|
V́ sao có
Quốc Hận? Friday, April 27, 2007 |
|
Ngô Nhân
Dụng
Thế hệ trẻ người
Việt, dù bây giờ dưới tuổi 40 cũng biết chắc chắn một điều là sau ngày
ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đời sống của người dân miền Nam đă suy sụp về
mọi mặt. Người dân miền Nam được nếm mùi ăn bo bo, sống trong chế độ
công an, hộ khẩu, họp hành triền miên, nghe radio ra rả đêm ngày, không
khác ǵ cảnh đồng bào miền Bắc đă chịu đựng từ năm 1954. Sau ngày đó,
con cái nhiều gia đ́nh thất học, nhà cửa bị chiếm đoạt, người bị đẩy lên
rừng làm “kinh tế mới,” vân vân. Mất tự do, bị chèn ép, nhiều người đă
vượt biển và đă chết. V́ thế người dân miền Nam gọi 30 Tháng Tư là “Ngày
quốc hận,” ngày cả nước cùng đau đớn. Tên gọi đó đă thành quen và đi vào
lịch sử.
C̣n một ngày quốc
hận đáng nhớ khác là ngày 20 Tháng Bảy năm 1954, kư hiệp định Genève
chia đôi đất nước. Đó là một ngày quốc hận đau thương hơn nữa. Chính
việc phân chia đất nước là nguyên nhân gây cảnh người Việt Nam giết nhau
suốt 15 năm trời, cho đến năm 1975.
Cuộc chiến tranh
chấm dứt ngày 30 Tháng Tư có thể mở một cơ hội mới cho dân tộc, v́ cảnh
máu đổ đă chấm dứt. Nhưng đă biến thành một ngày tang thương; v́ phe
thua trận là những người vẫn tin tưởng ở tự do, dân chủ, và lựa chọn
kinh tế thị trường. Những người phía bên kia, đảng Cộng Sản chọn chế độ
chuyên chính độc tài và kinh tế tập trung chỉ huy, họ đă thắng trận.
Nguồn gốc việc phân
chia “quốc, cộng” đă được gieo từ thập niên 1920-1930. Lúc đó nhiều
thanh niên yêu nước đi t́m đường giải phóng dân tộc, trong số đó có một
số người tin theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhiều người khác th́ không. Chúng
ta cần nh́n lại lịch sử thời gian trước đó để nh́n rơ toàn cảnh.
Lúc Hồ Chí Minh
thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (sau bị ông Stalin bắt đổi tên là đảng
Cộng Sản Đông Dương, và buộc phải trao quyền lănh đạo cho Trần Phú), các
nhà cách mạng Việt Nam ngoài đảng Cộng Sản đều muốn nước nhà sau khi độc
lập sẽ theo một chế độ dân chủ, tự do giống như ở Trung Hoa đang xây
dựng. Nhưng ông Hồ Chí Minh và các cán bộ cộng sản có sẵn một chủ trương
khác, đă hấp thụ từ các trường của Stalin. Họ muốn là sau khi đuổi người
Pháp đi th́ sẽ thiết lập ở nước ta một chế độ chuyên chính theo phong
trào Đệ Tam Quốc Tế. Và nước Việt Nam sẽ là một phần của mặt trận vô sản
toàn thế giới chống lại chủ nghĩa tư bản trên thế giới. Khái niệm về
quốc gia, về tổ quốc đối với họ là các tư tưởng lạc hậu.
Chúng ta có thể thấy
rơ ư định của ông Hồ Chí Minh, như ông viết rất rơ rệt trong báo Thanh
Niên mà ông xuất bản ở Quảng Châu năm 1925. Ngày 18 Tháng Mười năm 1925
báo này in trên tiêu đề khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới, hăy đoàn kết
lại!” Câu này trích từ Tuyên Ngôn Cộng Sản. Tham vọng của Hồ Chí Minh và
các đảng viên cộng sản là vượt lên trên chủ nghĩa quốc gia, dân tộc hẹp
ḥi. Ngày 20 Tháng Mười Hai năm 1926 ông Hồ viết: “Cái danh từ tổ quốc
là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân... để buộc những người
vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai
cấp tư sản. Thực ra, chẳng có tổ quốc, cũng chẳng có biên giới.” Không
ai có thể phủ nhận ư định rơ rệt của ông Hồ Chí Minh: Lồng vào cuộc vận
động giành độc lập của dân tộc Việt Nam một mục tiêu khác: Đấu tranh
giai cấp. Đó là một khẩu hiệu hoàn toàn xa lạ đối với đa số người Việt
Nam yêu nước thời đó. Nhưng ông Hồ đă được huấn luyện ở Mát Cơ Va, ông
lănh lương của guồng máy Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế và được họ hỗ trợ để
thi hành chính sách bành trướng của Đệ Tam Quốc Tế.
