VAI TR̉ của CSTQ TRONG CHIẾN
TRANH 1946-1954 Ở VN
Trần Gia Phụng
(PHẦN 1)
1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
Sau thế chiến thứ hai, Việt Minh (VM),
mặt trận của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD)
cướp chính quyền và thành lập chính phủ
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH)
ngày 2-9-1945. Ngày 11-9-1945, trung ương đảng CSĐD họp tại Hà
Nội đưa ra quyết định chủ trương độc quyền cai trị đất nước.
(Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à
1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143. Về sau, Cộng sản
Việt Nam thực hiện điều nầy qua điều 4 hiến pháp năm 1992.)
Thực hiện chủ trương nầy, về đối nội, VM tiêu diệt tất cả những
thành phần theo chủ nghĩa dân tộc. Về đối ngoại VM nhượng bộ
các lực lượng nước ngoài để rảnh tay đối phó với các tổ chức đối
kháng trong nước, nhằm duy tŕ việc độc quyền chính trị.
Khi Pháp gởi lực lượng theo quân Anh tái chiếm miền Nam, rồi
tiến ra Bắc nhằm thay thế quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng, VM liên
tục nhượng bộ. Hồ Chí Minh kư kết với đại diện Pháp liên tiếp
hai hiệp ước (hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước
ngày 14-9-1946), sẵn sàng đón tiếp
quân Pháp đến Bắc Kỳ, để cho Pháp tái tục những hoạt động kinh
tế, văn hóa, giao thông trên toàn quốc…, trái với lời thề chống
Pháp khi Hồ Chí Minh tŕnh diện chính phủ ngày 2-9-1945.
Thấy VM yếu kém, ngày 18-12-1946, Pháp tiếp tục uy hiếp, buộc VM
phải giao quyền kiểm soát an ninh Hà Nội cho Pháp. Nếu Pháp
kiểm soát an ninh Hà Nội, th́ sinh mệnh ban lănh đạo VM và đảng
CSĐD hoàn toàn nằm trong tay Pháp. Thay v́ hỏi ư kiến quốc hội
(cơ quan có quyền tuyên chiến),
Hồ Chí Minh họp trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà
Nội) trong hai ngày 18 và 19-12-1946.
Hội nghị nầy quyết định bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946.(Trung
tâm từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt
Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.)
Đảng CSĐD quyết định tấn công Pháp nhắm
tạo điều kiện để ban lănh đạo VM và đảng CSĐD có lư do chính
đáng nhằm thoát thân khỏi Hà Nội. Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc
kháng chiến. Thế là chiến tranh không tuyên chiến xảy ra từ
1946 đến 1954.
Chiến tranh 1946-1954 có thể chia thành hai giai đoạn. Giai
đoạn thứ nhất 1946-1949 và giai đoạn thứ hai 1950-1954.
Trong giai đoạn thứ nhất (1946-1949), Việt
Minh cộng sản (VMCS) rất yếu
kém, phải rút lên rừng núi hay vào bưng biền để trốn tránh và
chỉ sử dụng du kích chiến nhằm làm tiêu hao lực lượng Pháp.
Trong chiến tranh, VM tiếp tục truy diệt những thành phần chính
trị theo chủ nghĩa dân tộc. V́ bản năng sinh tồn, giới nầy tập
hợp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, tạm thời liên kết với Pháp để
chống VM.
Năm 1949 xảy ra hai biến cố quan trọng. Thứ nhất tổng thống
Pháp kư với cựu hoàng Bảo Đại hiệp định Élysée
(8-3-1949), đưa đến sự thành lập chính
thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN)
do Bảo Đại làm quốc trưởng. Thứ hai, tại Trung Quốc, đảng Cộng
sản Trung Quốc (CSTQ) thành
công. Chủ tịch đảng CSTQ là Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập
nước Cộng Hoa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH)
ngày 1-10-1949.
Cả hai biến cố nầy đều ảnh hưởng đến chiến tranh Việt Nam và làm
thay đổi tính chất cuộc chiến. Sự thành lập QGVN khiến trên đất
nước Việt Nam có hai chính thể đối nghịch nhau: Chính thể QGVN
tự do dân chủ, vừa tranh đấu với Pháp để xây dựng độc lập hoàn
toàn, vừa nhờ sự giúp đỡ của Pháp để chống lại VM cộng sản, và
chính thể VNDCCH theo chủ nghĩa cộng sản. Pháp ở vị trí một đế
quốc xâm lăng, nay trở thành đồng minh của QGVN.
