện Long-Thành, cách Sàig̣n 40
cây số đang đào-tạo thêm hàng chục Toán
mới; Tháng 5, 6 và 7 năm 1964 các Toán
được thả xuống như: Boone, Buffalo,
Lotus và Scorpion… kết quả tất cả bị tóm
cổ. Tuy thất bại nhưng cũng vẫn tiếp-tục
đào-luyện 21 tuần lễ các Toán mới, và
chọn người có khả năng để tăng cường bổ
sung cho Toán Remus và Tourbillon dành
cho phía Hà Nội chơi tṛ “Cút-bắt”.
Nhưng sự thật đây là tṛ chơi rẽ tiền:
Dân và cán bộ cấp nhỏ người nào cũng óm
nhách óm nheo v́ không đủ ăn thiếu dinh
dưỡng nên mặt bũn da ch́, đem bắt cóc họ
lùa vào chiếc PT Nasty đem vào Cù Lao Ré
nuôi cho mập, rồi thả về chỗ cũ, mặt mày
hồng hào khỏe mạnh đễ lộ ra coi như “Ông
ơi tui ở bụi nầy” th́ bị bắt rồi cho đi
cải tạo tư tưởng. Rồi họ tuyên dương
t́nh báo nhân dân của họ thật xuất quỷ
nhập thần, dù rằng đây là tṛ chơi rẽ
tiền, nhưng đối với tinh thần là kích
thích sự háo thắng truyền thống của CS,
có như vậy để cho họ tiếp tục phấn đấu
vượt bao khó khăn để trục Ma/Quỹ hoàn
thành kế sách chiến lược.
Sơn-Tinh thất bại, CIA dùng Thủy-Tinh gỡ
lại; Ở Vịnh Bắc-Việt, duyên-tốc-đỉnh
Nasty và Biệt-Hải bắt đầu tấn kích phá
hoại rất thành công nhiều mục-tiêu
rải-rác dọc Duyên-Hải; Hai cuộc tấn kích
chớp-nhoáng rồi rút ra khỏi, đó là ngày
9 và 25 tháng 7.
Đặc biệt ngày 30 July tấn kích dữ-dội
căn-cứ Radar của Hà-Nội, xử dụng tốc
đĩnh Nasty và Biệt-Hải tấn kích quyết
liệt sâu vào đất liền, hủy diệt căn-cứ
thường ḍm ngó nầy, gây ra nhiều đám
cháy và nhiều tiếng nổ phụ dài theo sau
đó. Cuộc hành quân của Thủy-Tinh
hoàn-toàn thắng lợi.
Kết quả về Hành-Quân cũa Toán Dài Hạn:
Nói tóm lại, sự hoạt động của Toán
Dài-Hạn, từ ngày thành lập đến nay xem
như thất bại hoàn-toàn, chỉ có bảy Toán
và một Đơn Chiếc được xem như c̣n hoạt
động trong nội-địa Bắc-Việt đến năm 1967
(xem bản đồ ở
trang đầu)
Ba Toán và một Đơn Chiếc do CIA đào tạo
sau bốn năm hoạt động là: Eagle,
Red-Dragon và Romeo đă tỏ ra có nhiều cố
gắng.
Đem so-sánh với kế-hoạch kồng-kềnh của
CIA, các Toán nầy hoạt động cũng không
đáng kể, mặc dầu phương tiện đem họ đi
thâm-nhập rất hoàn-hảo, nhưng kết quả
lại không ra ǵ. CIA thả Toán Tourbillon
ngày 16/5/1962, sau đó tăng cường thêm
hai Toán-viên ở vùng hoạt động tây-bắc
Hà-Nội, lúc đầu Toán phải mở những trận
phục kích, phá hoại, gây rối hậu phương
địch, sau đổi lại chỉ góp nhặt tin-tức
báo-cáo về Trung-ương mà thôi. Kết quả
không tin-tức nào cho là đáng kể; Nhận
thấy cứ mỗi lần muốn bốc họ ra th́ họ
xin tŕ hoản thối thác và đến băi bốc
không đúng hẹn.
(Nếu chúng ta suy gẫm có sự thay đỗi
nhiệm vụ như vậy có nghĩa là CIA của
Colby bị CIA của Richard Helms đè bẹp,
thế th́ ai nắm chính sách Mỹ? Đúng y
chang Harriman kiến trúc sư cuộc chiến,
và Prescott Bush, chủ tịch hội đồng kỹ
nghệ quốc pḥng WIB).
Tháng Tám năm 1963 CIA thả Toán Easy ở
Sơn-La với mục địch: Toán phải t́m mọi
cách liên-lạc với nhóm người lănh đạo
của sắc-tộc Mèo, Thái để được Bốc đem về
cho CIA huấn luyện, sau tháng giêng năm
1964, có nghĩa là sau khi TT Kennedy và
TT Diệm bị thảm sát, nhiệm vụ nầy được
hủy bỏ v́ chỉ-thị đột ngột của
Hoa-Thịnh-Đốn
(từ bộ Ngoại giao, Harriman)
không được mở các cuộc đột kích cũng như
tấn-kích. Toán Easy trở lại vị thế nhàn
rỗi giống như tên đặt: là chỉ thu-lượm,
khai-thác tin-tức và t́m hiểu để tuyển
người tại địa phương.
Kết quả, không thấy báo-cáo… nín câm như
hến! Colby không biết ǵ nhưng điệp viên
19 Lucien th́ biết tất cả mọi việc qua
Phạm Xuân Ẩn. Theo sự tường tŕnh của
CIA [Colby]
th́ Toán Easy nầy đă được tăng cường bốn
lần với hai mươi ba Toán viên. Đến khi
cho biết, t́nh-trạng khẩn-cấp, báo-động
Đỏ, v́ bị nghi-ngờ, vài Toán viên phải
được Bốc về ngay… th́ Toán nầy cắt đứt
liên-lạc tức khắc
(bị bắt buộc phải làm nhiệm vụ
nhị-trùng).
Toán sáu người Remus nhảy dù xuống ngày
16 tháng 4 năm 1962 gần Điện-Biên-Phủ,
ấn-định mục-tiêu: Thiết lập bí-mật tại
đây một Căn-cứ ch́m để đón nhận tin cũng
như phát tin đi hàng ngày về diễn-tiến
thay đổi t́nh-h́nh chính-trị, kinh-tế
cũng như quân-sự, lựa chọn một nơi thật
an-toàn để nhận tiếp-tế và cũng là nơi
sẽ tiếp-nhận thêm Toán viên Mới, thu
nhập tài-liệu, dữ kiện để tuyển người
cho Mặt trận Gươm Thiêng Ái-Quốc, nhưng
sau khi TT Kennedy bị thảm sát, Toán
Remus trở lại nhiệm vụ thám sát để báo
cáo t́nh h́nh, nói tóm lại từ khiêu
khích trở về pḥng thủ để lấy tin tức,
ngay sau khi TT Kennedy bị Harriman và
ḍng họ Bushes quyết triệt tiêu. Các
toán đă thă trở về mục tiêu ḍ la tin
tức, không được phá hoại và bị bỏ trong
quên lăng.
Năm 1964, Toán Remus báo-cáo đă phá sập
nhiều cầu-cống trên những huyết lộ của
Bắc-Việt, Bộ-Trưởng Quốc-Pḥng Mc Namara
làm bộ mừng rỡ khi William-Colby báo
cáo, lúc nghe được tin nầy, Mc Namara
nhún-nhảy tưng-tưng như đứa trẻ con vừa
được Bố Mẹ mua đồ chơi; nhưng Colby cũng
biết Namara không ưa ǵ ḿnh khi cố mĩm
cười và cứ tưởng như Mc Namara cho rằng,
cuộc chiến sẽ thay đổi hẳn cục diện và
đây quả là một chiến-công vĩ đại? CIA
không có bằng chứng nhưng chỉ tin vào
báo cáo, cho đây là kết quả tốt đẹp nhất
nên Toán Remus được tăng cường năm lần,
(chỉ có Nhóm
phản gián của điệp-viên 19 và Phạm Xuân
Ẩn là hiểu rỏ mọi diển tiến của tṛ chơi
nầy và Mc Namara cũng thừa hiểu điều đó
nhưng cũng cố đóng kịch như là người
thuộc về viên chức chính quyền, trong
khi điệp viên tài ba nhứt trong Đệ-2 thế
chiến, Colby đành thúc thủ).
Măi đến năm 1966 Remus bị nhóm Colby phê
b́nh khiển trách v́ quá tự măn nên báo
cáo quá ít và mù-mờ không rơ-ràng,
Trung-ương quyết định, v́ nghi ngờ, phải
thay đổi nhiệm vụ nên ra lệnh Bốc bớt về
hai Toán-viên. Được Toán trả lời ngay:
“Rất nguy-hiểm không nên bốc hai
Toán-viên ra…”
Đền giữa năm 1968, tất cả vô-tuyến
liên-lạc đều cắt đứt, cũng vừa phỏng vấn
lấy cung một tên lính Bắc-Việt mới bị
bắt, hắn tiết lộ rằng: Đội-Trinh-Sát đă
bao vây bắt được Toán Gián-Điệp của
Chính-phủ Sàig̣n ở vùng cao thuộc Tỉnh
Hoàng-Liên-Sơn. Sau khi phối kiểm, đúng
là Toán Remus vào giữa tháng 6 năm 1962,
có nghĩa là sau khi thâm nhập được hai
tháng là bị chụp ngay, Bắc-Việt dùng
Toán nầy để làm Gián-diệp hàng đôi,
trong khi Colby không biết ǵ cả.
Ngày 13/5/1968, Đài Hà-Nội công bố xác
định có bắt được một Toán Gián-Điệp với
những dữ kiện…rơ-ràng là Toán Remus.
Nói tóm lại, Colby chỉ c̣n Một-Đơn-Chiếc
Ares là đáng tin cậy được,
(tôi đoán rằng Nguyễn
Chí B́nh, thép đen?)
đầu năm 1961 Ares được thả bằng đường
biển, gần biên-giới Trung-Quốc, lúc đầu
không liên-lạc được nhưng sau bắt được
liên-lạc. Trước đây được một viên chức
của Sở-Khai-Thác Địa-H́nh đề ư và t́m ra
Ông khi ông c̣n ở Trại Tỵ nạn Cộng-Sản
vào ngày 29/8/1960 được đưa vào ống kính
CIA v́ ông có nhiều mối căm thù tích lủy
với Cộng-Sản, với sự kích động hăng-say
khiến ông ao-ước được có cơ-hội nầy để
tiêu-diệt Cộng-Sản, dĩ nhiên không bao
lâu, sau ông được cơ quan tuyển dụng
ngay. Thoạt đầu ông được xem như tích
cực, hữu-hiệu, cung-cấp những tin-tức
cũng như tài-liệu về Miền-Bắc, nhà máy
điện Uông-Bí, Xa-lộ, Cầu-cống, Bến cảng
Hải-Pḥng và những tin-tức liên-quan
khác, chính ông đă cố-gắng hết ḿnh t́m
được những tin-tức vô cùng quư giá. Tuy
nhiên đến năm 1966, CIA bắt đầu ngạc
nhiên về sự yêu cầu tiếp-tế của ông, Ông
đưa ra điều-kiện nơi tiếp-tế, rồi
th́nh-ĺnh lại xin hủy bỏ; Khi CIA quyết
t́nh muốn bốc ông ra th́ ông thối-thác
không ra chỗ hẹn, nhưng vẫn liên-lạc măi
đến năm 1968; Hà-Nội biết như vậy nên
càng rà theo dơi ông sát nút nhờ qua tin
của tam-trùng Ẩn báo cáo khá chính xác
những hoạt động gián điệp biệt kích của
VNCH.
Nói tóm lại góp nhặt tin-tức, phá hoại
đột kích… Các Toán dài-hạn ít có kết quả
hơn Toán ngắn hạn, tại sao! Rất nhiều lư
do phức tạp chỉ biết qua tin-tức bằng
vô-tuyến, nếu có phá sập cầu, cho biết
vị trí, chụp h́nh thế thôi. Thậm chí có
những Toán bị Bắc-Việt bắt được và đang
áp-đặt làm điệp-viên hàng đôi mà CIA
[nhánh chính
quyền Colby]
cũng chẳng hay biết, cứ như thế mà
tiếp-tục tiếp-tế, thả tăng thêm người:
(Những khuyết
điểm thực tập nầy của Colby vẫn được ghi
chép vào Học viện Quân sự để rút kinh
nghiệm sau nầy).
Toán Tourbillon, năm 1962 tiếp nhận Toán
viên mới hai lần, rồi tiếp-tục nhận thêm
năm 1964, năm 1965, năm 1966 và năm
1967, thật là buồn cười cho một Cơ-Quan
CIA tự hào là nỗi tiếng khắp thế-giới mà
bị mù ḷa không thể tưởng. Nhưng sự thật
đả bị CIA (toán phản gián của Richard
Helms) qua Phạm Xuân Ẩn chỉ điểm tọa độ
nên bị tóm cổ hết cả lủ, theo kế hoặch
của Nhóm tham mưư Harriman là mọi ngành,
binh chủng, đơn vị đều phải thực tập
trách vụ nhưng không cần thu hoặch kết
quả với châm ngôn
(everthing worked but nothing worked
enough)
- Toán Remus nhận tiếp-tế Bốn lần
- Toán Easy nhận tiếp-tế Năm lần
- Tất cả những Toán viên tăng cường đều
bị bắt, bị giết bởi lính tuần tra theo
kiểu Cày Răng Lược của lính Bắc-Việt.
Hồi Đệ II thế chiến, T́nh-báo Quân-đội
Hoa-kỳ OSS rất hữu hiệu, thao lược và
kiệt xuất, họ vơn-vẹn có vài người trong
ḷng địch kiểm soát, thay v́ phải
điều-động cả hàng Sư-đoàn để giao-tranh
với Địch, dĩ nhiên với quân số nhiều như
vậy th́ phải chịu thiệt hại khi đụng độ.
