TỔ QUỐC GHI ƠN CÁC ANH HÙNG CHIẾN SĨ VNCH

ĐĂ HY SINH V̀ LƯ TUỞNG TỰ DO


Thành kính tri ân các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă anh dũng hy sinh để bảo vệ chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc. Những người lính Quân Lực VNCH vẫn măi măi oai hùng hiên ngang ngạo nghễ trong mỗi trái tim thân yêu của người Việt Nam yêu chuộng Tự Do , Công Lư , Nhân Quyền và Ḥa B́nh chân chính trên toàn thế giới .

 Xin bấm vào đây để coi Video:    Thương Tiếc  (Xin chờ 2 phút để tải xuống)

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng

 Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4 Tướng Lê Văn Hưng xuất thân khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, măn khóa vào tháng 1/1955. Sau ngày ra trường, ông đă có một thời gian dài chiến đấu tại chiến trường Miền Tây qua các chức vụ các chức vụ chỉ huy từ cấp đại đội, tiểu đoàn, Trung đoàn thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh (BB). Năm 1966, ở cấp Thiếu tá, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/Trung đoàn 31 BB. Cũng trong năm 1966, ông được các phóng viên chiến trường vinh danh là một trong năm ngũ hổ U Minh Thượng (ngoài Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hưng, 4 sĩ quan khác là: Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42 BĐQ; Thiếu tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 BĐQ, Đại úy Vương Văn Trổ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/33BB; Đại úy Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33BB).

Năm 1968, ở cấp bậc Trung tá, Sĩ quan Lê Văn Hưng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31 BB. Ông đă chỉ huy Trung đoàn 31 BB lập nhiều chiến tích tại chiến trường Hậu Giang. Cũng trong thời gian chỉ huy trung đoàn 31BB, ông đă được thăng cấp đại tá. Giữa tháng 6/1971, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 BB khi c̣n mang cấp đại tá, hơn 9 tháng sau, ông được thăng cấp chuẩn tướng, tiếp tục giữ chức Tư lệnh Sư đoàn này đến ngày 3 tháng 9/1972, sau đó được cử giữ chức tư lệnh phó Quân khu 3. Một năm sau, Tướng Hưng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 BB, cuối tháng 10/1974, ông đảm nhận chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn 4.

Tướng Hưng đă được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc B́nh long. Tướng Hưng đă tự sát vào tối ngày ngày 30.04.75 tại văn pḥng riêng ở bộ chỉ huy phụ của Quân đoàn 4 (đồng thời là nơi gia đ́nh Tướng Hưng tạm cư trú), sau khi nói lời từ giă với gia đ́nh và bắt tay từ biệt tất cả quân sĩ bảo vệ bộ chỉ huy. Sau đó, ông đă quay vào văn pḥng, khóa chặt cửa và tự sát bằng súng lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối.

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ

 Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (1933-1975) Sau khi nhận được lệnh phải đầu hàng, Tướng Vỹ đă tự sát bằng súng lục vào lúc 11 Giờ, ngày 30.04.75 tại tổng hành dinh ở Lai Khê. Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ c̣n để lại trong chiến sử Việt Nam, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đă thủ sẵn một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân địch.
Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và chỉ huỵ Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn pḥng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với chiếc lon mới Chuẩn Tướng.

Chuẩn Tướng Vỹ dưới con mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấụ Một số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người ta nh́n thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm nh́n chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với các sĩ quan tham mưu:
“Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh ḿnh ngoài này mà sẽ t́m cách len lỏi đi thẳng về Sài G̣n”.

Sự phán đoán đó về sau đă hoàn toàn đúng. Một quân đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, mà t́m cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư đoàn, hối hả tiến về Sài G̣n để dứt điểm Tướng Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan tro.ng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa các cấp buông súng, ai ở đâu th́ ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn giao.

Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đă mời các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông. Nh́n khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đă khéo léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra, những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏị Mọi người c̣n đang dùng cơm th́ Chuẩn Tướng Vỹ bỗng bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn pḥng tạm cho Tư Lê.nh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả chạy ùa tới mở cửa th́ thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm trên vũng máu và người đă thực sự ra đi, trên tay c̣n cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó c̣n nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đă bắn vào phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầụ Khi các sĩ quan và binh đội cộng sản vào tiếp quản doanh trạị sĩ quan sư đoàn cao cấp của địch đă nghiêng ḿnh kính phục khí tiết của Chuẩn Tướng Vỹ và nói: “
Đây mới xứng đáng là con nhà Tướng.

Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lê.nh. Ít lâu sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, G̣ Vấp, Sài G̣n. Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn Tây.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

Tư Lệnh Quân Đoàn 4 (1927-1975) Vào lúc 11 Giờ 30, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam sau khi từ giă các binh sỉ đă tự kết liễu đời ḿnh. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của ḍng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cơi về phương Nam, mà điểm dừng là mũi Cà Maụ ược hun đúc từ truyền thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở c̣n ở tuổi học sinh siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi về nhạc lư. Sau này khi đă trở thành vị tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào, ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp v́ chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp luộc là đă xong cho một bữa trưạ Nếu ở Bộ Tư Lệnh th́ người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm với các sĩ quan, có ǵ ăn nấỵ Là một Phật tử thuần thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông th́ được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, không ǵ hết, đơn giản đến mức trở thành huyền thoạị

Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa bỏ phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn vẹn mới có ba ngày đă vội vă ra lệnh toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày 30.04.1975.

Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lănh của quân ta nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhă như vậỵ Đại cuộc không thành, thành mất th́ tướng phải tuẫn tiết theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu găy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương c̣n lở lói và rướm máu, đă làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đă nổ súng tuẫn tiết trong văn pḥng tại trại Lê Lợị Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lê.nh. Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía tráị Ngày hôm sau, các sĩ quan c̣n ở lại Bộ Tư Lệnh đă đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thợ Trong đầu năm 1994, thân nhân của Thiếu Tướng Nam đă xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên đường Lê Quang Định, quận G̣ Vấp, Sài G̣n.

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai

Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh (1925-1975) Vào đêm ngày ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Hai đă tự sát tại trung tâm Đồng Tâm. Bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng c̣ng c̣m cơi với thời gian, đă mưu trí gạt được quân cộng đang tràn ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh về G̣ Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung U¨y thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người c̣n cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé đó. Lúc c̣n số efthu̐ 9;n Tướng Hai nổi tiếng là vị Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải vật chất ǵ đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội cấp cho, th́ khi người ra đi, người chỉ để lại cho hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm ḷng sắt son đối với dân tộc và tổ quốc.

Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn sống một cuộc sống b́nh dị, nghiền ngẫm kinh Phật, trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác nhaụ Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng sống. Như câu chuyện đă trở thành huyền thoại về Đại Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968 đă cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của địch.

Năm 1974 định mệnh đă đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu tại ngh́n thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà đă làm địch quân kinh hoàng.

Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác chiến ngồi trong văn pḥng Tư Lệnh chờ quân địch đến. Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc cấp trở về với gia đ́nh, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của ho.. V́ họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm, hoặc nếu có bàn giao th́ cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đă từng chiến đấu bảo vệ đất nước hơn hai mươi năm, không lư do ǵ người giao lại cho địch một cách dễ dàng. Khoảng xế trưa, một đơn vị cộng quân thận trọng tiến vào Đồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đ̣i hỏi một viên sĩ quan sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. T́nh h́nh rất căng thẳng, hai bên giương súng gh́m nhaụ Măi lâu sau mới có một người gơ của xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan đi.ch. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn ông này bị thương nhẹ phải bỏ chạy ra ngoài. Để cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam th́ họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đă uống thuốc độc tự sát trong văn pḥng Tư Lệnh.