Do sự sắp đặt giữa VMCS và CSTQ, VNDCCH thừa nhận CHNDTH ngày
15-1-1950. Đáp lại, CHNDTH thừa nhận VNDCCH ngày 18-1-1950 và
sau đó, Liên Xô thừa nhận ngày 30-1-1950. Trước t́nh h́nh nầy,
Hoa Kỳ lo ngại sự bành trướng của cộng sản, liền thừa nhận chính
phủ QGVN do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng ngày 4-2-1950, lôi
kéo theo chính phủ Anh thừa nhận ngày 7-2-1950, và sau đó là các
nước đồng minh của Hoa Kỳ.
Như thế, năm 1950 đánh dấu khúc quanh của chiến tranh, mở đầu
giai đoạn thứ hai của cuộc chiến. Việt Minh dựa vào viện trợ của
Cộng sản quốc tế, chủ yếu là viện trợ của CSTQ, phản công chống
Pháp, quyết tâm tiêu diệt QGVN. Quốc Gia Việt Nam, ng̣ai đồng
minh là Pháp, c̣n nhờ sự viện trợ của Hoa Kỳ chống lại VMCS. Từ
năm 1950, cuộc chiến không c̣n ư nghĩa kháng chiến chống Pháp,
và biến thành chiến tranh ư thức hệ quốc cộng trên đất nước Việt
Nam.
2.- HỒ CHÍ MINH CẦU VIỆN
Từ năm 1950, CSTQ đóng vai tṛ càng ngày càng quan trọng trong
chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ việc Hồ Chí Minh cầu viện Trung
Quốc và Liên Xô.
Ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông (Mao Zedong)
tuyên bố thành lập CHNDTH. Cuối năm đó, Hồ Chí Minh cử hai đại
diện là Lư Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ.
(Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The
University of North Carolina, 2000, tt. 13, 15.)
Lúc đó, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai (Zhou Enlai)
đă qua Moscow từ 16-12-1949 để thương thuyết với Stalin.
Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi),
xử lư công việc bộ Chính trị đảng CSTQ, cử La Quư Ba (Luo
Guibo), uỷ viên trung ương đảng CSTQ
làm đại diện đảng CSTQ bên cạnh đảng CS Đông Dương (CSĐD).(Qiang
Zhai, sđd. tr.15.) Ngay trong tháng
1-1950, La Quư Ba rời Bắc Kinh qua Việt Nam.(La Quư Ba,
“Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, đăng trong Hồi
kư của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn
quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác
giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do
Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Dương Danh Dy hiệu đính (tài
liệu lưu hành nội bộ), tr. 2.)
Theo các tài liệu của CSTQ, chế độ CHNDTH mới thành lập ngày
1-10-1949, đang khó khăn, chưa được các nước Tây phương thừa
nhận, nhưng v́ tinh thần và nghĩa vụ quốc tế vô sản, CHNDTH đă
hào phóng viện trợ vô tư không điều kiện cho VNDCCH.(La
Quư Ba, sđd. tr. 4.)
Sự thật đúng là lúc đó các nước Tây phương chưa thừa nhận CHNDTH,
nhưng CHNDTH lại sẵn sàng thừa nhận và giúp đỡ VNDCCH v́ hai chủ
đích riêng của CHNDTH:
1) Lúc đó, đảng CSTQ chưa
ổn định t́nh h́nh lục địa Trung Hoa. Đảng CSTQ lo ngại Tưởng
Giới Thạch nhờ các nước tư bản, nhất là Hoa Kỳ và Pháp, giúp đỡ
để lực lượng Quốc Dân Đảng quay trở lại tấn công CSTQ. V́ vậy,
CSTQ nhận VMCS làm đồng minh, giúp đỡ VMCS để VMCS giữ ǵn an
ninh vùng biên giới Hoa Việt, làm vùng trái độn an toàn cho
Trung Quốc. Mao Trạch Đông công khai xác nhận việc nầy trong
một cuộc họp của trung ương đảng CSTQ tháng 11-1950.(La
Quư Ba, sđd. tr. 7)
2) Về tương lai, CSTQ dự tính có
thể sử dụng VNDCCH để t́m đường xuống Đông Nam Á.