Cũng nên nhắc lại chuyện xưa, ngày đó
OSS biết khi nào cần sự có mặt của quân
bạn để tham chiến, đúng lúc, nơi nào,
vào giờ nào, để làm ǵ…Trong khi
Đồng-minh Liên-Xô không những hàng ngày
mà hàng giờ chờ quân-đội Hoa-kỳ nhảy vào
ṿng chiến để nhẹ bớt áp-lực. Trong khi
mũi dùi tiến về phía Tây-Bá-Linh,
Liên-Xô chịu quá nhiều thiệt hại về nhân
mạng, đến khi Liên-Xô tiến gần đến
Bá-Linh, lúc nầy Sĩ-quan OSS, W.Colby
mới chịu báo-cáo cho Sư-đoàn Dù nhảy vào
ṿng chiến để chụp giật phỏng tay trên
giành được các nhà Bác-Học Đức trên tay
hồng quân Liên Xô. Ngày xưa Cơ-quan
T́nh-báo Quân-đội OSS càng kiệt xuất bao
nhiêu th́ ngày hôm nay được đồi cái tên
là CIA th́ quá tệ trong dự mưu của SCP,
v́ bị thọc gậy bánh xe, mục tiêu có khác
là do thế chiến lược phản t́nh báo của
Skull and Bones. CIA
[Colby]
biết ḿnh mà không biết người th́ làm
sao nắm vững được t́nh-h́nh; Trong khi
nhóm phản gián của Richard Helms th́
biết cả hai bên nhở cùng KGB phối hợp
thao dượt để thí nghiệm các dụng cụ
truyền tin loại update nhứt cho sự ích
lợi của hai nước Mỹ/Xô. Nhưng đây là một
điều trớ-trêu nhưng lại trong định kiến
của Nhóm tham-mưu Dân-sự Harriman về thế
chiến lược ‘bênh kẻ mạnh’ để giúp Hà Nội
chiếm lỉnh Miền Nam theo định kiến-1
(axiom-1).
- Cho thi hành công tác mà không hiểu
rơ, xác định mục tiêu như thế nào, đổi
mục tiêu vô chừng, khi th́ phá hoại rồi
đổi mục tiêu qua thu lượm tin-tức, rồi
đùng một cái tuyển người ở địa phương
cho chương tŕnh Mặt-Trận Gươm Thiêng Ái
Quốc, thay đổi kế-hoạch như chong-chóng
(V́ mọi hoạt
động đều do sự chủ đạo của Nhóm tham mưu
Richard Helms/Harriman)
- Quan niệm hành quân không thích hợp,
không nắm vững, thiếu hiểu biết.
- Thiếu kinh-nghiệm điều hành.
- Thiếu, không đủ thủ tục, tiêu chuẩn để
chọn người.
- Huấn luyện chưa vững, thiếu tin cậy,
tin-tưởng.
- Không biết cách để kích động tinh-thần
Toán viên.
- Trong khi Bắc Việt đă điêu luyện về xử
dụng Gián-Điệp hàng đôi, khích lệ bởi
KGB
- Quân đội điều-hành không chuyên môn về
phương diện t́nh báo, đổ lổi Kennedy
(Nhưng có một đều chũ yếu là thao duợt
cho că hai phía Bắc Nam để tiêu hũy cũng
như thí nghiệm vũ khí mới lấy VN làm
chiến trường thí nghiệm).
Mặc dù có những sáng kiến khi phát hiện
Toán bị cưỡng bức làm Gián-điệp hàng đôi
như dùng Phi-cơ Phantom RF-4 thả đồ
tiếp-tế theo kế hoạch đă ấn định trong
chương tŕnh: Cái thùng nhôm mang dưới
bụng Phi-cơ giống như b́nh xăng phụ,
dùng thả những tiếp liệu như Vô-tuyến,
Lựu đạn, Ḿn bẩy…Nhưng Lựu đạn kỳ thả
nầy, hễ rút chốt ra là nổ ngay, vô-tuyến
và các thứ khác đều như vậy nhưng chỉ có
hiệu quả một hai lần thôi, lần sau họ
đâu có dại nữa mà chịu mắc-mưu. C̣n như
để đánh lạc hướng địch, thả dù bằng
những cục nước đá có sức nặng bằng con
người… đến khi nước đá tan th́ chỉ c̣n
chiếc dù mà thôi, treo lủng lẳng trên
cành cây hay cạnh sườn núi, lính
Bắc-Việt sẽ tập trung vào khu đó mà t́m
trong khi Toán sẽ được thả ở nơi khác,
cái mưu chước nầy cũng chỉ nhất thời mà
thôi, chớ không thể ứng dụng lâu dài
được! Thả máy phát thanh treo trên ngọn
cây phát ra tiếng liên-lạc giữa các Toán
với nhau để đánh lạc hướng…nhưng dù ǵ
th́ chĩ có hậu quả nhứt thời mà thôi -
Đây cũng là h́nh thức tạo ra sáng kiến
về phía Colby.
William
Colby bị Phạm Xuân Ẫn knock-out
(Trong
chiến tranh VN, sự mâu thuẩn và xung đột
gay gắt trong nội bộ CIA giữa chính phủ
đương quyền và siêu chính phủ trong hậu
trường chính trị: Tôi muốn nói giữa
William. E. Colby và điệp viên Russell
Flynn Miller, mà người đại diện Skull
and Bones đều hành cuộc chiến là
McNamara. Nói đến William Colby là nói
về Bộ Tam Sên: Đại-Sứ Ellsworth Bunker,
Tướng Creighton Abrams và William Colby,
bộ ba chủ chốt cuộc chiến Việt-Nam,
nhưng có một người quyền hạn vô biên
trong bóng tối th́ chẳng ai biết đến. Đó
là William-A-Harriman, Kiến Trúc-sư cuộc
chiến VN mà cũng là Thủ lảnh Đảng Skull
and Bones, cực kỳ chống phá đường lối
hành động của T́nh báo thuộc ngành CIA
do W.Colby điều hành bằng cách xữ dụng
tài t́nh “Tam-trùng” Phạm Xuân Ẩn trong
cuộc chiến Phản-gián và chống Phản-gián
tại Việt Nam, hậu quả cuộc chiến bí mật
thả gián-điệp ngoài Bắc hoàn toàn bị
thất bại trong mưu-đồ của trục Ma-Quỷ
[KGB và CIA]
Colby hai lần muốn chụp Ẫn mà có được
đâu?)
William
Egan Colby và Cuộc Chiến Bí Mật
Bài nầy có chữ “bí mật” cũng như
“huyền-bí” th́ thế nào cũng có thắc mắc,
nhưng tôi luôn có quan điểm tôn trọng sự
thật đúng như nó có, không thêm không
bớt, không tô hồng, cũng không bôi đen,
không đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại,
không v́ ghét bên nào, giận bên nào th́
tô vẽ họ xấu hơn thực tế dù chỉ một
chút, cũng không thân với phe nào, ưa
phe nào th́ tả phe ấy tốt hơn thực tế,
che dấu bớt mặt xấu một chút.
- Làm như
thế là thiếu công tâm, thiếu khách quan,
thiếu lương thiện của người mong ước trả
lại tính trung thực cho lịch sữ cho sữ
gia. Quả thật đánh giá đúng, thật đúng
một bài, một thành phần không dễ chút
nào, mỗi tác giả đều vừa là tác nhân, là
chứng nhân của lịch sử, vừa có thể là
nạn nhân của lịch sử
- Một bài
có thể đúng về mặt này, trong phạm vi
này, lại sai trái về mặt khác, trong
phạm vi khác. Lại c̣n tuỳ theo điều kiện
khách quan, tuỳ theo chỗ đứng và góc
nh́n, lại c̣n tuỳ theo lập trường và
nhăn quan chính trị. Nên người viết đề
nghị hăy click vào Web, youtube, trang
sách có đáp số như tác-giả đă ghi-chú
bên cạnh, riêng v́ tôn trọng những nhà
nghiên cứu, sử gia nên vào Thư viện Quốc
hội Mỹ Library of Congress, kho lưu trữ
sách báo đồ sộ nhất thế giới. Tại đó có
thể t́m đọc những sách báo, tập truyện
có giá trị kể cả báo ngày Quân Đội Nhân
Dân, Saigon Mới... từng trang được lưu
cẩn thận trên phim, muốn có biên bản
trang nào là có thể photo copy ngay tại
chỗ, Nơi đây, thí-dụ bạn muốn phối kiễm
sự có thật “tin-đồn” về 10 trong 100
nhận vật quân sự lỗi lạc nhất mọi thời
đại đều có thấy tên trong đó, nếu không
có tên Vỏ Nguyên Giáp trong đó, th́
chúng ta gọi là tin “Vịt-Cồ” của Hà Nội
bố-láo. Chúng ta cũng nhắn tác giả Hồ
ngọc Sơn có dũng khí cải chính trên báo,
xin lỗi bạn đọc và xin lỗi tướng Vơ
Nguyên Giáp, v́ nói sai về người khác,
dù cho bôi xấu hay khen quá lố đều là
không nên. Con người có nhân cách tự
trọng không bao giờ muốn người khác khen
quá lời về bản thân ḿnh.
Mục nầy thật nhậy cảm và vô cùng phức
tạp, nên tốt nhứt hăy tránh ba lập luận:
Tôn giáo, chính trị, và cái Tôi xuất
sắc! Cái ǵ ḿnh cho đúng chắc chắn là
đúng rồi! Nhưng đừng bắt mọi người cho
ḿnh đúng, như thế mới là người lịch
lăm! Có người cho tôi, phê b́nh tôi chĩ
biết một nhưng không biết mười, tôi rất
quư trọng v́ họ am tường chuyện nầy hơn
tôi: Thí dụ “Bài anh viết coi được như
một tô phở tuy có mùi thơm ngon đấy,
nhưng rất đơn sơ, nếu như tôi thêm chút
gia-vị, chút tương ớt, ng̣-gai và tí rau
thơm th́ tuyệt; rồi có một người lại cho
rằng muốn tuyệt cú-mèo th́ cho thêm một
chén hành trần nước béo và trứng non thi
ngon biết mấy, th́ quá tuyệt vời. V́ có
rất nhiều h́nh giăi mật nhưng chưa đủ,
trong lư giăi có chứng cớ trong sự cam
kết giữa CIA và KGB đễ dễ phát hiện ra
một băi tha ma đủ loại trực thăng tại
băi đáp dành cho pháo binh của trung
đoàn-3/SĐ1, tại Hồng Hà-2, đến các anh
em tù binh Dù, Đồi-31 bị áp giăi ngày
26/2/71 trên đường ṃn 92B ra bắc
W. E. Colby và Cuộc Chiến Bí Mật:
Trong
chiến tranh VN, sự mâu thuẩn và xung đột
gay gắt trong nội bộ CIA giữa chính phủ
đương quyền và siêu chính phủ
(Permanent Government)
trong hậu trường chính trị: Tôi muốn nói
giữa William. E. Colby và điệp viên 19,
Lucius [Lucien]
Conein, mà người đại diện Skull and
Bones đều hành cuộc chiến là Bộ trưởng
quốc pḥng McNamara, lại thi hành theo
chĩ thị của WIB
(War Industries Board).
Lời tuyên bố đanh thép của Colby:
“He
should not be contemptuously slandering
Vietnamese who gave their lives and
efforts to prevent Communist rule … but
who saw their great power protector wash
its hands of them because of the costs
of McNamara’s failed policies!”
The cause affirmed Colby, was indeed
“noble”, American fought it the wrong
way under McNamara, and lost it in good
part because of him”.
Hậu quả, Colby phải chịu cảnh “Sanh Nghề
Tữ Nghiệp” đó cũng là nghiệp chướng của
một điệp viên tài giỏi nhứt của Mỹ vào
thời Đệ-2 thế chiến. Lấy thí dụ: “Tṛ
chơi “Cút-Bắt” giữa tay sai Saigon và Hà
Nội: Trong tổ chức Gươm Thiên Ái Quốc có
cuộc hành quân “SSPL-Loky” và chúng ta
nghe Đại tá Jack Singlaub, người đứng
đầu SOG nói:
“We
would spend our time feeding them well,
give them very high calories foods ...So
when they went back, they were healthier
and certainly had more poundage …!”
cho tṛ chơi “Cút bắc” giữa KGB và CIA
cho hai đứa tai sai thao-luyện học tập
(mục đích bài
nầy cho anh em tay sai phía bên kia biết
mà bớt bố láo và sau nầy sẽ bơ 2 sư phụ
Nhỏ mà theo đại-cồ sư-phụ, ngày đó không
c̣n xa nữa mà đă thễ hiện nhản tiền)
Muc đích kích thích cho Hà Nội được
nun-đúc tánh háo thắng, cao-ngạo mà tiếp
tục tṛ chơi cưỡng chiếm cho được miền
nam. Thông thường người dân đói khỗ miền
Bắc kể cả cán bộ nhơ, nước da xanh dờn,
óm yếu, sắc mặt người nào cũng da ch́
mặt bũn, bổng dưng xuất hiện, mắt mày
hồng hào, mập-mạp, tráng kiện th́ thử
hỏi có phải “Ông ơi tôi ỡ bụi nầy
không?” Đây cũng là cuộc tập luyện cho
hai bên. Nó cũng không khác ǵ cuộc thí
nghiệm pḥng không và chống pḥng không
giữa Mỹ và Liên Xô đă trắc nghiệm các hệ
thống điện tử về quốc pḥng như vừa qua
tại bầu trời Triều tiên cho thế hệ phăn
lực cơ chiến đấu Mig-15 và F-84 có bầu
trời trắc nghiệm không chiến Dog Fight
và bây giờ qua giai đoạn hoả tiển t́m
kích và sensor điện-tữ chống lại cũa
dùng mấy thằng cu pilot Mỹ để làm vật hy
sinh thí nghiệm.