Đảng Cộng Sản Việt
Nam bây giờ thường cố mô tả Hồ Chí Minh như một người yêu nước nhiều hơn
là người cộng sản thật. Có thể điều đó đúng, nhưng không ai biết sự thật
ra sao. Nhưng biện hộ cho ông Hồ như vậy không khác ǵ tố cáo những bài
báo ông viết trên tờ Thanh Niên kể trên là những lời lường gạt! Và chúng
ta sẽ thấy, cho đến trước khi chết, ông Hồ vẫn hănh diện làm một người
cộng sản. Năm 1960 Hồ Chí Minh viết, “Đảng ta luôn luôn đứng vững trên
lập trường của giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của
giai cấp và của nhân dân... đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản
ḥng tranh quyền lănh đạo cách mạng với đảng ta...” (cuốn V́ Độc Lập Tự
Do, V́ Chủ Nghĩa Xă Hội, in năm 1970, trang 219). Trong một bài phỏng
vấn nhân 100 năm sinh nhật Lenin, (nói chuyện vào Tháng Bảy năm 1969,
đăng trên báo Nhân Dân ngày 5 Tháng Ba năm 1970) Hồ Chí Minh nói rằng
chủ nghĩa Lê Nin là một “cẩm nang thần kỳ” khi gặp khó khăn cứ mở ra rồi
theo đó mà giải quyết. Ông nói “...giai cấp công nhân và Đảng của nó
(sic) phải lănh đạo cuộc cách mạng.”
Đảng Cộng Sản cũng
hay nhắc đến chủ trương “đoàn kết” và “dân chủ” của ông Hồ khi viết
chương tŕnh vắn tắt đầu tiên của đảng Cộng Sản. Nhưng đó chỉ là một
trong nhiều lần ông Hồ Chí Minh đă thay đổi phương pháp tranh đấu. Có
lúc ông nêu ra chủ trương đoàn kết các giai cấp, các thành phần dân tộc
để chống các đế quốc. Những thay đổi đó đều theo đúng chỉ thị của Stalin
xuyên qua văn pḥng Quốc Tế Thứ Ba. Ông Hồ luôn luôn chấp hành các chỉ
thị như vậy. Lư do không những v́ ông là một cán bộ cộng sản gương mẫu
luôn luôn theo lệnh cấp trên, mà c̣n v́ các hoạt động và đời sống của
ông hoàn toàn tùy thuộc tiền trợ cấp của Đệ Tam Quốc Tế.
Trước khi đảng Cộng
Sản Việt Nam ra đời, Hồ Chí Minh sống ở Thái Lan có lúc mất liên lạc với
Đệ Tam Quốc Tế, nên ông không nhận được các chỉ thị mới. Thời gian năm
1929 chính sách của Stalin là đấu tranh giai cấp một cách cực đoan mà Hồ
Chí Minh không hay. Cho nên lúc đó ông c̣n giữ chủ trương đi qua thể chế
dân chủ kiểu tư sản trước khi làm cách mạng cộng sản. Nhưng các cán bộ
cộng sản khác ở Việt Nam th́ họ biết. Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nêu
khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” chính là thi hành
chỉ thị đấu tranh giai cấp cực đoan của Stalin, mặc dù sau đó phong trào
này bị chỉ trích v́ hành động nông nổi. Khi ông Hồ trở lại Mát Cơ Va đầu
thập niên 1930 ông đă bị đưa ra xét xử, có thể bị tử h́nh v́ đă làm sai
chính sách của Stalin, nhưng ông được người đỡ đầu cứu thoát chết. Bài
học này, và thời gian sống ở Nga trong lúc Stalin thủ tiêu các lănh tụ
khác trong trung ương đảng Cộng Sản Liên Xô, khiến Hồ Chí Minh vừa tập
được tính trung thành tuyệt đối với Stalin, lại học được kinh nghiệm
phải giết những “đồng chí” có khả năng đối lập với ḿnh trước khi đánh
nhau với bên địch.
Năm 1935, Đệ Tam
Quốc Tế lại đưa ra chính sách mới, chủ trương lập những mặt trận đoàn
kết với các đảng chính trị và các giai cấp khác để chống các đảng phát
xít. Lư do v́ Stalin đang lo nước Nga có thể bị phe phát xít tấn công.
Hồ Chí Minh cũng tuân theo chủ trương đó và bớt hô hào đấu tranh giai
cấp. Trong thời gian trước Đại Chiến Thứ Hai, Stalin đă báo động các đế
quốc đang chuẩn bị tấn công Liên Xô. Ông ra lệnh tất cả các đảng cộng
sản trên thế giới có nhiệm vụ phải bảo vệ Liên Xô. Sau đó là thời gian
Hồ Chí Minh t́m cách cộng tác với quân Mỹ ở Trung Quốc.
Sự ra đời của một
đảng Cộng Sản đă đặt cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam một
vấn đề mới: Lựa chọn giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa quốc tế. Và
ông Hồ Chí Minh đă chọn đường lối quốc tế. Và đó là lúc mầm mống chia rẽ
dân tộc, đưa tới những “ngày quốc hận” đă bắt đầu được gieo hạt.