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

Tư Lệnh Quân Đoàn 2 (1928-1975) Thiếu Tướng Phú là người trách nhiệm trong cuộc hành quân triệt thoái quân dân kḥi ba tỉnh Cao  Nguyên, đă bị thất bại nặng nề và đau đớn nhất trong quân sử cận đại.
Tướng Phú tự tử tại nhà vào ngày 30.04.75. Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài G̣n, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đă uống thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày kư Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đă thề với ḷng là người thà chết chứ không chịu nhục nhă lọt vào tay giặc một lần nữạ Lời thề ấy người đă giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất nước và  một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân Khu II không mong muốn. C̣n nhớ tại trận Điện Biên Phủ, toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ c̣n có 100 tay súng mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hàọ Đại Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều bị đạn địch quật ngă và một vài giờ sau đó bị sa vào tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh laọ định mệnh vẫn c̣n muốn cho người anh hùng được sống, để tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được trả về cho Việt Nam Cộng Ḥạ Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đă nhanh chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, lần lượt đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu IỊ Chính là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia, mà đă vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào t́nh trạng bất khiển dụng v́ lư do sức khỏe ngay trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau ḷng theo dơi các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥạ Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của ḿnh cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đă tràn ngập khắp phố phường Sài G̣n trong ngày 30.04.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược, để tỏ rơ ư chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

* Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Đại Tá Cẩn đă bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Vài nét về một anh hùng: Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn.

Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật ǵ. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính t́nh hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) th́ chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Măi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học không lấy ǵ làm giỏi cho lắm, thường th́ chỉ đứng trung b́nh trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu-sinh-quân.

Thời điểm này, trên toàn lănh thổ VN có 7 trường TSQ, phân phối như sau:

_ Trường TSQ đệ nhất quân khu, ở Gia-định.
_ Trường TSQ đệ nhị quân khu ở Huế.
_ Trường TSQ đệ tam quân khu ở Hà-nội.
_ Trường TSQ Móng- cáy dành cho sắc dân Nùng.
_ Trường TSQ đệ tứ quân khu ở Ban-mê-thuột.
_ Trường TSQ Đà-lạt của quân đội Pháp.
_ Trường TSQ Đông-Dương của quân đội Pháp, ở Vũng-tầu.

Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp nh́ trường TSQ đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương tŕnh Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia-định về Mỹ-tho.

Khi hiệp định Genève kư ngày 20-7-1954, th́ ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu di chuyển từ Hà-nội vào, sát nhập với trường TSQ đệ nhất quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy chương tŕnh Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương tŕnh Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, th́ bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nh́ trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lăng mạn.
Hết năm học, Cẩn đă 17 tuổi. Theo học quy của trường TSQ, th́ khi một học sinh mười bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. C̣n như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ ngũ, lại tỏ ra xuất sắc th́ được giữ lại học đệ tứ, rồi... cho học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường vơ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nh́, và bắt đầu kư đăng vào quân đội với cấp bậc binh nh́.

Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời b́nh. Một học sinh ra trường, th́ ba tháng đầu với cấp bậc binh nh́, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 th́ lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ Quốc-pḥng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường TSQ, không cần phải hội đủ tŕnh độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được nhập học.

Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đă cung cấp cho đất nước VN không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.

Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng-thống Ngô Đ́nh-Diệm hay đại tướng Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ trường TSQ, đều được đưa về phục vụ tại các binh chủng : Dù, Thủy-quân lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo, An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc biệt (LLĐB).

Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng. Lănh thổ khu này gồm các tỉnh Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên), Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, v́ t́nh h́nh chiến tranh thay đổi, quân Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.

 

 

Đại tá Đặng sĩ Vinh

Vào lúc 2 giờ ngày 30.04.75, hai tiếng đồng hồ sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, Đại Tá Vinh, cùng gia đ́nh gồm vợ và băy người con đă tự tử bằng súng lục.

Trung Sĩ Vũ Tiến Quang

(30-9-1956 - 30-4-1975)

 

Trung Sĩ Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 thánh 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thọ 19 tuổi. Ông đă cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đă anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Trung Sĩ Vũ Tiến Quang và Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn đă bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Đọc tiếp về tiểu sử Trung Sĩ Vũ Tiến Quang.