Cho đến nay có nhiều giả thuyết về
nguyên nhân đă khiến chiếc “C̣ Trắng” bị
rớt. Cùng với hồi kư của Tr/u Phan Thanh
Vân:
“. .
. máy bay tự nhiên rung, giật mạnh,
không hề nghe bất kỳ tiếng súng nổ hay
bất kỳ một âm thanh nào . . .”
cũng như lời của các nhân chứng, dân
chúng lẫn công an địa phương, th́ máy
bay tự nhiên bốc cháy và rớt. Tuy nhiên
chính quyền CSBV thổi phồng sự việc nên
đă tuyên truyền là phi cơ bị súng pḥng
không bắn hạ. Hiện nay họ vẫn trưng bày
các hiện vật c̣n xót lại của chiếc C-47
tại nhà Bảo Tàng Lịch Sử QĐND tạI Hà Nội
để khoe “chiến công tưởng tượng” của họ
.
Điều ranh mảnh đặt hàng cho vài tác giả
Mỹ cũng căn cứ vào tuyên truyền của CSBV
để viết rằng chiếc C-47 c̣ trắng bị
pḥng không hạ. Và hầu như các toán nhảy
ra bắc đều bị tóm cỗ nhờ gịi trong bụng
của W. Colby ḅ ra cho Phạm Xuân Ẩn bằng
tiếng Việt th́ hết xảy, trong khi Ẩn là
phóng viên UPI đội lớp tam-trùng..
Nói đến William Colby là nói về Bộ Tam
Sên: Đại-Sứ Ellsworth Bunker, Tướng
Creighton Abrams và William Colby,
bộ ba chủ chốt cuộc chiến Việt-Nam,
nhưng có một người quyền hạn vô biên
trong bóng tối th́ chẳng ai biết đến. Đó
là William-A-Harriman, Kiến
Trúc-sư cuộc chiến VN mà cũng là Thủ
lảnh Đảng Skull and Bones, cực kỳ chống
phá đường lối hành động của T́nh báo
thuộc ngành CIA do W.Colby điều hành
bằng cách xử dụng tài t́nh “Tam-trùng”
Phạm Xuân Ẩn trong cuộc chiến Phản-gián
và chống Phản-gián tại Việt Nam, hậu quả
cuộc chiến bí mật thả gián-điệp ngoài
Bắc hoàn toàn bị thất bại trong mưu-đồ
thao-dượt của trục Ma-Quỷ
[KGB và CIA]
William E.Colby sanh ngày
4/January/1920 tại Saint-Paul,
Minnesota, là đứa con trai của Elbridge
Colby, một Sĩ-quan Bộ-binh trí-thức; Vợ
ông tức mẹ của Colby là Bà Magaret Mary
Egan Colby. Bà là người vô cùng ngoan
đạo Thiên-Chúa
(Roman Catholic)
săn-sóc
kỷ-lưởng hướng dẩn con ḿnh đi theo con
đường Kitô hữu, nhưng có được toại
nguyện đâu với thằng con quỷ-quái nầy.
Theo gia đ́nh đến Tiểu Bang Vermont, nơi
đây ông tốt nghiệp High School tại
Burlington, rồi qua Đại- học Princeton
University, ông cao 5 feet 8 inches,
luôn luôn mang cặp kiếng dầy mo mà cũng
để che bớt đi sự ác-độc dễ lộ ra nơi đôi
mắt. 1940 Ông tốt nghiệp A.B. Năm 1941
Colby t́nh nguyện vào Lục-quân với quân
hàm Thiếu-úy và năm 1943 ông gia nhập
vào T́nh-báo Quân-đội OSS
(Office of Strategic
Services)
ông trượt trên tuyết khỏi chê, nhờ thời
gian c̣n trẻ ở Burlington, Vermont. Khi
chiến tranh thứ 2 đang bùng nổ, Colby
nhảy dù xuống Norway làm Trưởng-đoàn gồm
100 người của một đơn-vị Gián-điệp
chuyên phá hoại, với quyết tâm: “Quân
Đức đừng ḥng đụng đến lănh thỗ Norway”
(có phải v́ thế
nên sau nầy khi được lệnh ngụy tạo ra sự
kiện Vịnh Bắc-bộ, năm 1964 “Gulf Tonkin
Incident” ông chọn “chiến tốc đĩnh” cũng
như đoàn viên người Norway)
ông luôn luôn án-ngữ sau lưng địch từ
nước Pháp chạy dài lên Norway với mục
tiêu không cho quân Đức khai triễn xuyên
qua Norway để chống lực-lượng Đồng-minh
mà cũng canh chừng đầu cầu sẽ đổ bộ ở
Normandy. Colby đă điều-động thành công
phá hoại các cầu xe hỏa, đó là đường
huyết mạch, nên quân-đội Đức phải tu sửa
tức khắc, nhưng rồi sau đó lại bị Toán
của Colby phá sập.
Năm 1945, Colby cưới vợ là Barbara
Heinzen, họ có với nhau 4 đứa con; Năm
1947 Colby học Law School tại Columbia
University và cũng vào năm nầy, Quốc-hội
Hoa-kỳ chấp nhận thành lập CIA
(Central Intelligence
Agency)
qua ảnh-hưởng của người sáng lập ra
Đảng-hội Skull and Bones là W.A
Harriman và người Phụ-tá là
Prescott-Bush
[ông nội của T.Thống thứ 43]
Sau một thời gian ngắn làm việc tại văn
pḥng luật-sư, ông chuyển qua làm việc
tại Stockholm, Thụy-Điển
(năm 1951-1953)
rồi th́ chuyển qua Rome
(năm 1953-1958)
như là một viên chức tầm thường lo về
dịch vụ nước ngoài trong toà Đại-sứ. Nơi
đây ông t́m cách giúp đỡ để Cộng-Sản
không thắng nổi các phe nhóm Chính-trị
thân hữu với số tiền chi tiêu lên tới
hằng trăm triệu đôla; tiền ở đâu? Colby
là người điều hành chỉ thị từ Đảng
đại-ca Skull and Bones cho Đệ-tử Mafia
tại Âu-Châu thi hành những mật kế chuyên
về ám sát. Đó cũng là nguyên nhân xét
đoán sai lầm cho là Colby giết Kennedy
khi báo chí tiết lộ Mafia giết?
Năm 1959-1964, Colby được bổ nhiệm làm
Trưởng CIA tại Sàig̣n; Năm 1965-1967
Colby trở nên Giám-Đốc CIA tại vùng
Viển-Đông. Tại nước Indonesia Colby ủng
hộ Phe Nhóm Quân-đội lật đổ Tổng-Thống
Sukarno; CIA ước tính cuộc tắm máu nầy
không khác ǵ người Đức Quốc-Xă tàn sát
người Do-Thái trong thời kỳ Đệ-nhị
Thế-chiến. Rồi th́ trở lại Nam Việt-Nam,
làm Giám-đốc Kế hoạch Phượng-Hoàng
(Phoenix
Program) năm
1968-1971. Nơi đây ông đă thủ tiêu một
số lớn Việt-Cộng nằm vùng, có nguồn tin
ước lượng cho rằng đến 60,000 VC nằm
vùng đă bị thảm sát, nhưng chính đương
sự cho ra con số đáng tin cậy là 20,587
nhân mạng. Về phía Việt-Cộng th́ cho
rằng khoảng 40,000 VC hạ tầng cơ sở đă
bị giết. Dường như Colby đi đến đâu đều
gieo rắc chém giết tang-tóc cho đất nước
mà ông đặt chân bước xuống. Đứa con gái
của Colby, cô Catherine rất đau khổ khi
biết cha ḿnh đă tàn sát nhân dân
Miền-Nam một cách vô cùng dă-man qua sự
suy đoán của các đồng-nghiệp với Colby.
Nàng Catherine được phép mầu đánh động
phải ngăn cản bàn tay vấy máu của cha
nàng nhưng đành ôm nỗi thất vọng v́
không lay động được sự cương quyết của
người cha. Catherine đă đau khổ, cơn
bệnh hành hạ đau-đớn v́ những oan-hồn
quanh-quẩn trong óc cô. Và rồi nàng
Catherine đă tắt thở vào tháng
April/1973.
Ngày 4 September 1973, Tổng-Thống
Richard Nixon bổ nhiệm ông làm Giám-Đốc
CIA. Khi Quốc-hội Hoa-Kỳ được biết về kế
hoạch Phượng Hoàng
(phoenix program)
đă
lên án “Đây là một tội ác đối với
nhân loại”, sau một loạt điều
tra về những hành động lạm dụng quyền
hạn quá đáng, như ám-sát, thủ-tiêu,
hành-hạ con người. Năm 1975, Quốc-hội
lưởng viện đ̣i hỏi Colby phải ra điều
trần những việc làm bất xứng vừa qua
(ư đồ của
W.A.Harriman muốn đưa đứa con của người
Phụ-tá của ḿnh là George H.W.Bush vào
thay thế Colby cho kế hoặch giải thế chế
độ Cộng sản và đồng thời che kín vụ tai
tiếng Watergate mà Quốc hội đang đặt
nhiều nghi-vấn cho Richard Helms).
William.Colby buộc phải tŕnh bày cho
Hội-đồng Thượng Nghị-Sĩ
(the senate committee)
cũng lại do Chủ-tịch Frank Church chủ
toạ, (ông nầy
là một nhân vật tạo dựng tu chánh án
“Cooper-Church” 1970, rồi “Case Church”
1973; nói tắc, ông nầy là ch́a khóa của
chính sách Hoa Kỳ)
thuộc
đảng Dân-Chủ, Idaho với đầy đủ chi tiết
của các hoạt động vừa qua nhắm vào các
nước Nam Mỹ. Nhưng làm sao ai biết được
George H W Bush muốn giữ chức vụ Trung
ương T́nh Báo CIA để tiếp nối con đường
chiến lược toàn cầu của người tiền nhiệm
W A Harriman đă vạch sẳn là đánh gục
Liên Xô theo thế chiến lược Eurasian.
Sau khi bị lưởng viện Quốc-hội công kích
phê b́nh, tinh thần nhân viên CIA có bị
giao động; bị công kích tội ác về chiến
tranh VN, báo chí
(được bí-mật thuê mướn để khũng bố
hành pháp)
nổi lên b́nh phẩm Cơ-quan CIA và tham
vọng quyền hạn quá đáng của nhân viên
điều hành. Hội Nhà Thờ United Methodist
Church họp, các Đại-biểu tại Atlanta,
lên án đây là hành-động ‘tội-ác chống
lại nhân loại!’.Cánh Trái đă không ưa mà
Cánh Phải như Barry Goldwater, có tiếng
là bảo thủ cũng không mấy ǵ ưa thích
hành động của CIA qua quyền Giám-Đốc
trách nhiệm của Colby. Để đi đến kết
luận, Quốc hội buộc tội Colby đă làm hư
hỏng chính sách Quốc-Gia. Ngày 30/Jan/
1976, Tổng-Thống Gerald Ford phải cách
chức Colby và thay vào bằng ông George
H.W Bush. Coi như sự nghiệp t́nh báo của
Colby đă tiêu tan từ giờ phút nầy.
(Có ai mà biết
được Geoge H.W.Bush, thế hệ thứ 2, là
người nối ngôi triều đại W.A Harriman từ
1969, và thể theo lời yêu cầu của Donald
Rumsfeld và Dich Cheney khuyên bằng mọi
giá, Bush-Cha phải nắm cho bằng được
CIA, đễ bảo vệ Richard Helms về vụ
Watergate. Liền sau đó Rumsfeld gởi
phiều tŕnh cho TT Ford July, 10, 1975).
Colby bị buộc nhiều tội, như âm mưu ám
sát Fidel Castro, tắm máu tại Indonesia,
xâm phạm quyền công dân mà không phải
trách nhiệm của CIA, trắc nghiệm vi sinh
học vào cơ thể người dân
(biological tests)
vi phạm điều khoản đă ấn định cho CIA,
ám hại những người vô tội trong chiến
dịch Phượng-Hoàng tại VN năm 1968…nhưng
bề trái là gây câm thù giữa MTGPMN để
sau nầy không thể hợp lại với VNCH mà
chống lại Hà Nội, cũng giống y chang khi
quân đội Mỹ, xúi phe phái chống đối, cho
rằng sẽ lật đổ Saddam Hussein, nhưng
quân Mỹ tới biên giới là rút về mục đích
gây câm thù giữa Sunny và Shite để sau
nầy, lần thứ hai tha hồ mà tiêu diệt
nhau, để rồi Mỹ lại rút về thi hành
chiến lược Malthus “tàn phá rồi xây dựng
lại” y chang như VN.
Những oan hồn đi theo trù ẻo kể từ khi
đứa con gái Catherine chết, rồi mất chức
Giám-Đốc CIA, rồi bị Tổng-Thống Ronald
Reagan (nhưng
sự thật là do chính Phó TT Bush rất am
tường về t́nh báo)
đưa ra toà năm 1982, v́ lư do tiết lộ
tài liệu cơ mật Quốc-gia
(unauthorized
disclosure),
dù rằng xuất bản bằng tiếng Pháp, những
ghi nhớ của ông về nổ lực t́m kiếm những
mật hiệu của chiếc tàu lặn Liên-Xô bị
ch́m sâu dưới đáy biển. Để khỏi ra toà
Colby đành chịu phạt 10,000 dollar, Bush
rất lo sợ Colby là người biết quá nhiều
phăi thanh toán thôi!