Nhưng lư thuyết đấu
tranh giai cấp, cách mạng vô sản toàn thế giới, xóa bỏ tổ quốc, vượt
trên dân tộc, có thích hợp với người Việt Nam vào thời gian đó hay
không? Cho tới bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam
vẫn tiếp tục tuyên truyền rằng việc ra đời của đảng Cộng Sản năm 1930 là
do nhu cầu đấu tranh của giai cấp lao động Việt Nam, và Hồ Chí Minh đă
khôn ngoan ghép cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc với cuộc cách mạng
quốc tế vô sản. Nhưng sự thật th́ ư tưởng cách mạng vô sản hoàn
toàn xa lạ đối với người Việt lúc đó; sự thành công của đảng Cộng Sản ở
nước ta hoàn toàn là do họ có thủ đoạn cướp lấy việc lănh đạo cuộc kháng
chiến chống Pháp. Họ lợi dụng ḷng yêu nước của người Việt Nam để củng
cố quyền hành của đảng.
Tiêu biểu cho những
người yêu nước trong những thập niên 1920-1930 là Phan Bội Châu. Cụ Phan
nghĩ ǵ về chủ trương giai cấp đấu tranh của đảng Cộng Sản?
Nhiều người viết
lịch sử theo Cộng Sản thường nói Phan Bội Châu cũng có khuynh hướng cộng
sản. Sự thực là cụ Phan đă tỏ ḷng kính trọng Lê nin v́ coi ông là một
người cách mạng, nhưng cụ không hề tin vào chủ nghĩa Mác Lê nin. Kinh
nghiệm của cụ khi tiếp xúc với đại diện của chính phủ Liên Xô ở Trung
Quốc khiến cụ chống lại họ. Khi Phan Bội Châu ngỏ ư muốn gửi các thanh
niên Việt Nam sang học ở Nga như cụ đă từng làm với Nhật Bản gần 20 năm
trước, đại diện của Nga đă nói họ sẵn sàng giúp. Các du học sinh sẽ được
trợ cấp để sống và được học miễn phí. Nhưng họ đặt ra những điều kiện là
người đi học phải tuyên thệ trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản, khi về
nước phải truyền bá chủ nghĩa này, phải báo cáo các tin tức về cho Đệ
Tam Quốc Tế, và phải lập ra đảng Cộng Sản để thi hành đường lối Đệ Tam
Quốc Tế. Thực chất, Stalin chỉ muốn có những đạo quân gián điệp và
khuynh đảo theo lệnh của ông ta. V́ thế Phan Bội Châu đă chấm dứt không
liên lạc với đại diện của chính phủ Nga nữa. Cụ thấy chủ nghĩa Cộng Sản
hoàn toàn trái ngược với chủ trương dân tộc của Việt Nam Quốc Dân Đảng
mà cụ đă thành lập.
Năm 1938, phóng viên
Maurice Detour báo L' Effort phỏng vấn Phan Bội Châu ở Huế, bài này được
dịch đăng trên báo Tràng An, ngày 7 Tháng Mười, 1938. Detour tỏ ư phê
b́nh ư kiến của cụ Phan là trái với phong trào Giai Cấp Đấu Tranh trên
thế giới. Theo báo Tràng An, cụ Phan tỏ vẻ giận lắm, cụ nói: “Hô hào
giai cấp tranh đấu ở xứ này là một việc cực ngu! Những người thức thời
không bao giờ làm như thế.”
Những ư kiến của cụ
Phan đă được suy nghĩ kỹ từ trước. Cụ hỏi: “Thế nào là tư bản? Một người
có 5, 10 mẫu ruộng, một anh chủ tiệm may mà gọi là tư bản ư?... Đă có
người An Nam nào đáng gọi là một nhà tư bản hay chưa? Tôi đă nói ở nước
này chưa có sự phân biệt rơ ràng hai giai cấp tư bản và lao động...”
Vào năm 1938, cụ
Phan Bội Châu đă nh́n trước thấy một cuộc chiến tranh thế giới sẽ bùng
nổ. Cụ biết đó là một cơ hội để dân tộc Việt Nam giành độc lập, với điều
kiện người Việt Nam phải đoàn kết với nhau. Đó là một lư do khiến Phan
Bội Châu nổi giận khi người ta nói đến Giai Cấp Đấu Tranh. Cụ nói trong
cuộc phỏng vấn trên: “Đă không chung sức... lần hồi thu phục lại những
quyền đă mất, để gầy dựng lại nền tảng quốc gia mà c̣n đi kiếm cách
tương tàn tương phấn, làm giảm mất lực lượng tranh đấu, thật là một điều
thất sách!” Không những coi đó là điều thất sách, Phan Bội Châu c̣n thấy
đó là một chính sách phá hoại: “Tóm lại, người ta lợi dụng phong trào xă
hội để chia rẽ lực lượng trong nước, để phá hủy sự đoàn kết, và để làm
tiêu diệt tinh thần quốc gia của dân ta.” Ngô Nhân Dụng |