Trung tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long

 

Người Sĩ Quan Cảnh Sát này đă đến đứng chào bức tượng Chiến Sĩ Việt Nam Cọng Hoà rồi rút súng bắn vào đầu tự tử thay v́ để bị bắt. Trung-Tá Cảnh-Sát Nguyễn-Văn-Long tuẩn tiết sáng 30-4-75 trước Hạ Viện, dưới chân tượng đài Thủy quân lục chiến. Ông là người luôn tận tụy với công việc, cả đời lấy phương châm chí công vô tư và quan niệm Cảnh Sát là công bộc của dân. Có phải chăng Ông nằm xuống là tạ tội với dân tộc thay cho bọn nửa người nửa ngợm nửa đười ươi quyền cao chức trọng hưởng qúa nhiều bổng lộc, thời b́nh th́ hách dịch kiêu căng cậy quyền thế làm đủ chuyện xằng bậy nhưng đến khi quốc nạn th́ học theo lủ chuột chui rút xuống cống rănh chuồn ra ngoại quốc. Ông đă nằm xuống, "Anh ngă xuống giữa Sàig̣n để lại không đủ họ tên, nhưng lịch sử ngh́n năm sau vẩn nhớ Trung Tá Long". "Tổ quốc nghiêng ḿnh tiển biệt một người con".


Lê-xuân-Nhuận Nguyễn Bắc Tên thật Kiều đ́nh Thanh - quê quán Tam Quan, Quảng Nam. Lănh tụ Mặt Trận Nhân Dân Liên Minh Phục Quốc, bị bắt ngày 23.12.1983. Án từ h́nh . Xử bắn ngày 16.12.1985 tại Đà Nẵng.
Những người đồng chí của ông c̣n nhớ được trọn vẹn duy nhất một bài thơ trước ngày ông bị đem đi xử bắn.
Tính cách về nhân dáng của ông không bao giờ mờ phai trong tâm hồn những con người VN yêu nước. Đặc biệt, nơi những nhà giam có nhốt tù chính trị. Tên thật Kiều Đ́nh Thanh - quê quán Tam Quan, Quảng Nam. Lănh tụ Mặt Trận Nhân Dân Liên Minh Phục Quốc VN sa cơ ngày 23.12.1983. Phỉ quyền VC lên Án tử h́nh và Xử bắn Ông vào ngày 16.12.1985 tại Đà Nẵng.

Những người đồng chí của Ông c̣n nhớ được trọn vẹn duy nhất một bài thơ trước ngày Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh bị tặc quyền VC đem đi xử bắn.

Tính cách về nhân dáng của Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh không bao giờ mờ phai trong tâm hồn những con người VN yêu nước. Đặc biệt, nơi những nhà giam có nhốt Tù chính trị.


 

Chiều biệt giam buồng tử h́nh

 

 
  Nhớ lắm em ơi ! anh nhớ lắm
Biết em từng phút mỏi ṃn trông
Đêm khuya thức giấc con thơ khóc
Tựa cửa ôm con đợi bóng chồng.

Biết nói sao cho hết đoạn trường
Chỉ c̣n đọng lại ngàn vấn vương
Nơi đây rêu phủ tường vôi lạnh
Gói trọn tim anh vạn sầu thương ...

Thu lại về rồi em có hay ?
Gió thu đă đổi ngọn heo may
Năm xưa Chức Nữ ru con ngủ
Nước mắt vây quanh tấm lụa dầy ...

Vọng phu ngày trước cũng trông chồng
Đứng đếm thời gian giữa khoảng không
Biền biệt năm qua rồi tháng tới
Suối lệ đêm ngày hóa biển đông !.

Anh vẫn c̣n đây em biết không
Hờn căm rực lửa đốt tim ḷng
Bạo thù gian xảo đang từng phút
Mặc áo nhân từ phá núi sông.

Anh vẫn c̣n đây em biết không
Đêm ngày ṿ-vơ suốt cùm đen (*)
Pháp trường vẫy gọi hồn ma vọng
Mà ngẫm giang sơn tủi xác thân !