Năm 1984, Colby thử đổi Bà vợ mới coi có
hên được chút nào không! Colby ly-dị Bà
vợ thứ Nhất và cưới liền bà vợ thứ Hai
là một cựu nữ chính khách, Sally
Shelton; Cuộc đời của Colby đă gây ra
quá nhiều sóng gió và chết chóc cho nên
cuối đời Ông không tránh khỏi tai-ương.
Vào một ngày trong mùa Xuân năm 1996,
Colby một ḿnh đi xuống bờ sông nơi căn
nhà nghĩ mát cuối tuần ở Rock Point,
Maryland và phóng canoe trên gịng nước
quen thuộc, nhưng có ai biết đâu, đây là
lần xuất hiện cuối cùng của con người
gây nhiều oan-nghiệt. Đến khi thân xác
ông được t́m thấy th́ muôn ngàn nghi vấn
chung-quanh cái chết quái lạ của ông;
Tang-lể cho Vị cựu Giám-Đốc CIA được
trọng thể thi hành theo nghi thức
danh-dự của Quân-đội tại nghĩa trang
Arlington. Sau nghi lễ riêng tư của gia
đ́nh và bạn bè. Một hủ đựng tro hơa-táng
của Colby được xe ngựa chuyễn đi chậm
chạm đến một nơi an nghĩ cuối cùng, giữa
nhiều mộ đá hoa và hàng cây thông cao
vi-vút. Tiểu-đội danh-dự tiển đưa qua 21
phát súng chào vĩnh-biệt và lá cờ Hoa-Kỳ
được gói trọn giao cho người quá phụ,
Sally Shelton-Colby. (ông hưởng thọ 76,
mất tích 27/April trong khi rong rủi
trên gịng Sông Rock Point, Maryland.
Xác Colby được t́m ra 8 ngày sau đó).
Sau đây những lời tường tŕnh qua báo
chí thời đó:
Cựu Giám-Đốc CIA thích mọi người thân
đừng gọi ông là Mr, Colby mà nên gọi ông
là Bill cho có vẻ thân mật; Theo những
nguồn tin của hàng xóm; Vào ngày April
24, trước 4 ngày ông bị ngă và ch́m sâu
dưới nước trong lúc ông đang chạy thuyền
về phía Nam của Maryland; Ngày hôm ấy
người anh cả nhà nghề điệp viên Colby,
hiện ra với vẽ mặt đầy trẻ-trung sáng
chói so với tuổi đời đă 76, người ta
mường tượng ra ngay một biệt kích nhảy
dù với chuổi dài hiên ngang trong ngành
t́nh báo gián-điệp, xông pha sau lưng
pḥng tuyến Đức vào thời kỳ Đệ II thế
chiến và vừa qua trong trận chiến
Việt-Nam cùng với cuộc chiến tranh lạnh,
ông đă tỏ ra hăng say quá độ, giữ măi
trong tâm-tưởng “Tổ-Quốc, Danh-dự, và
Trách-nhiệm”.
Dù rằng bị chê trách thậm tệ trong
chương tŕnh Phượng-Hoàng ở VN, nhưng
Ông vẫn giữ lập trường chống CS và giúp
đở nhân dân Miền-Nam loại trừ cơ sở hạ
tầng VC nằm vùng. Ông cho rằng đây là
một thành công nhất… như nếu chúng ta có
một tổ chức ám-sát như Mafia chẳng hạn
lẩn lộn trong dân chúng, dĩ- nhiên chúng
ta sẽ t́m ra ngay ai là bạn, ai là thù.
Đó là nhiệm vụ cơ bản của t́nh báo CIA,
xác định, phân loại ai Xanh, ai Đỏ hay
là Xanh trộn với Đỏ bầm; để rồi túm cổ,
thủ tiêu, ám sát hay bắn chết dọc đường,
v́ chúng ta ở trong thời buổi chiến
tranh nơi đó. Nơi đây ông đích thân điều
hành, chỉ khác ở Âu-Châu là ông phải
gián tiếp qua sự móc nối với Mafia; hay
nói cách khác, những hành động bạo hành
kể trên là để giúp Miền-Nam b́nh định.
Ông vẫn bảo-thủ chiến thuật ám sát, bắt
cóc để cho người dân không c̣n sợ mối đe
dọa khi cần phải khuyến khích họ bảo vệ
Làng-Ấp hơn là VC đi đến đâu là trốn
chạy đi nơi khác, hoặc chính mắt nh́n
thấy họ tấn công vô tội vạ vào Làng-Xă!
“Chúng ta tạm thời đem họ ra vùng
an-toàn, xong rồi lại đem họ vào trở về
Làng-Xă cũ của họ; Rồi bảo vệ, cho họ ít
khí giới để tự vệ, xây dựng lại Làng-Xă,
cầu đường hoặc đào những kinh dẩn thủy
nhập điền hay bất cứ ǵ ǵ miển họ căm
thấy sung-sướng và hạnh-phúc. Thế mới
gọi là Ấp-Chiến-Lược chớ!
(Chánh phủ Diệm đâu có
lấy sắc máu nhưng vẫn thành công) !
Có những nguyên cớ mà người dân vẩn nghi
ngờ rằng CIA có dính líu trong vụ ám sát
TT Kennedy và cũng theo nhiều nguồn tin
có dẫn chứng, Woodward, phóng viên
Washington Post, lần đầu gặp ‘Deep
Throat’ vài giờ có nghĩa là với Colby,
có nhiều nguồn tin dẫn chứng có nhiều
cuộc họp mật dưới hầm của Parking. V́
thế sự mất tích của Colby đem đến nhiều
huyền thoại mà người đời thích bàn luận.
Khi Colby bất chợt mất tích trên một phụ
lưu Sông Potamac, tới những 9 ngày sau
mới t́m được xác. Có điều hơi lạ là
Colby bị cơn đau tim bất-thần nhưng
không chịu ngă xuống ngay trong Canoe mà
lại nhảy tủm ra ngoài sông để chết đuối.
V́ thế một viễn tượng cho thấy rằng sự
đánh giá của Woodward đă cho người đời
một nghi vấn có giá trị, Colby là
‘Deep-Throat’!? Bà quả phụ Sally
Shelton-Colby, một viên chức cao cấp
trong cơ quan phát triển Quốc-Tế
(International
Development)
cho rằng:
“thật
là hàm hồ cho chồng tôi là đầu mối chính
trong vụ Watergate…chồng tôi không phải
là ‘Deep Troat’ Anh không bao giờ là như
vậy!”
Xung quanh cái chết của Colby mà cũng có
nhiều nguồn tin trái ngược
(có một điều chúng ta
nên ghi nhận trong chiến tranh VN, Colby
không ưa việc làm điệp-viên OSS 19
Conein, có nghĩa Conein là người của
Geoge H W Bush).
-Nguồn tin thứ 1: Vào thứ hai, May/6,
xác Colby được t́m thấy chỉ chưa đầy 20
yards từ chỗ phát hiện chiếc canoe của
ông ở vào một vùng mà t́m kiếm qua lại
nhiều lần bằng Trực-thăng và các Toán
sục sạo ở dưới đất. Điều đáng ghi nhận
là xác chết của Ông không có mang phao;
Nhưng theo lời Bà vợ th́ Colby luôn-luôn
mang phao khi xuống nước. Một người b́nh
thường cũng phải đặt ra nghi vấn
-Cuộc giải phẩu để khám nghiệm ngày
11/May cho thấy rằng: Colby bị chết đuối
v́ ngạt thở, dường như bị ngă xuống nước
khi cơn stroke bộc phát. Khám nghiệm y
khoa cho biết ngày thứ Friday là như vậy
-Xác Colby được t́m thấy ngày Monday,
sau 8 ngày t́m kiếm gồm trực-thăng,
thợ-lặn, chó săn, trang cụ Sonar, Colby
mất tích ngày 27/April trong khi vui
chơi trên canoe một ḿnh trên gịng Sông
thuộc hướng Nam của Maryland, khi phát
hiện ra xác của Colby trong vị thế mặt
úp xuống trên một vùng đầm lầy, cạnh bờ
Sông. Phẩu thuật khám nghiệm cho thấy,
Colby bị một cơn bạo phát sơ cứng mạch
máu (hardening
of the arteries)
Trưởng y
khoa John Smialek nói như vậy.
-Cái chết đột biến và bất ngờ không b́nh
thường, bởi v́ Colby đă bị stroke trước
khi rơi xuống sông
(tại sao không rơi
trong ḷng canoe mà phải cḥi ra ngoài
để rơi xuống sông?)
Cuộc khám nghiệm đi đến kết luận: chết
đuối và bị đông máu, đó là nguyên nhân
cái chết của Ông. Lời kết giải của
Jeannette A. Duerr, phát ngôn viên của
Bộ Y-Tế và vệ-sinh của Maryland (cũng
không có ǵ đặc biệt và mới mẻ)
-Phẩu thuật khám nghiệm cho thấy, Colby
đă chết sau khi đă ăn-uống với nồng độ
rượu 0.07 phần trăm của rượu (Wine)
Người khám nghiệm cho biết: không t́m
thấy ǵ gọi là Drug trong cơ phận của
Colby.
Người xưa thường nói: “ác lai ác báo”
Colby đă gieo rắc biết bao cảnh chết “bí
mật như vậy” th́ bây giờ đến phiên Colby
phải lănh. Nếu phải là nghiệp-quả th́ ăn
cháo vẫn bị găy răng!
Ai biết CSBV và
CIA hơn Ẫn chứ?
V́ sao
William Colby một điệp viên tài ba
lổi-lạc của Thế-chiến-2 mà phải chịu
thân bại danh liệt trong cuộc chiến bí
mật tại Việt Nam? Thoát thai từ “Diệu-kế
Eurasian”
(Eurasian Great Game)
từ 1920
đến 2020, trong đó có cuộc chiến tại
Việt Nam 1945-1975 như cái chiến lược mà
bản chất của ngành phản-gián, điệp viên
đào luyện phải được nổi tiếng nhứt,
thành công nhứt trong công việc bảo mật
công tác và bảo toàn bản thân. Tôi muốn
nói “Tam trùng” Phạm Xuân Ẩn, một
Cán bộ CS mà Mai Chí Thọ đặt hoàn toàn
tin tưởng nhưng Thọ không biết ǵ về
hành động của Ẩn đă bị Phản gián Mỹ khai
thác một cách tinh-vi.
Phạm Xuân
Ẩn, thông tín viên Việt Tấn Xả VNCH và
Reuter là Đại-tá T́nh báo CSBV, Ẩn sanh
11/9/1927 tại làng B́nh Trước tỉnh Đồng
Nai, nhưng hồi nhỏ Ẩn thường sống ở
Rạch-giá. Thời c̣n đi học, Ẩn tham gia
phong trào Việt Minh, bỏ học ở Cần thơ
khi chưa hết cấp-ba v́ hăn say biểu t́nh
mít tinh hơn học. Ẩn gia nhập đảng
Cộng-sản VN tháng 2/1953, được
Lê-Đức-Thọ đặt vào ống kính và bổ nhiệm
Bác sỉ Phạm Ngọc-Thạch người chỉ huy
trực tiếp Ẩn về công tác t́nh báo ở
Củ-chi trong các cơ sở của Hăng Caltex,
Thuế-vụ Pháp và được mật lệnh phải gia
nhập SĐ 25BB của VNCH để đánh lừa sự
nghi ngờ của hành pháp miền Nam. Anh họ
của Ẩn là Phạm Xuân Giai, Đại úy VNCH,
học ở Fort Bragg, Kansas, Cha Ẩn chết
trên tay Ẩn ngày 24/9/1957 ở tuổi 57
khiến Ẩn phải xin dời chuyến đi Mỹ học
báo chí theo lệnh Đảng. Nhưng Mai Chí
Thọ đă ra lệnh cho Ẩn phải đi và trấn an
rằng việc mai táng do Đảng lo liệu tất
cả. Thọ vẩn luôn luôn nh́n nhận Ẩn là
điệp-viên trung thành duy nhứt:
"Tôi
gởi đi Mỹ v́ Ẩn nói tiếng Anh giỏi hơn
tất cả đồng chí khác và là người đáng
tin cậy nhứt”.
Trong
thời gian đang học ở Mỹ, em ruột của Ẩn
bị bắt trong chiến dịch tảo thanh Việt
Cộng thời chính phủ Diệm khiến Ẩn hoảng
sợ phải học thêm tiếng Mễ Spanish định
trốn qua Cuba hay Nam Mỹ nếu bị lộ tông
tích. Điều đọc giả đáng chú ư, Ẩn qua Mỹ
ngày 16/8/1957 học báo chí tại Orange
Coast College ở California từ tháng
4/1958 dưới sự bảo trợ do một người bạn
của điệp-viên 19 Lucien Conein tên là
Brandes (trong
cái Cơ-quan mà “Gịi” trong bụng chui ra
vô cùng bí mật, làm sao TT Diệm hiểu
được qua sự đề nghị của ân-nhân Đại-tá
Landsdale).
Chính phủ Diệm đă tin tưởng thành lập
cái ung nhọt có tên “Sở nghiên cứu
Chính trị và Xả hội”
(Office of Political
and Social Studies)
do ông Mc Carthy làm Trưởng cơ quan
mật-vụ nầy, cái ổ phá hoại nội t́nh Miền
Nam. Landsdale lại tuân thượng lệnh, đề
nghị thành lập thêm cơ quan mật-vụ xâm
nhập Miền Bắc, trách nhiệm đưa gián-điệp
ra hoạt động tại vùng rừng núi Miền Bắc
với cái tên “Sở liên lạc Phủ Tổng
thống” do Đại tá Roger là người đầu
tiên được cử làm Cố vấn cái ổ ung nhọt
nầy: sở Phản t́nh báo hoạt động bí mật
của cả hai Miền Bắc Nam. Làm sao TT Diệm
không tin Hoa kỳ qua Lansdale và Đại sứ
Reinhard về việc giúp đở Cụ Diệm trong
buổi dầu sôi lửa bỏng, để đối chọi với
Đảng Lao-động của HCM qua tổ chức Cần
Lao Nhân vị Cách mạng Đảng theo kiểu
Trung Hoa Quốc gia mà CIA có công di tản
Thống chế Trưởng Giới Thạch cũng như
thuộc cấp ra đảo Đài-loan 1949 với mưu
đồ sẽ xảy ra cuộc chiến tàn khốc về
“ư-thức-hệ.” rồi thành lập Thanh niên
Thanh nử Cộng ḥa đối chọi với Thanh
niên Cộng sản HCM làm chổ dựa chính trị.