Sau phái đoàn Lư Bích Sơn và Lưu Đức Thủy, đích thân Hồ Chí Minh
bí mật qua Bắc Kinh cầu viện ngày 30-1-1950. Lúc đó Mao Trạch
Đông và Châu Ân Lai vẫn c̣n ở Liên Xô. Lưu Thiếu Kỳ hứa sẽ đáp
ứng những lời cầu viện của Hồ Chí Minh và sắp đặt cho Hồ Chí
Minh qua Liên Xô cầu viện tiếp.
Trong các cuộc tiếp xúc với Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai, lănh
tụ Liên Xô là Joseph Stalin nhiều lần lập lại ư kiến rằng công
việc viện trợ cho VNDCCH là công việc chủ yếu do CSTQ gánh vác.
Chắc chắn Lưu Thiếu Kỳ ở Bắc Kinh đă được biết quyết định nầy
của Stalin do phái đoàn Mao Trạch Đông thông báo, nhưng Lưu
Thiếu Kỳ vẫn sắp đặt cho Hồ Chí Minh qua Moscow, có thể nhằm cho
Hồ Chí Minh tận mặt gặp Stalin để tận tai nghe ư kiến của
Stalin.
Hồ Chí Minh đến Moscow tối 6-2-1950. Bộ chính trị đảng CSLX mở
tiệc chào mừng Hồ Chí Minh nhưng Stalin không đến dự. Sau đó,
Stalin chỉ tiếp Hồ Chí Minh tại văn pḥng làm việc, với sự có
mặt của Malenkow, Molotow, Bulganin và Vương Gia Tường, đại sứ
Trung Quốc tại Liên Xô. Như đă từng nói chuyện với Mao Trạch
Đông, Stalin nói thẳng với Hồ Chí Minh:
“Chúng tôi đă trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc
viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung
Quốc phụ trách thích hợp hơn... Trung Quốc ở sát Việt Nam, hiểu
rơ t́nh h́nh Việt Nam hơn chúng tôi, kinh nghiệm đấu tranh của
Trung Quốc càng có tác dụng làm gương đối với Việt Nam, giúp các
đồng chí sẽ thuận tiện hơn.”
(Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc
viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong sách Hồi kư những người
trong cuộc…, sđd. tr. 20.)
Ngày 14-2-1950, Joseph Stalin và Mao Trạch Đông kư Hiệp ước hữu
nghị, liên minh và hỗ tương Trung-Xô (Sino-Soviet
Treaty of Friendship, Alliance and mutual Assistance)
gồm 6 điều khoản và hiệu lực trong 30 năm.
Ngày 16-2-1950, trong buổi tiệc
chiêu đăi phái đoàn Trung Quốc trước khi Mao Trạch Đông về nước,
nhân lúc Stalin vui chuyện, Hồ Chí Minh lại nói:
“Các đồng chí đă kư hiệp
ước với Trung Quốc, nhân tôi ở đây, chúng tôi cũng muốn kư một
hiệp ước.
Stalin nói: “Thế
người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích như thế
nào?
Hồ Chí Minh nói:
“Điều đó rất dễ, đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một
ṿng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin
trên báo, không được sao?”
Stalin cười lớn:
“Đó là sức tưởng tượng đặc biệt của
người phương Đông các anh.”
Rất nhiều người dự tiệc cũng đều
cười vang.”.
(Trương Quảng Hoa, sđd. tr. 21.)
Ngày 17-2-1950, Hồ Chí Minh cùng Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai rời
Moscow trở về Bắc Kinh bằng xe hỏa. Trong cuộc hành tŕnh nầy,
một hôm Hồ Chí Minh “đi đến toa xe của Mao Trạch Đông, Hồ Chí
Minh nói ngay bằng tiếng Trung Quốc: “Mao Chủ tịch, Stalin không
chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không kư hiệp
ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam từ
nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.”(
Trương Quảng Hoa, sđd. tr. 22.)
Về tới Bắc Kinh, hai bên kư kết một hiệp ước pḥng thủ hỗ tương
giữa CHNDTH và VNDCCH, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ
phỉ (ám chỉ Quốc Dân Đảng Trung Hoa và biệt kích Pháp).(Bernard
Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr.