 
  Em hỡi ! bây giờ em ở đâu
Trăng lên có gọi thấu cung sầu
Đêm về bóng nguyệt in đáy nước
Em có nghe ḷng dậy đớn đau

Em ơi ! non nước rộng bao la
Tích tụ ngàn đời tổ tiên ta
Một thủa giặc về gây tang tóc
Đau thương trùm lấp khắp nhà nhà ...

Làm trai ngang dọc cả muôn phương
Kiếm thép nhung y giữa chiến trường
Giận gót chưa đạp tan lũ giặc
Giờ đành ngă bóng khuất tà dương !

Giờ đành ngă bóng !...
khuất tà dương ...


Anh Hùng Kháng Chiến Kiều Đ́nh Thanh

1985 - Những ngày đợi án tử thi hành
chép lại theo tưởng nhớ của Nam Phương

Nguyễn Bắc

* ghi chú : Suốt cùm đen : 1 loại cùm-suốt, dài vừa đúng 1 chiều ngang chỗ nằm,
có 2 khoen thép (móng ngựa) để khóa khít 2 cổ chân.

 

 

Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
Ông và đồng đội hy sinh vào năm 1984 trên chiến trườngđông tiến nam Lào

 

Trần Văn Bá
Tiểu sử tráng sỉ Kinh Kha Trần Văn Bá Tử h́nh: Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh, Hồ Thái Bạch. Chung thân: Trần Nguyên Hùng, Tô Văn Hườn, Hoàng Đ́nh My.? Từ 8 đến 20 năm tù: số 13 kháng chiến quân c̣n lại.
 

Ghi chú : các h́nh trong trang này được lấy từ bán nguyệt san Hoa Thịnh Đốn Việt Báo số 1 đến 15 tháng 1 năm 1985.

Danh sách 21 kháng chiến quân bị nạn:

1 - Mai Văn Hạnh
2 - Trần Văn Bá
3 - Lê Quốc Quân
4 - Huỳnh Vĩnh Sanh
5 - Hồ Thái Bạch
6 - Trần Nguyên Hùng
7 - Tô Văn Hườn
8 - Hoàng Đ́nh Mỹ
9 - Thạch Sanh
10 - Nguyễn Văn Trạch
11 - Nguyễn B́nh
12 - Nguyễn Văn Hậu
13 - Nhan Văn Lộc
14 - Lư Vinh
15 - Trần NGọc Ẩn
16 - Cai Văn Hùng
17 - Đặng Bá Lộc
18 - Thái Văn Dư
19 - Trần Văn Phương
20 - Nguyễn Phi Long
21 - Nguyễn Văn Cầm

The Seven Samurai in VietNam: Theo tài liệu 30-04 trong kho dữ liệu của hăng Thông tấn Nhật bản Kyodo về "Bảy Hiệp Sĩ Việt Nam". Ngày 30-04-1975 là ngày đau thương v́ QLVNCH bị bức tử, người lính bị bẻ găy súng bởi chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi. Bảy người lính Dù mà trưởng toán là thiếu úy Hoàng Văn Thái tụ họp tại một bùng binh trong Chợ Lớn, và họ chọn lựa sự buông súng trong danh dự khi tự kết liễu đời ḿnh sau khi hát xong bài quốc ca VNCH, họ xếp thành ṿng tṛn, mỗi người tay trong tay một quả lựu đạn, mở chốt một lượt. Một tiếng nổ chát chúa tiễn biệt họ ra đi v́ danh dự.

Sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù Theo lời tường thuật của anh Trung úy Cảnh sát Nguyễn Văn Đ́nh định cư ở Houston chứng kiến tại hiện trường sự tự sát tập thể của 9 quân nhân Nhảy Dù, họ nằm trong toán bảo vệ Đài Phát Thanh và Đài Truyền H́nh. Khi lệnh buông súng ban ra toán quân nhân này đă xă súng bắn vào nhau, xác thân họ tan nát cho sự ra đi nhuốm màu máu anh hùng nhất, đáng kính nhất của QLVNCH.

Theo: Cỏ May


Bạn cũng nên đọc thêm các danh mục: Người & Việc 

 Nghiên Cứu Lịch Sử VN Cận Đại