Qua những diễn tiến mà tôi cho Phạm Xuân
Ẩn là “Tam-trùng” kể trên để chứng minh
qua con trai của Ẩn là Phạm Xuân Hoàng
Ẩn đă học báo chí ở Chapel Hill, NC và
Luật ở Duke củng như con cháu của Tướng
Vỏ-Nguyên-Giáp
[thành-viên OSS 1943]
sau nầy ở California.
Về nước tháng 9/1959 đúng vào lúc mà
trục Ma Quỷ khai diển tṛ chơi chiến
tranh CIP/NLF, trong chiến dịch càn-quét
VC của TT Diệm đang diển ra ráo-riết
(v́ HCM rút về
Bắc 100.000 quân từ 1957, Cụ bỏ ư định
gây thêm tan tóc cho dân Việt)
[đọc
Stanley Karnow “VN Viking, NY, 1983,
trang 225]
HCM hy vọng
“Miền Nam độc lập, trung lập và giàu
mạnh”).
Phạm Xuân
Ẩn thấy nhiều đồng chí Ẩn bị bắt, trong
đó có Mười Hương, Ba quốc tức Thiếu
tướng Đặng Trần Đức trong cụm gián điệp
H-67 bị lộ do một nử giao-liên bị bắt
trên xe đ̣ Củ chi, trong xách có tài
liệu. Ẩn cầu cứu với Bác sỉ Trần Kim
Tuyến dĩ nhiên có sự hổ trợ mạnh mẻ của
Phản t́nh báo Mỹ qua điệp viên Russell
Miller, George Carver và nhứt là
điệp-viên 19 Lucien Conein, liền sau đó
Ẩn được mật lệnh của Mai Chi Thọ hầu che
mắt Mỹ đổi đi làm việc tại Việt Tấn Xả
với Nguyển Thái làm cho Reuters.
Tháng
8/1964 Ẩn rời Reuters để làm cho tờ NY
Herald Tribune với Berverly Deepe, người
đă bảo trợ cho gia đ́nh Ẩn sang Mỹ sau
30/4/1975. Ẩn thường ra khỏi nhà để đi
thăm ḍ các tin đồn, ít nhứt là dăm ba
nơi vào mổi buổi sáng trước khi về văn
pḥng của báo Time ở khách sạn Givral
làm việc. Sau bửa cơm trưa Ẩn mới đến
văn pḥng báo chí Mỹ-Việt để báo cáo, Ẩn
khôn khéo tránh né không cho đăng các
tin vịt không căn cứ để giữ uy tín riêng
cá nhân và tờ báo Time: Chẳng hạn tin
nội bộ MTGPMN đảo chánh ở Sông Bé lật đổ
Huỳnh Tấn Phát để đưa Đinh Xáng lên thay
thế. Kư giả Jean Claude Pomonti và báo
Le Monde của ông ta đă mất uy tín v́ đă
vội đăng tin giật gân nầy! Ẩn cương
quyết không cho đăng bất kể sự phản đối
của hầu hết các đồng nghiệp và của chính
báo Time, v́ Đinh Xáng đả bị mật vụ Mă
Thành Tâm VNCH bắt ngay sau khi từ Pháp
về trên chặn đường Công Lư
(ai biết CSBV và CIA
hơn Ẩn chứ? Có thể tin giờ chót Bộ chính
trị, Lê Đức Thọ không muốn xáo trộn
trong nội bộ MTGPMN)
Và cũng nhờ thế mà uy tín Ẩn và báo Time
ngày càng tăng.
Phản t́nh
báo Mỹ c̣n cho Ẩn biết như hàm ư nói lên
Hà Nội hiểu rằng:
“Nam Việt Nam như cái xác khô sau khi Mỹ
rút!”
v́ sợ Hà Nội nửa đường bỏ cuộc. Sau một
thời gian thử thách, Đảng-viên Ẩn bắt
đầu gởi các báo cáo cho Cục T́nh báo
CSBV về các hoạt động của chính phủ Diệm,
người được báo Life, TT Eisenhower, và
TT Kennedy đề cao là nhà lảnh đạo xuất
sắc nhứt Á-châu. Ngoài ra c̣n đủ các tin
tức chi tiết khác về Quốc sách Ấp chiến
lược, B́nh định Nông thôn, Chiến thuật
trực thăng và thiết xa vận, chính sách
Chiêu hồi, chiến thuật Tam giác kế chống
phi cơ oanh kích…quư giá đến nổi Mai Chí
Thọ có lần tiết lộ:
“Có bỏ
ra hàng tỷ đôla chúng tôi cũng không mua
được các tài liệu ấy”.
Trong thời gian nầy, Phạm Ngọc Thảo đă
được Bộ Chính Trị cho lệnh gài vào quân
đội Miền Nam để làm đảo chánh gây suy
yếu cho các chính phủ hậu Đệ-1 Cộng Ḥa.
Thảo đă được Mỹ đào tạo qua khóa tham
mưu tại Kansas rồi lên tới cấp Đại tá,
từng chỉ huy Địa phương quân ở tỉnh Vỉnh-Long
và B́nh Dương rồi làm Tỉnh trưởng
Bến-Tre, hang ổ của MTGP. Qua mật khẩu
từ Phản t́nh báo CIA, Bác-sỉ Trần Kim-Tuyến
có được thành tích cứu nhiều cán bộ Việt
Cộng thời Đệ-1 Cộng Ḥa nên sau cuộc đảo
chánh 1963 chính Thảo cũng qua Phản t́nh
báo CIA cứu Bác sỉ Tuyến ra khỏi nhà tù
Đệ-2 Cộng Ḥa khi Tuyến từ Hồng Kông về
nước, sau khi bị giam cầm hai tháng
trong xà-lim, Tuyến bị bỏ đói, tra-tấn
v́ cung cấp nhiều tin tức t́nh báo quan
trọng cho Ẩn, Tuyến sống trần truồng với
chuột bọ, dù rằng được CIA cứu Tuyến và
đưa đi tỵ nạn tại Cairo như một
‘bưu-kiện ngoại-giao’. Sau khi chu toàn
việc giải cứu Tuyến, con bài Phạm Ngọc
Thảo đă lộ tẩy nên CIA, ngành phản gián
cho lệnh thủ tiêu Thảo ngày 17/7/1965
bằng cách dùng giây da xiết cổ và ngọc
hành của Thảo cho đến chết tốt trong lúc
ông bị bắn trọng thương.
Cuối năm
1967, Bộ Chính Trị CSBV cử Thiếu tá Tư
Cang vào Saigon chỉ huy Cụm t́nh báo
H-63 của Phạm Xuân Ẩn để chuẩn bị cho
trận Mậu Thân 1968. Trước trận đánh cũng
như trận Ấp Bắc, Ẩn là điệp viên duy
nhứt báo cáo đúng t́nh h́nh chính trị ở
Mỹ và đoán chắc quân Mỹ sẽ rút
(theo như định-đề-3)
Ẩn cũng đă từng gởi thuốc trụ sinh và
thuốc trị lao phổi vào Côn-Sơn cho các
Tù binh VC qua Bà Jolynne D’ornano, giáo
sư Anh văn người Mỹ chồng Pháp định cư
thường trú tại Saigon.
Lucien Conein đă cho Ẩn biết là sẽ
Mỹ-hóa cuộc chiến tranh ngay sau khi 2
Tiểu đoàn TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng
28/7/1965, từ con số 3.500 sau lên đến
hơn nửa triệu quân Mỹ đă không làm Ẩn lo
ngại khi Ẩn báo cáo: Mỷ sai lầm lớn
[với chủ mưu]
v́ cố ư không đào tạo thế hệ lảnh đạo
mới ở Nam VN (nhưng
sự thật Skull and Bones sẽ giúp Hà-Nội
xóa bỏ miền Nam)
và đó là đoán chắc của George Ball người
thay thế Harriman ở Hiệp định Paris.
Cái
chuyên quyền tuyệt đối của Skull and
Bones khi cần phải hù dọa buộc phải rút
lui của những nhân vật mà họ cảm thấy
quyền lợi bị đe-dọa, như TT Johnson
không dám tái ứng cử kỳ hai, Nixon phải
từ chức v́ Watergate dù theo hiến pháp
ông có quyền đặc ân-xá cho chính ḿnh
khi lầm lổi, nhưng bị áp lực của Skull
and Bones nên buộc phải từ chức, thí dụ
Thái-tử George W Bush dưới 35% ủng hộ
của người dân nhưng ông vẩn ngồi ĺ th́
có sao đâu? Tổng thống Bush-Con đặc biệt
trong lịch sử, được trúng cử mà phải đợi
tới 36 ngày sau mới được Tối Cao pháp
viện chính thức cho là được đắc cử. Điều
khá đặc biệt khi Robert Kennedy bị ám
sát cũng y chang như người anh
[TT Kennedy].
TT
Johnson buộc phải quyết định không ra
tranh cử, Đệ nhứt phu nhân v́ quá sợ hăi
nên Lady Bird Johnson, Claudia Altar
Taylor đă đ̣i ông phải ghi thêm câu “và
tôi không nhận sự đề cử..” Nói
theo luật giang hồ th́ khi bộ tam-sên:
TT Kennedy, Robert Kennedy, và Phó TT
Johnson muốn lôi cái bọn Skull and Bones
ra toà về tội làm ăn với kẻ thù bằng
“Trading with the-Enemy Act of December
1941” muốn lập lại hiến-quyền hồi
1943 TT Roosevelt ra lệnh đóng cửa và
tịch thu tài sản cũa bọn làm ăn với kẻ
thù Đức quốc xă, trong đó có
Ngân
hàng Union Banking Corporation, công ty
Hamburg-Amerika Line,, American Ship and
Commerce Corporation, the
Holland-American Trading Corporation và
The Seamless Steel Equipment
Corporation.
Dỉ nhiên v́ sự sống c̣n của loại Ma Đầu
lâu và Xương người nầy, nên họ lại tái
diển cái tṛ ám sát các nhân vật chính
trị ở Tây âu sau thế chiến-2 bằng bàn
tay Mafia. Thôi th́ Bố-già của Mafia rút
kinh nghiệm từ những ngày xa xưa ấy nay
dùng lại Mafia thanh toán theo luật gian
hồ để tồn tại chớ không c̣n phương pháp
nào hơn và khỏi mang tiếng trong nước.
Các huy chương Ẩn nhận của Đảng sau nầy
do thành tích t́nh báo của Ẩn
(dĩ nhiên là nhờ nhánh
phản gián của điệp-viên 19, Lucien
Conein)
khiến VC thắng lớn ở các trận đánh, bắt
đầu từ trận Ấp Bắc; sau trận đánh, chính
Ẩn đă đến tận chiến trường quan sát giữa
thanh thiên bạch nhựt bằng máy bay trực
thăng cùng với các đồng nghiệp như
Nguyễn Ngọc Rau UPI, Vỏ Huỳnh NBC, Hà
thúc Cần CBS. Nhờ uy tín, Ẩn được
Landsdale đề nghị đi học khóa t́nh báo
Mỹ nhưng Mười Hương đả không cho Ẩn đi
và không muốn cho Mai Chí Thọ nghi ngờ
nên Nhóm phản t́nh báo Conein cho êm
luôn, v́ sợ phía bên kia biết Tam trùng
Ẩn trái lệnh Đảng th́ nguy cho đại-sự.
Tin t́nh
báo của Ẩn chính xác đến độ Vỏ Nguyên
Giáp đả thốt lên:
“Chúng
ta nay đang ngồi trong pḥng hành quân
của Tướng Haig!”
(Pomonti, trang
19)
lấy một thí dụ trong cuộc chiến Lam Sơn
719, hỏa lực Pháo binh của Mỹ từ bên kia
biên giới bắn qua Lào gồm: 18 khẩu
155ly, 16 khẩu 175ly, và 8 khẩu 8 inch
Howitzers; Trực thăng: 53 chiếc
Chinooks, 600 UH-1, không có Cố vấn Mỹ
đi theo… V́ thế Tướng Giáp đă tuyên bố:
“Nếu
quân lực VNCH tiến chiếm được Tchepone
[Căn-cứ
604]
xem như toàn thắng quân lực của ông!”
đây là
cái bẩy mà Tướng Giáp đả giăng ra cho
QLVNCH qua thông báo của Phản t́nh báo
CIA. V́ thế mà Tướng Giáp không đánh
trận gần [Khe-Sanh]
mà đánh
trận xa!
Nhưng có một điều mà cả hai Miền Nam Bắc
đều không hiểu là cái ḷ sát sanh 604
dành cho hai chủ lực mạnh nhứt phải bị
tiêu diệt tại đây bằng B-52 trải thảm,
sau khi hai đối lực đánh xáp là cà vùi
dập lẩn nhau. Nhưng đối với Nhóm tham
mưu th́ xem như đây là một thủ-đoạn tiết
kiệm sinh mạng cũng như hai trái Bom
nguyên tử thả trên lảnh thổ Nhựt, để khi
thực thi định đề-1 bàn-giao Miền Nam cho
Hà-Nội sẽ chỉ bị rỉ máu thay v́ tắm-máu!