119.) Hiệp ước nầy cho thấy việc CSTQ quyết định viện trợ cho
VNDCCH rơ ràng không phải v́ tinh thần và nghĩa vụ quốc tế cộng
sản mà v́ quyền lợi thiết thực của CSTQ là bảo vệ an ninh vùng
biên giới phía nam.
Không kể lần đi cầu viện thứ nhất, cho đến khi chiến tranh kết
thúc năm 1954, Hồ Chí Minh c̣n qua Bắc Kinh ba lần và qua Moscow
hai lần để cầu viện trong các năm 1951, 1952, 1954. Trong bản
tin ngày 14-5-2009, đài BBC đă tường thuật một bài báo mới đăng
trên báo Pravda (Nga), nhắc
lại rằng các xe vận tải Molotov và súng pḥng không của Liên Xô
đă góp công rất lớn đến chiến thắng Điện Biên Phủ. (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam.)
Trong lịch sử Việt Nam, không có nguyên thủ quốc gia (trước
đây là vua) Việt Nam nào, kể cả Lê
Chiêu Thống (Chỉ có mẹ vua ra đi mà thôi),
qua Trung Hoa trực tiếp cầu viện như Hồ Chí Minh,
3.- CÁC PHÁI ĐOÀN CỐ
VẤN
Ngoài cố vấn chính trị là La Quư Ba đă có mặt tại Việt Nam từ
tháng 1-1950, về quân sự CSTQ gởi sang VN một cố vấn đặc biệt và
một phái đoàn cố vấn đông đảo để giúp bộ đội VM.
Viên cố vấn đặc biệt là đại tướng Trần Canh
(Chen Geng),
uỷ viên dự khuyết ban chấp hành trung ương đảng CSTQ, tư lệnh
quân khu Vân Nam, chính uỷ binh đoàn số 4, chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh Vân Nam. Hồ Chí Minh đă xin đích danh với Mao Trạch
Đông gởi Trần Canh sang làm cố vấn cho trung ương đảng CSĐD.
Trần Canh rời Côn Minh đi Việt Nam ngày 7-7-1950.
Trần Canh vào địa phận Việt Nam từ 20-7-1950, nghiên cứu t́nh
h́nh tại chỗ và gởi về Bắc Kinh một báo cáo, đại ư như sau:
1) VM cần vận dụng thêm phụ nữ
vào công việc chiến đấu. [Từ sau ư kiến
của Trần Canh, xuất hiện nữ dân công VM trên chiến trường.]
2) Những sĩ quan cấp tiểu đoàn
của VM thiếu kinh nghiệm chiến trường, nên cần phải tổ chức tiến
đánh những đồn bót nhỏ, để tăng kinh nghiệm và tạo chiến công
nhằm gây niềm tin nơi quân sĩ.
3) Thực hiện chiến thuật công
đồng đả viện (tấn công cứ điểm, chận
đánh viện binh) bằng
cách tấn công các đồn nhỏ để quân Pháp đưa quân đi cứu viện, rồi
phục binh tấn công viện quân củ Pháp. Nếu làm như thế, VM có
thể chiếm được Cao Bằng và sẽ làm thay đổi t́nh h́nh biên giới.
Trần Canh gặp Hồ Chí Minh lần đầu ngày 28-7-1950 tại chiến khu
Dương Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Hồ Chí Minh hoàn toàn đồng ư với
kế hoạch Trần Canh.
Trong khi đó vào cuối tháng 7-1950, bộ tư lệnh cố vấn quân sự
Trung Quốc (BTLCVQSTQ)
chính thức được thành lập, lúc đầu gồm 281 người, trong đó có 79
cố vấn, 202 tùy viên, do tướng Vi Quốc Thanh
(Wei Guoqing)
làm tư lệnh với hai phụ tá là Mai Gia Sinh
(Mei Jiasheng)
và Đặng Dật Phàm (Deng Yifan).
Vi Quốc Thanh và BTLCVQSTQ có mặt ở bộ chỉ huy bộ đội VM tại
Quảng Nguyên (Cao Bằng)
ngày 12-8-1950, rồi được phân phối đi các đại đơn vị VM.
Từ đây, kế hoạch, chiến thuật, chiến lược tấn công của VM đều do
quân uỷ đảng CSTQ ở Bắc Kinh nghiên cứu, duyệt xét, đưa qua cho
BTLCVQSTQ, rồi bộ tư lệnh nầy chuyển lại cho giới lănh đạo VM
thi hành.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 21-3-2009)