Và Saigon không thành đống gạch vụn!
Một nhà
báo đội lốt phản t́nh báo CIA vô cùng
lợi hại hơn cả Francois Sully là Robert
Shaplen, ông làm việc trá h́nh trong tờ
New Yorker ngụ ở pḥng 407 khách sạn
Continental, những tin tức chính xác từ
Toà Đại sứ Mỹ đều được Shaplen đúc kết
giao cho Tam-trùng Ẩn. Chính Shaplen đả
cứu Đặng Đức Khôi ra khỏi bàn tay của Cụ
Nhu sau khi cựu phát ngôn viên báo chí
của TT Diệm là Khôi phản chủ khai báo
tin tức cho CIA, Shaplen đả đem Khôi về
ẩn trú tại New York. Shaplen là một
phóng viên khá lâu của New Yorker về
Châu-Á cũng như Francois Sully, ông đă
viết 6 cuốn sách về Việt Nam nhưng với
nội dung theo định-kiến của Skull and
Bones tài trợ là nói xấu chính quyền
miền Nam và chỉ trích chính quyền Mỹ.
Tin trên tờ New Yorker ngày 2/3/1968 rất
chính xác v́ do Ẩn cung cấp để đưa tin
cho VC cùng phối hợp hành quân. Ẩn toan
tính sẽ đưa vợ con vào nhà của viên chức
CIA Marcus Huss xin tỵ nạn nếu bị bại lộ
v́ Ẩn biết Tướng Loan sẽ không tha cho
Ẩn như đă không tha cho Bảy Lốp trong
bức ảnh nỗi tiếng của Eddie Adams! V́
phản t́nh báo Mỹ rất cần Ẩn
(Bức ảnh nầy sẽ có tác
dụng với ư đồ để Quốc hội Mỹ sẽ khước từ
viện trợ cho VNCH sau nầy)
Chả bù cho trận Mùa Hè đỏ lửa mà Mỹ gọi
là Easter Offense, với hàm ư CSBV từ
phía Tây đường Ṃn Hồ tấn công mũi dùi
ra hướng Đông vùng đông dân.
Kỳ nầy Ẩn mất điểm rất nhiều v́ không
biết ư định của Mỹ là chiến dịch dội bom
Linebacker là tàn sát chớ không phải như
trước là Rolling Thunder, chỉ nghe tiếng
sấm rền cho vui tai. Kết quả 100.000
quân CSBV phải bị B-52 trải thăm, v́ sự
thiệt hại nầy nên Tướng Vỏ Nguyên Giáp
đành phải từ nhiệm, CSBV chưa thể chiếm
miền Nam sớm hơn theo lộ tŕnh mà phải
là thời gian coi cho được
(theo kiểu nói của Kissinger)
nhưng sự thật phăi là 1975, để đúng 20
năm sau lập bang giao 1995.
Phản t́nh
báo Mỹ rất cần lấy lại sự tín cậy của Bộ
Chính Trị CSVN cho Tam-trùng Ẩn, thúc Ẩn
nên đề nghị với PVĐ mời cho bằng được
kư-giả Arnaud de Borchgrave của tờ
Newsweek đến Hà Nội để công bố lần đầu
tiên nội dung Hiệp định Paris
[theo ngầm ư cũa Tham
mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld]
dự
trù sẽ kư ngày 30/10/1972
(đăng trên số báo ngày 23/101972)
với ư đồ sẽ tôn trọng để TT Nixon và
Kissinger không thể lật lọng, kéo dài
hay bao che cho TT Thiệu được.
V́ Bộ
Chính trị CSBV rất thắc mắc: Liệu Mỹ có
can thiệp quân sự sau HĐ Paris không?
Các Tư lệnh B cùng Tướng Trần Văn Trà
được triệu tập về Hà-Nội họp qua ngă
đường Xa lộ Harriman an-toàn trong mọi
thời tiết vào 2 ngày: 18/12/1974 và
8/1/1975. Để có câu trả lời, Họ đánh
trận nhỏ từ Phước Long đến trận lớn Buôn
Mê Thuộc, tất cả đều được sự bảo đảm của
Ẳn rằng Mỹ sẽ không can thiệp v́ sau vụ
tai-tiếng Watergate đă buộc TT Nixon từ
chức theo như nguồn tin khá chính xác từ
phía phản gián của Tham mưu trưởng
Donald Rumsfeld. Ẩn c̣n nhấn mạnh bảo
đảm sẽ không có tái diển thảm hại như
Mùa Hè đỏ lửa 1972 cũng như chiến dịch
“Hậu-vệ-2”
(linebacker-2)
của oanh tạc B-52 ngay tại Hà Nội hay
trong Nam.
Chẳng bao
lâu CSBV hết đắn đo về những câu bảo đảm
của Ẩn qua vụ từ chức của TT Nixon ngày
9/8/1974 và Đảng Dân chủ chiếm 291/144
và 61/39 chiếm đa số cả hai viện Quốc
hội. Thế là Phước Long mở màn 13/12/1974
đến 7/1/1975 th́ tràn ngập quân CSBV. Ẩn
đă thố lộ với Larry Berman rằng phía Hà
Nội thoạt đầu nghi ngờ: “Tôi
đả bảo họ (CSBV)
là
Mỹ sẽ không bao giờ tái can thiệp quân
sự vào VN sau HĐ Paris nhưng họ không
tin cứ đánh dọ dẫm cho chắc ăn. Họ chỉ
tin lời Tôi sau trận BMT, Tôi đă đến gặp
Tỉnh trưởng BL, ông bảo: Thiệu từ chối
bảo vệ BL v́ B-52 không bao giờ trở lại!”
Sự thật
làm sao chúng ta hiểu nổi nguyên do
sâu-sa qua Tu chánh án Cooper-Church
1970 buộc Mỹ sẽ rút khỏi Đông Nam Á trở
về Bản doanh Honolulu thành lập PACOM
(To manage the
defeat)
gọi là di tản chiến-lược trong cái thế
“Bênh kẻ mạnh” Phạm Xuân Ẩn nhận huy
chương chiến công bội tinh do công trận
Phước Long ngày 30/11/1974
(nhờ Phản t́nh báo
chiến lược CIA cho tin mà trong suốt
cuộc chiến Ẩn nhận vô số huy chương cao
quư do Bộ chính trị ưu ái tặng).
Ngày 23/4/1975 TT Ford khẳng định
“Mỹ sẽ
không tái tham gia một cuộc chiến đă
chấm dứt”
Mặc dầu hai tướng Văn Tiến Dũng
(hồi kư Đại Thắng Mùa Xuân 1977)
và Trần Văn
Trà với hồi kư Kết Thúc Cuộc
Chiến Tranh 30 năm 1982)
đều tự
nhận chiến công về phần ḿnh, nhưng theo
Ẩn [dĩ nhiên từ
Cơ quan Phản t́nh báo Mỹ]
chính Vỏ Nguyên Giáp mới là tác giả của
trận mùa Xuân 1975 v́ Mỹ cho rằng quá
sớm, cần phải tiêu diệt 100.000 quân chủ
lực BV năm 1972, để theo đúng lộ tŕnh
20 năm thù địch 1975-1995 với VN và 20
năm thù địch với Trung Cộng 1952-1972
(Pomonti, trang 135)
kết quả một sự xoá bỏ thù địch bằng cách
Trung quốc và Việt Nam mua máy bay
Boeing của Mỹ làm quà giao-tiếp.
Trong lúc
hoảng hốt, Ẩn chở Bác sỉ Tuyến đến Toà
Đại sứ Mỹ kịp chuyến trực thăng chót nhờ
nhỏ con chui dưới cổng sắt trong khi Ẩn
nâng cổng lên được vừa đủ cho Tuyến chui
qua, Tuyến sau đó phải lên nóc sân
thượng bằng cầu thang bộ. Tướng Đôn kéo
Tuyến lên máy bay lúc đó vừa đóng cửa và
cất cánh. CSVN phàn nàn Ẩn đă để Bác sỉ
Tuyến trốn thoát mà theo Ẩn là v́ lư do
Tuyến đă thả rất nhiều Cán bộ CS bị bắt.
Ẩn bị hạch hỏi rất nhiều về quan hệ t́nh
bạn với Tuyến, Mai Chi Thọ tin rằng Ẩn
đă được CIA bảo vệ nên Ẩn không bị nghi
ngờ trong lịch sử gián điệp, không điệp
viên nào lại tránh bị lộ lâu đến thế!
Không may mắn nào lại dài đến thế! Cũng
chẳng qua nhờ bộ óc của đỉnh cao trí tuệ
về phản gián! Ai! Di truyền 85 năm của
ḍng họ Harriman và Bushes mà soạn giả
vở bi kịch VN, màn-2, giai đoạn-2 nầy
chính là nhân vật George H.W.Bush!
Sách sử CSBV so sánh Ẩn với điệp viên
Richard Sorge hồi thế chiến-2 nổi tiếng
với báo cáo: “Nhật sẽ không mở mặt
trận Miền Đông” nhưng thiển ư của
tôi là Skull and Bones muốn quân Liên Xô
rảnh tay đánh Đức ở Châu-Âu dưới sự bảo
đảm của Đại sứ Mỹ ở Liên Xô là W.A
Harriman 1943-1946. Ẩn chết ngày
20/9/2006 ở tuổi 79 là Cán bộ CS duy
nhất không thù cá- nhân một viên chức
nào của chế độ VNCH! Sau cái chết của Ẩn
báo chí thế giới nhận định: - Các ṿng
hoa của người nước ngoài phúng điếu Ẩn
có câu: “Gởi
thầy Phạm Xuân Ẩn với ḷng mến mộ sự
thông thái và t́nh bằng hửu của ông,
tri-ân sâu xa sự tham vấn và khích lệ
của ông!”
- Tờ Independent viết: “Ấn
đáng là một trong các gián điệp vĩ đại
nhất của thế kỷ 20”
- Tờ Boston Blobe đặt câu hỏi:
“Liệu
t́nh bạn của Ẩn cũng giả dối và phản
trắc?”
- Cựu Thượng Nghị Sĩ California Ross
Johnson kết tội Ẩn:
“Ẩn
không thể làm vậy mà không chịu trách
nhiệm v́ hàng trăm hàng ngàn cái chết
của người Mỹ… ai nói ông không chịu
trách nhiệm là ngây ngô!”
- Nhưng
Jol Owings, con gái của Mills Brandes
bênh vực Ẩn:
“Không
có ǵ ngạc nhiên rằng Ẩn trước hết trung
thành với đất nước của ḿnh. Liệu chúng
ta không làm tương tự như thế hay sao?”
- Tờ Time viết:
“Ẩn là
thí-dụ điển h́nh của một người rất giỏi
trong xả hội VN”
- Nhưng đối với riêng người viết:
“Ẩn
được Nhóm chiến lược gia trong diệu kế
“Eurasian” tuyển chọn một cách tài t́nh,
như dụng nhân như dụng mọc: Dùng Cụ Diệm
như một đ̣n bẩy bứng gốc thực dân Pháp
ra khỏi Đông Dương, dùng Quốc-Tŕ Cung,
Nguyễn Cao Kỳ như một cái xà-beng để nại
lên những vật nặng, Nguyễn Khánh như một
diễn-viên Hề trong tuồng Hát bội, khi để
râu trên khi cạo râu dưới. Tất cả chỉ v́
phải xóa bỏ Miền Nam để thống nhứt VN
nhưng phải trả một cái giá nào đó cho
nền Tự do Dân chủ mà người dân Việt phải
gánh chịu! V́ Freedom is not for free!
Ẩn là một diển-viên kiệt xuất cần có
trong Màn-2, Á-châu và giai đoạn-2 tại
Ba nước Đông dương – Một Màn phụ diển
trong vở “Bi-kịch Eurasian” quá dài
1920-2020
- Cựu Trung-úy điệp viên tài ba nhứt của
nước Mỹ hồi thế chiến-2, William Colby
phải chịu bó tay dưới Nhóm phản t́nh báo
tài t́nh của George H W Bush. Dù rằng
hai lần Colby muốn chụp Phạm Xuân Ẩn
nhưng bị một siêu thế lực ngăn chận:
Trong phiên họp ngày 31/8/1963 tại Bộ
ngoại giao ở Washington DC, khi biết tin
âm mưu lật đổ TT Diệm thất bại tuần lể
trước, Phó TT Johnson bực tức tuyên bố:
“Chúng ta nên chấm dứt cái tṛ vừa la
làng, vừa ăn cướp!”
và khuyến cáo nên tái lập liên hệ tốt
với chính phủ Diệm để tiến hành cuộc
chiến chống Cộng. Dỉ nhiên lời kêu gọi
nầy rơi vào băi sa mạc v́ Bọn Skull and
Bones bao quanh liên danh Dân chủ
Kennedy/Johnson mà người nắm chính sách
nước Mỹ là những thành viện Hội-đồng
guồng máy chiến tranh WIB
[Averell.Harriman, Prescott Bush và
George H W Bush]
William
Colby người Sỉ quan tự trọng
[Tổ quốc, Danh dự và Trách nhiệm]
phải chiến thắng CS, nên khi nghe Phó TT
Johnson nói như vậy, ông Colby trưởng
nhiệm sở CIA bèn chuyển lệnh qua Đại-sứ
E.Durbrow đến hai nhân viên trực tiếp
bảo trợ cuộc đảo chánh, George Carver,
Russell Miller, toán phản gián của
Lucien Conein, hăy thông báo cho phe đảo
chánh biết TT Kennedy muốn họ điều đ́nh
với TT Diệm và không được đổ máu.
(Chính Carver sau đó đă đưa Luật sư
Hoàng cơ Thụy, chủ mưu cuộc đảo chánh,
ra khỏi VN trong một túi vải lớn đựng
thơ bằng phi cơ của tùy viên quân sự
MATS, DC-6)
Liền sau
đó Colby cho lệnh ngầm Đại-tá
Lê-Quang-Tung chỉ thị Thiếu tá Trần Khắc
Kính hỏi cung hai nhân viên phản gián
trên [Carver và
Miller].
Không bao
lâu sau, Colby t́m hiểu ḿnh cũng đơn
độc như Kennedy, Johnson bao quanh bởi
vô số phản gián kể cả Ông Đại sứ E
Durbrow, Bác sỉ Tuyến và Lucien Conein
và dỉ nhiên Colby không c̣n dám đụng đến
Phạm Xuân Ẩn nữa! Cho đến khi William
Colby sửa lưng đương kim Bộ trưởng Quốc
pḥng McNamara như sau:
“ông không có quyền nói xấu những người
Việt đă đem xương máu chống Cộng Sản
trong khi đại cường Mỹ đă phủi tay chỉ
v́ lổi lầm của Mc Namara
[Skull
and Bones]
Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa kỳ đă
thua với Mc Namara và phần lớn là v́ hắn!”
Sau câu
nầy, George H W Bush phải kêu Colby về
Washington làm chức vị lớn hơn là Đặc
tránh CIA vùng Viển đông, rồi Giám đốc
CIA nhưng không ngoài mục-đích cách ly
Colby khỏi cuộc chiến VN như trong h́nh
NSC, Lam Sơn 719 không có Colby mà chỉ
có Richard Helms điều hành tại
Washington c̣n tại Saig̣n là Theodore
Shackley tay chân của George H.W.Bush.
Hai người thân tính nầy trực tiếp làm
theo lệnh của Tham mưu trưởng Donald
Rumsfeld trong khi George H W Bush
[Đại-đế giấu
mặt của triều đại Skull and Bones-2]
núp kín sau hậu trường chính trị v́ hiễu
được hậu quả cuộc chiến VN sẽ thảm khốc!
Sau vụ tai-tiếng Watergate, Bush t́m mọi
cách gây ảnh hưởng cản trở Quốc hội điều
tra việc làm của Richard Helms về sự tai
tiếng t́ềm ẩn nầy.
--- o 0 o
---
Đường xa-lộ
Harriman huyền bí
Tại sao
không là Đường Ṃn HCM mà là Đường 559!
Theo như thủ lănh Lê Đức Thọ đặt tên cho
đúng là vào tháng năm ngày khai triển
con đường (tháng
5 một ngàn chin trăm 59)
để
phù-hợp cho việc lưu trử hồ-sơ văn-khố
cũa trục ma/quỷ? Trùm Mafia Thọ dù núp
dưới bức tường thép HCM nhưng lại không
ưa ǵ cụ HCM, lư do Thọ được lệnh cũa
trục Ma-Quỷ phăi soán ngôi và cách ly cụ
để gây chiến cưỡng chiếm miền nam? Phần
nầy hăy để cho các sử-gia hậu cận-đại sẽ
lư giải một cách rơ ràng hơn với nhiều
tài liệu thiết thực mà Mỹ và thế giới sẽ
tiết lộ tiếp nối theo sau cuốn DVD về sự
thật Hồ Chí Minh vào một ngày không xa …
Từ lâu Đường Trường Sơn là cái Nôi của
Cách-Mạng Việt-Nam, các Cụ ngày xưa có
câu “Trường Sơn nhất đáy vạn đại dung
thân” Học thuyết-gia về Chiến-tranh,
người Đức Carl-Von-Clausewitz, cho rằng
dăy Trường-Sơn là Trung-tâm thành lủy
kiên cố, nơi ẩn nấu an-toàn nhất cho
những ai muốn rèn binh luyện cán, ẩn
nhẫn chờ thời. Nhóm học giả tham mưu của
Harriman dựa vào những định luật của
chiến lược gia Clausewitz không phải để
hủy diệt mà trái lại để bảo-vệ qua triển
khai cho việc hoàn thành “định-kiến-1”
của họ là bảo vệ bằng mọi giá con đường
Trường Sơn cho Hà Nội làm phương tiện
cữa ngơ chiếm lĩnh Miền Nam theo như thế
siêu chiến lược toàn cầu “Eurasian Great
Game” (Màn-2 giai đoạn-2 =1950-1973,
chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam)
Trên vệ tinh nh́n xuống, Trường-Sơn với
núi rừng lổm-chổm, sừng-sỏ như con Rồng
đang lượn ḿnh uống nước trên ḍng Sông
Cửu-Long, nh́n ra biển Đông như muốn
bảo-vệ vùng đất đang chế ngự, móng vuốt
bên trái ch́a ra tới Phan-Thiết như muốn
cảnh-cáo kẻ lạ từ Biễn Đông đừng ḥng
áp-đặt sự thống-trị, cái đuôi ngắc-ngoải
quật mạnh qua tận Trung-Quốc như cảnh
tỉnh, đừng dựa vào thế con Trời mà làm
ẩu th́ nước Tàu sẽ bị chia năm sẽ bẩy -
Chả lẻ cái nhóm tham mưu của Harriman
cũng biết thiên văn địa lư như lịch sử
đă chứng minh nhiều luồng sóng bạo-loạn
mạnh nhứt từ phương Bắc đều bị chận lại
từ đây? Đồng thời, Clausewitz chỉ-giải
thế phá trận-đồ, muốn cho đối phương
trong Hang-động đầy bí ẩn nầy, không c̣n
khả-năng chiến đấu đi đến tan-ră,
phương-pháp tốt nhất, là phải nghiên-cứu
tỉ-mỉ, xác định rơ-rệt vị-trí mục-tiêu,
đánh thẳng vào trung-tâm sào huyệt bằng
một cường lực như vũ-bảo, rồi chốt chận
một thời gian nhất định vào mùa khô cần
thiết cho sự càn-quét theo kiểu cày răng
lược. Tướng Maxwell-Taylor và Rostow đă
có đề nghị phương-án tương-tự như thế,
tŕnh lên Tổng-thống Kennedy nhưng bị
Cố-vấn George Bundy (ám số Skull and
Bones 40)
bác bỏ hoàn-toàn v́ bằng mọi
giá phải bảo vệ con đường chiến lược nầy
để cho Hà Nội chiếm lĩnh Miền Nam theo
định-kiến-1 [axiom-1]
Sau nầy Tướng Westmoreland lại tái quyết
tâm chiếm lĩnh hang-động Trường sơn nầy
một lần nửa, và toan thiêu hủy hệ thống
ống dẩn dầu huyết mạch do Liên Xô thiết
lập chạy song song, nên bị Siêu Chính
Phủ (permanent government)
triệu hồi về
nước gấp giao chức vụ coi cho được, Tham
mưu trưởng Liên quân không quyền hạn rồi
về hưu sau đó.
Khái lược về Trường-Sơn Đông: Ngày xưa,
sau khi chiếm Đông-Dương, Pháp đă cho
thiết lập một Quốc-lộ đi nép chân núi
phía Đông dăy Trường-Sơn trên lănh thổ
Việt-Nam, gọi là quốc lộ 14. Quốc lộ nầy
có tổng số chiều dài là 1,380 cây số và
đi qua lănh thổ 10 Tỉnh: từ Nghệ-An qua
Hà-Tĩnh, Quăng-B́nh, Quăng-Trị,
Thừa-Thiên, Quăng-Nam, Kontum, Pleiku,
Ban Mê-Thuột và B́nh-Phước. Khi lập con
đường nầy, người Pháp nhắm các mục tiêu
sau đây:
(1) bảo vệ an ninh lănh thổ
(2)
hành quân thanh toán các tổ chức buôn
lậu,
(3) khai thác lâm sản,
(4) khai
triễn và xử dụng các sắc tộc thiểu số,
nhất là sắc-tộc thiểu số gốc Rhađê.
Trong chiến tranh Việt Pháp từ năm 1945
đến năm 1954, con đường nầy bị bỏ hoang
v́ Pháp không đủ khả năng bảo vệ.
Sau Hiệp định Genève 1954, khi vừa ổn
định xong Miền-Nam, Tổng-Thống
Ngô-Đ́nh-Diệm đă nghĩ ngay đến việc tu
bổ lại quốc lộ 14 để bảo vệ lănh thổ,
Công việc nầy được khởi sự từ năm 1958
và giao cho Liên-đoàn 4 Công-binh phụ
trách. Liên-đoàn nầy do Trung-tá Trần
Văn Kha chỉ huy. Có lần TT Diệm đă đích
thân đến xem xét tại chỗ; Nhưng khi làm
đoạn đường Kontum, Gia-Vực, công việc cứ
cù-nhầy v́ thời tiết cũng như địa thế
quá khắt nghiệt, nên Trung-tá Kha bị
cách chức; Chuyện xây dựng Đường 14 chưa
hoàn tất th́ TT Diệm bị Harriman ra lệnh
giết v́ TT Diệm là một chướng ngại cho
công việc hoàn thành định-kiến-1 (V́
thất bại trong sự thuyết phục Harriman
trong vấn đề trung lập Lào 1962, và phát
hiện Lê Đức Thọ khởi động khai phá Đường
559 nên Cụ Nhu phăi chỉ định Đại tá
Đổ-Cao-Trí, Tư lệnh Đệ-3 Quân-khu,
Pleiku, hành quân càn quét ngay yết hầu
đường ṃn Hồ-Chí Minh từ Benhet, Darto
qua Attopeu cắt đứt con Đường vận chuyển
của quân CSBV bằng Sư-đoàn 22BB cùng một
Chiến đoàn Dù, thiếu-tá Dư Quốc Đống và
một Thiết đoàn chiến xa T-41, đại-úy Lư
Ṭng Bá, chốt chận nơi đó một thời gian
hạn định trong mùa khô.
Chúng ta cũng nên hiểu rằng Bác-sỉ giải
phẩu dù có giỏi cách mấy mà không có
dụng cụ giải phẩu th́ cũng bó tay,
Harriman người nắm giữ chính sách Hoa-kỳ
bằng mọi giá ngăn chận việc chính phủ
Diệm toan xoá bỏ “định-kiến-1” của
Harriman: xóa bỏ Miền Nam để thống nhứt,
tạo thành một nước VNCH lớn hơn theo
thời gian ấn định mà WIB khai thác lợi
nhuận qua chiến tranh (decent interval)
trong thiết kế chiến lược Châu-Á sau nầy.
Sau Hiệp định Paris 27/1/1973, quân đội
và chuyên viên Bắc-Việt cùng các kỷ-sư
Cuba làm lại con đường Đông Trường-Sơn:
khởi đầu từ Khe-Cát thuộc Huyện Bố-Trạch,
Quăng-B́nh, vượt Sông Bến Hải phía trên
nguồn đi qua chiến khu Ba-ḷng ở khu vực
Quăng-Trị và Thừa-Thiên, qua Aluối,
Ashau, rồi đi nép theo biên giới
Việt-Lào phía sau đèo Hải-Vân , Bạch-Mă
vào Quăng-Nam, khi đến Khâm-Đức th́ ṿng
lên Ngọc-Hồi thuộc phần đất Kontum, vùng
đất nầy vô cùng hiểm trở núi non trùng
điệp và cao nhất trong miền Nam VN. Đến
đây, v́ khúc đường 14 từ Kontum đến Ban
Mê-Thuột đang do Quân-lực VNCH trấn giữ
nên BV phải làm con đường song song thứ
2, lấy tên là 14A đi sát biên giới
Việt-Lào qua phần đất của Tỉnh Kontum
Pleiku và Ban Mê-Thuột, tại đây 2 đường
Trường-Sơn Đông, Tây chụm lại với nhau,
rồi đỗ xuống Bà-Rá, Phước-Thành, B́nh-Long,
Lộc-Ninh (trong ống kính của trục ma/quỹ
nó là Xa lô Liên Bang Đông Dương).
Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp
được cho thấy, nhiều khúc đường 14 từ
Thừa-Thiên đến Ban Mê-Thuột đang được
Cộng-quân ngang nhiên sửa chửa để chuyển
quân, cạnh con đường nầy, có một hệ
thống ống dẫn dầu chằng chịt nằm song
song theo đó như từ xương Sống tiếp nối
qua xương Sườn ra phía Đông vào các vùng
đông dân mà Không Quân Miền Nam, Hoa-kỳ
không được quyền oanh tạc v́ dựa vào
điều khoản Hiệp định ḥa b́nh Paris
1973, để chuẩn bị giai đoạn chuyển tiếp
bàn giao Miền Nam cho Hà Nội. Ngoài ra
phe thân Liên-Xô là Lê Duẫn đă yêu cầu
Liên-Xô phụ giúp, nên Hoa-kỳ
(sau Hiệp
định Paris) a ṭng với Liên-Xô, bí mật
sắp xếp cho Cuba qua giúp CSBV, kết quả,
tháng 9/1973, trong chuyến viếng thăm
của Chủ Tịch Fidel-Castro tại Hà-Nội,
chính quyền CSBV đă yêu cầu nước anh em
XHCN Cuba trợ giúp kỹ thuật trong việc
mở rộng mạng lưới Đường Ṃn nầy. Theo
thoả hiệp đạt được, một nhóm 43 người
Việt sẽ đến Cuba vào tháng 11/1973 và
sau khi được huấn luyện về các kỷ thuật
xây dựng của công binh Cuba, họ đă trở
về Bắc-Việt cùng với các huấn luyện viên
người Cuba bắt tay vào việc. Đại-Tá
Cuba, Roberto Leon sẽ làm Trưởng-Đoàn
xây dựng Công-binh Cuba, gồm 23 kỷ sư
cầu đường và khoảng 50 người chuyên viên
Việt-Nam khẩn cấp bắt tay vào việc. Thế
là bắt đầu năm 1973, Đoàn Công binh Cuba
ra sức giúp mở đường giao liên cho CSBV;
Đường 559
(Xa-lộ Harriman) mạng lưới gồm
đường xá và hầm trú-ẩn trải dài hàng
ngàn cây số, phần lớn xuyên qua rừng rậm,
để giúp bộ-đội BV tiến vào xâm chiếm
Miền-Nam.
Đó cũng là lư do tướng Ngô Q Trưởng đă
có chỉ thị rỏ ràng: “Các anh em phi công
khi thấy xe tăng, Molotova, bộ đội BV di
chuyển trên đường Hồ Chí Minh, dù trong
tằm oanh kích của ta th́ cũng đừng hành
động ǵ; cứ để cho chúng tiếp tục vào
Nam!” Có nguồn tin cho rằng Tướng Trưởng
muốn cho họ đi qua để nhẹ áp lực Vùng-1,
nhưng có người cho rằng v́ áp lực của Mỹ
có dính dấp đến các điều khoản đă kư
trong bản hiệp định Paris. Có một lần
phi tuần viên A.37 đă không tuân theo
phi tuần trưởng oanh kích theo dấu đánh
trái khói hướng dẩn của L-19 quan sát mà
lại oanh kích vào đoàn xe nhỏ nên làm
cho phái đoàn CS đàn anh bị tử thương.
Viên phi công nầy bị tù trọng cấm v́
không thả đúng mục tiêu như phi tuần
trưởng dẩn đạo cho cuộc oanh kích; Anh
giản-giải nguyên nhân thả khơi khơi
trong núi phí bom đạn, khi có mục tiêu
rỏ ràng sao không thả. Hậu quả anh bị tù
trọng cấm nhưng không nặng lắm.
C̣n Nhị-trùng, Đại-tá CSBV Bùi-Tín th́
được móm của trục Ma Quỷ nên cho rằng:
“Mỹ [làm bộ] không hiểu thái độ “Trung
Lập” của Cambodia, và đặc biệt của Lào,
ông hoàng Sihanouk và Phouma đều nghiêng
về phía Hà Nội; Hiệp định Genève năm
1962 về nền trung lập của Lào không hề
ngăn Bắc Việt Nam để nhiều quân ở Nam
Lào và dùng Lào để thâm nhập qua Xa lộ
Harriman được đơn-vị Đoàn 959 của Pathet
Lào bảo vệ. Mỹ (Harriman) làm rất ít để
không tác động đến Vientiane và PnomPenh
trong khi Hà Nội tranh thủ rất cao và
tận dụng rất khôn khéo nền Trung lập
nghiêng-ngả ấy với sự nháy mắt ngầm đồng
ư của Harriman; Nếu phía Washington sớm
nh́n thật rỏ được những điều kể trên để
có chủ trương thích hợp th́ t́nh h́nh đă
có thể đổi khác và sự kết thúc chiến
tranh cũng không phải như chúng ta đă
thấy! Đại tá Bùi Tín chỉ nói như con Vẹt
do một kẻ bí mật ở sau lưng hối thúc.
Làm ǵ Bùi Tín hiểu được sự tấn công qua
Cambodia và Lào là “Một sự di tản chiến
lược an toàn” qua tu chánh-án
Cooper-Church 1970 (manage the defeat)
và sẽ trở lại ở giai đoạn-3 màn kết
(Overhauling the damage control to
Roll-Back 2010-2020) Cuối cùng th́ Trung
Quốc đă chia ra nhiều tiểu quốc bằng
“tối huệ quốc” của Hoa Kỳ (the U.S.
Freedom Support Act) cũng tái diễn lại y
chang trường hợp một nước độc tài như
Liên-bang-Liên Xô bị chia cắt bởi tám
nước Cộng Hoà. Dĩ nhiên là những nước
Cộng Hoà tách rời nầy mực sống của người
dân cao hơn dân cư sống tại thủ đô Bắc
Kinh và Moscova dựa vào cái dù che “The
US Freedom Support Act”
V́ trong guồng máy chiến tranh, Mỹ đă
chuẩn bị và đang phải kiểm soát lại
trong kinh tế và cả trên chính-lược Mỹ
để phải đè bẹp Trung quốc bằng mọi giá;
Năm 1962 T́nh Báo MACV báo cáo Pentagon
là quân Bắc Việt đang xây dựng đường Ṃn
Hồ bắt đầu từ phía Tây vùng phi quân sự;
Được lệnh từ viên chức đứng hàng thứ Ba
của Bộ ngoại giao là Harriman
(người
sáng lập ra đảng-hội Skull and Bones
1920) ngầm ra mật-lệnh cho Forrestal,
thành viên Hội đồng An Ninh quốc gia
Hoa-Kỳ (NSC) và Leonard Unger, Đại sứ
Hoa Kỳ tại Lào thông báo cho MACV không
được đụng đến phần đất của Lào-quốc. Năm
1964, Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân
cảnh cáo Bộ trưởng quốc pḥng Mc Namara:
Dù được lệnh như MACV không được quyền
can dự ở Lào, nhưng ít ra phải để cho
QLVNCH có quyền chống đở biên giới của
họ chớ? Mc Namara không c̣n cách nào bèn
cầu cứu với George Bundy, cố vấn TT
Johnson để thả dây cương cho quân lực
VNCH được quyền đánh đuổi quân xâm lược
ra khỏi biên giới. Dỉ nhiên TT Johnson
rất bằng ḷng chấp nhận ngay; Công điện
đang chuyển qua MACV Saigon, th́ liền
sau đó có lệnh ngầm, Forrestal cảnh cáo
ngay với Bundy:
“Dù rằng TT Johnson đă kư lệnh, nhưng
không có dấu “khán” của Harriman th́ là
một điều rắc rối: “Anh cũng thừa hiểu
chữ kư của Johnson không thôi th́ không
có giá trị” Bao nhiêu đó thôi th́ đọc
giả cũng hiểu ngay là ai nắm chính sách
của Hoa Kỳ
(to send the telegram without
Averell Harriman’s approval is just
asking for trouble! Even if, the
telegram had already received Johnson
approval, but that was not enough)
Thế nên, Tôi tự cho rằng đây là Xa lộ
Harriman! Đến khi v́ quá sốt ruột đem
lại sự chiến thắng tự vệ cho nhân dân
miền nam, Tướng Westmoreland đ̣i hỏi
ngay vị Tổng tư Lệnh quân đội Mỹ là TT
Johnson xin TT cho lệnh quân đội Mỹ đánh
sang Lào th́ ông bị triệu hồi về Mỹ ngay.
Sau nầy SOG xin phép được hành quân qua
Lào và Cambodia để cấp cứu đồng đội lâm
nạn nhưng vẫn bị từ chối; V́ thế Tôi tự
cho rằng Đường 559 đả trở nên Xa Lộ
Harriman từ dạo đó, Nó đă có ống dẩn dầu
huyết mạch chạy song song với nó. Năm
1967-68 khi tôi đang học khóa Chỉ huy
Tham Mưu tại Air University Maxwell
Montgomery, Alabama Hoa-kỳ - Lúc nầy
chiến tranh VN đang thời khốc liệt vào
Tết Mậu-Thân, Cứ mỗi lần ‘coffee-break’
Tôi bị bao quanh bởi các bạn Mỹ, và sĩ
quan Đồng minh cùng khóa, kể cả các giản
viên. Họ luân phiên hỏi Tôi về chiến
tranh VN, Tôi c̣n nhớ rỏ, Tôi chỉ đáp
lại là: “pḥng thủ Nam Việt Nam trở
thành vô nghĩa khi lại nhường cho địch
vùng biên giới với các quốc gia Lào và
Cambodia. Tôi không phản đối ǵ việc
ngăn ngừa Cộng Sản bành trướng, nhưng
chẳng thấy chiến lược nào đang áp dụng
lại có triển vọng thành công; tuy nhiên,
ḷng yêu nước của tôi mạnh hơn nỗi bất
mản về chiến lược lảnh đạo kém!”
Một viên chức cao-cấp về địa dư của quân
đội Hoa Kỳ, ông John-Collins, ghi nhận
rằng: Đường Trường Sơn nầy cũng chẳng có
ǵ lạ, ngoài một chuổi dài rừng núi bao
la hiểm trở, có những đoạn đường Ṃn dài
cả chục cây số, lá rừng dầy đặt che
khuất ba tầng đến nổi không thấy được
ánh mặt trời. Dưới đó, nhứt là thời kỳ
chống thực dân Pháp, biết bao nhiêu
thanh niên thiếu nữ yêu nước hy sinh cả
đời ḿnh cho cuộc kháng chiến chống Pháp;
hằng ngày họ phải cồng lưng khuân vác
những trang cụ cho cuộc trường kỳ kháng
chiến; người Pháp với phương tiện không
thám nghèo nàn và lỗi thời th́ làm cách
nào mà phát hiện nỗi. Ngoài ra kháng
chiến quân ăn uống kham khổ, không cần
tiếp tế như một đạo quân dả chiến, nên
khó bị phát hiện. Trang bị vũ khí cướp
được của Pháp hay những vũ khí mà họ tự
tạo thô sơ qua các Công binh xưởng, ráp
nối như đồ chơi trẻ con mà John.Collins
cho là Rube-Goldberg Toys. Giữa năm
1950, lực lượng Việt Minh bắt đầu khai
mở Đường Trường Sơn, tuy nhiên chỉ hoạt
động cầm chừng, lẻ tẻ từng Toán nhỏ giao
liên, nhưng chỉ xuyên qua những đoạn
đường thuộc phần đất thực dân Pháp tạm
chiếm của các thành phố lớn như: Nha
Trang, Qui Nhơn, Đà-Nẳng, Huế, Quảng Trị…
c̣n lại họ di-chuyển xuyên qua các vùng
đồng bằng, cận đông của Dăy Trường Sơn
do lực lượng Việt-Minh kiểm soát. Hiệp
định Genève ngày 20 tháng bảy, 1954,
Cộng Sản bị đẩy ra Bắc, ngoài vĩ-tuyến
17,
Quân đội Cộng sản buộc phải lên tàu của
các nước Xă Hội Chủ Nghĩa, như Ba-lan,
Hungary…từ các hải cảng như Quy Nhơn…Nhưng
Cộng sản vẫn gài lại một số cán bộ nằm
vùng. Ở những Làng Huyện cận sơn như
Minh Long, Ba tơ, Gia Vực thuộc tỉnh
Quảng Ngăi, Cán bộ Cộng sản lấy vợ
Thượng, chịu hội nhập phong tục “Cà răng
căng tai” đóng chốt tại chỗ. Cộng sản
chôn dấu một số vũ khí để mai phục về
sau khi phát động tái vỏ trang xâm lược
miền Nam; Một số cán bộ nồng cốt được
đưa ra Bắc nhưng quyết không từ bỏ ư đồ
trở lại thôn tính miền Nam bằng vũ lực
v́ mắc mớ gia đ́nh c̣n kẹt lại tại Miền
Nam. (Từ 1943 khi Harriman đang làm Đại
sứ Mỹ tại Liên Xô đă có ư đồ dời chiến
tranh qua Triều-Tiên rồi Việt Nam (theo
mô h́nh chia đôi thành hai nước như sẽ
kết thúc chiến tranh và chia Đức ra làm
hai theo chương tŕnh “Aid to Russia
1941-1946 Plan) Sau khi móc nối được Cụ
Hố Chí Minh vào Service of War
Information 1943 (tôi tạm dich “Sở tin
Chiến tranh ở Côn-Minh, chắc chắn thế hệ
thứ tư thứ năm sẽ nói rơ những sự kiện
nầy ra v́ các sữ-gia luôn luôn sẽ làm
sáng tỏ và công minh cho lịch sử VN sau
nầy với vô số tài liệu bất thần lộ ra
như cuốn DVD sự thật HCM)
V́ thế Đường Trường Sơn được đổi tên lại
là Đường Ṃn HCM do Nhóm tham mưu học
giả của Harriman tung tin ra từ các nước
Tây phương với mục tiêu chính trị. Họ
muốn vinh danh HCM để bù đáp lại sự phản
bội v́ quyền lợi buộc Họ phải lừa gạt để
kéo dài chiến tranh cũng như Họ t́m cách
đưa tên HCM vào danh nhân thế giới tại
UNESCO, Liên Hiệp Quốc sau nầy, nhưng
thất bại v́ sự đả phá của nhân dân Miền
Nam chưa thấu hiễu.
Từ tháng Tư 1959, Bộ chính trị Cộng sản
Hà Nội triệu tập một cuộc họp bí mật thứ
15 do áp lực ngầm của trục Ma Quỷ, để
rồi Lê Đức Thọ cương quyết đưa hàng ngàn
cán bộ CS miền Nam trở về nằm vùng mai
phục chờ chỉ thị mới của Bộ chính trị
Trung ương Đảng (trong khi cụ Hồ đă ra
lệnh rút 100.000 vế Bắc) Để thực hiện ư
đồ nầy: Theo lệnh trục Ma/Quỷ, Lê Đức
Thọ chỉ thị thành lập một đơn vị Mới để
chuyên trách đưa người và tiếp liệu vào
Nam. Đó là “Đoàn chuyển vận 559” do
Tướng một sao Vỏ Bam chỉ huy. Quân đội
Bắc Việt đặt tên là Đường 559 – Trong
hồi kư của Đại tá Bùi Tín “From Enemy to
Friend” Paris, tháng 10-2003, chỉ gọi là
Đường 559. Phía Hà-Nội không bao giờ gọi
là Đường Ṃn Hồ. Sự thật HCM đả bị bọn
hai anh em Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ
cùng Lê Duẩn trở về Hà Nội nắm quyền,
cách ly HCM, ngày ngày lo vui thú
điền-viên qua vun tưới cây “Vú-Sửa” Miền
Nam và chỉ làm cảnh khi phải đón tiếp
phái đoàn ngoại giao mà thôi.